PDA

View Full Version : Truyện ngắn bạn tâm đắc.



ThichNuDiuHien
28-11-2005, 08:15
TRUYỆN NGẮN HAY
Các bạn hãy gửi vào Thread này những truyện ngắn mà bạn tâm đắc nhất, TNDH xin mở đầu bằng một truyện đã đăng từ năm 1986.

CON THỎ.
Bố 40, John lên 8 và con thỏ thì lại còn trẻ hơn nữa. John mang con thỏ ở trong một cái mũ lưỡi trai của nó chạy về với Bố vẻ vui mừng và thở hổn hển kêu lên:
- Bố xem này.
Ông bố đặt tờ báo xuống và ngắm nghía con thỏ. Nó mũi tẹt, hếch và trông cũng tinh khôn. Ngoài ra ông bố cũng khuyến khích đứa con về cái tính yêu thích loài vật.
Chính bản thân ông ta cũng là một người yêu súc vật.
- Con thỏ mới đẹp làm sao chứ ! Ông bố nói vậy:
- Con bắt được nó ở đâu đấy ?
John nói:
- Một bạn ở sân trong cho con. Con đổi một cái vé đấy bố ạ !
- Vé nào ?
- À, cái vé xổ số.
John vừa nói vừa đặt con thỏ xuống sân :
- Bố ơi, chúng ta cho nó một ít sữa nhé.
- Sữa, sữa cái gì ?
Ông bố nói một cách cáu kỉnh và kéo John lại ngồi ở cái ghế gần ông.
- Làm sao con lại đổi cái vé số ấy được ? Nếu cái vé ấy trúng xổ số thì sao ?
- Vâng vé trúng đấy mà.
John nói nhưng mắt không rời con thỏ.
Ông bố thều thào, trên mũi lấm tấm những giọt mồ hôi.
- Vé trúng cái gì ?
John mỉm cười trả lời:
- Một cái quạt máy.
Ông bố giật mình, lạ lùng:
- Một cái quạt máy ! Làm sao con biết được ?
John trả lời với một giọng tự tin:
- Đơn giản thôi bố ạ, con đối chiếu ở trong báo mà lại. Con đối chiếu được, chính bố cũng thường bảo con đã lớn rồi còn gì.
- Ừ thì lớn, hừm…
Ông bố rít lên đến nỗi con thỏ đã dấu mình dưới cái ghế cũng bắt đầu sợ hãi và cuộn lại như quả bóng.
- Lớn rồi à ? Lại đem đổi một cái quạt máy lấy con thỏ ?
John nói vẻ hơi sợ sệt:
- Nhưng con nghĩ, chúng ta đã có quạt máy rồi…nhưng lại chưa có thỏ…
- Thằng bé ấy là thằng nào ? Nó ở đâu ?
John lắp bắp:
- Ở nhà bên cạnh.
và bắt đầu sụt sịt:
- Tên nó là Bill.
Ông bố gắt lên:
- Đi theo tao.
rồi túm lấy con thỏ trong tay:
- Đi ngay lập tức.
John nói:
- Con không, con không…
và khóc toáng lên:
- Con không muốn lấy quạt máy, con thích con thỏ cơ…!
- Chúng ta phải lấy lại cái vé số ấy, bố sẽ mua cho con 100 con thỏ…
- Không, không…
John càng khóc nức nở hơn:
- Bố sẽ không…thằng Bill nó cũng không muốn đổi như thế, con phải mất nhiều thì giờ nói với nó để nó đổi cho…

Bill lên 6. Nó đứng ở giữa sân trông dáng lấm lét nhìn ông bố kinh khủng kia, một tay kéo John đi xềnh xệch và một tay thì túm con thỏ.
Ông bố quát lên:
- Nó đâu ? Cái vé xổ số đâu rồi ? Mày mang cái của nợ này của mày về, và trả lại vé số đây !
Bill trả lời:
- Cháu không có vé !
Ông bố quát:
- Thế vé đâu rồi ? Mày làm gì cái vé ấy rồi, thằng nhóc lừa đảo này ? Bán rồi hử ? Thật thế không ?
Bill nói lí nhí:
- Cháu…cháu lấy cái vé để gấp con chim bồ câu rồi.
- Thế thì con chim bồ câu ấy đâu ? Để nó ở đâu ?
- Nó bị mắc ở gờ tường đàng kia kìa.
Bill lẩm bẩm và chỉ về phía trước.

Ông bố cởi áo choàng ngoài ra và bắt đầu leo lên ống máng của căn nhà. Bọn trẻ con đứng dưới mê mải theo dõi. Hai lần ông bố suýt trượt, nhưng cuối cùng cũng tới được gờ tường và nhặt được con chim bồ câu vàng xinh xắn bằng giấy.
Khi ông vừa xuống đến đất hãy còn thở hổn hển, đã vội giở cái vé ra và thấy ngay là cái vé đã cũ hai năm về trước. Ông hỏi John:
- Con mua vé từ bao giờ ?
John trả lời :
- Con nhặt ở ngoài đường lâu lắm rồi.
- Thế con so số bao giờ ?
- Hôm qua.
- Nhưng đây là kỳ …xổ số hoàn toàn… khác cơ mà ?
Ông bố nói bằng một giọng đứt hơi, nói rồi đi ra phía xa và buông mình ngồi xuống một chiếc ghế dài.

http://img106.imageshack.us/img106/1773/conthoddth6rd.jpg

- Bố này.
John thanh thản nói khi nó tới gần chỗ bố:
- Đừng buồn bố ạ. Bill nói rằng dù sao đi nữa nó vẫn để cho ta con thỏ…
- Cảm ơn. Ông bố nói: cám ơn con Bill…
Ông đứng dậy và đi vào trong nhà. Chợt ông thấy lòng mình trống trải. Ông hiểu rằng đối với ông cái thời sung sướng nhất khi người ta dễ dàng đổi một cái quạt máy lấy một con thỏ đã vĩnh viễn, vĩnh viễn qua rồi, không bao giờ trở lại nữa.
(Đêm mưa cuối mùa - nhớ về Duyên Hải)
:wub:

DONNA_DONNA
28-11-2005, 18:54
Ông đứng dậy và đi vào trong nhà. Chợt ông thấy lòng mình trống trải. Ông hiểu rằng đối với ông cái thời sung sướng nhất khi người ta dễ dàng đổi một cái quạt máy lấy một con thỏ đã vĩnh viễn, vĩnh viễn qua rồi, không bao giờ trở lại nữa.

Cuộc sống vẫn cứ tiếp tục trôi, con người ta phải đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách. Ngây thơ, hồn nhiên, trong sáng, nhìn đời đâu đâu cũng toàn màu hồng, có còn giữ nổi không, khi chỉ mình ta đối diện với ta. Tự hỏi rằng tình yêu là chi, cảm xúc là chi khi gánh nặng tiền bạc là nỗi lo thường trực hằng ngày.

Để có thể hiểu được : "Sống trên đời sống cần có 1 tấm lòng, để làm gì em biết không em. Để gió cuốn đi...." đến một nơi xa xăm và gieo mầm nó tại 1 nơi nào đó thật khó lắm thay ! :)

Không lấy vợ vẫn là tốt nhất phải không sư phụ ! :lick:

P/s : Sao em thấy topic này giống Cafê chiều thứ 7 trên báo HHT và topic Đọc và suy ngẫm thế :lick:

ThichNuDiuHien
29-11-2005, 07:58
Không lấy vợ vẫn là tốt nhất phải không sư phụ !
Lấy đi em, nên, nên và nên lấy để biết và thấm thía rằng: Không lấy càng...tốt hơn :lick:

ips
29-11-2005, 11:26
Truyện này đọc lâu rồi, hình như từ năm 1976, không nhớ tựa cũng như tác giả, có thể là của O'Henry, tóm lược nhé:
QUÀ GIÁNG SINH
Họ là cặp vợ chồng trẻ, rất thương yêu nhau, nhưng sống rất cơ cực, cả hai đều là công nhân nghèo, cuộc sống thiếu thốn mọi bề.
Cô vợ có mái tóc dài rất đẹp, anh thường vuốt tóc nàng và thầm nghĩ trong lòng "Ước gì ta có thể mua tặng nàng một chiếc kẹp tóc thật xinh nhân mùa Giáng sinh này"
Chàng có duy nhất một chiếc áo sơ mi trắng để đi chơi lễ, nhưng lại thiếu cặp khuy măng xét, nhìn áo chồng, nàng ao ước có tiền sẽ mua cho chàng cặp khuy nhân dịp lễ Noel.
Nhưng mùa đông khắc nghiệt ấy, hai vợ chồng bị đuổi việc, nhưng vẫn giấu nhau, hàng ngày chàng vẫn xách gà mên cơm đi làm, vợ vẫn đến xưởng. Và ngày Noel đến. Đêm Noel đó, khi đi làm ( nói là thế nhưng có việc đâu mà làm ) về, nàng vừa tắm xong, đầu còn quàng khăn tắm, chạy vội ra khi thấy chồng về mừng rở, tay nàng cầm món quà, tay chàng giữ chặt món quà giáng sinh, cả hai hôn nhau cảm động.
Khi mở món quà của chàng, đó là một chiếc kẹp tóc rất đẹp, mắt nàng chợt buồn, xao động và khi khui món quà của nàng thì đó là cặp khuy măng xét bằng vàng mạ rất đẹp, mặt chàng chợt tái hẳn.
Nàng từ từ xỏa khăn quàng trên đầu thì hởi ôi, tóc nàng đã cắt ngắn, hóa ra vì thương chồng nên nàng đã hy sinh máy tóc đẹp của mình, bán đi để có tiền mua quà cho chàng.
Còn chàng thì đã bán đi chiếc áo đẹp nhất của mình để mua tặng nàng chiếc kẹp tóc mà giờ đây không còn tóc để kẹp và cả áo để cài khuy. Hai vợ chồng ôm nhau và khóc trong niềm hạnh phúc trong đêm giáng sinh đó

Truyện này thì đọc trên báo Tuổi trẻ, lâu lắm rồi, có khi hai ba mươi năm về trước.
ĐÔI MẮT.
Anh là một người tốt bụng nhưng trời sinh có gương mặt xấu xí, khó coi. Tuy đã ngoài ba mươi nhưng không ai dám lấy, thế là từ đó anh đâm ra tự ti, ít nói và ít giao tiếp.
Nàng là cô gái mồ côi, bị mù trong một tai nạn xe cộ. Nàng rất đẹp nhưng cuộc sống cơ cực, phải đi bán vé số để kiếm sống, tối về ngủ trong căn nhà mướn ọp ẹp.
Hai người gặp nhau tình cờ khi cô nàng đến nhà anh bán vé số vào một đêm mưa tầm tả. Tôi nghiệp anh mời nàng vào nhà trú mưa, lần đầu tiên anh say sưa nói về mình về cuộc sông và nàng cũng lần đầu tiên nghe được giọng nói ngọt ngào ấm áp của anh. Thế rồi hàng ngày nàng lại đến nhà anh để được nghe anh nói và chàng cũng rất thích được nhìn gương mặt khả ái của nàng. Thế rồi họ yêu nhau hồi nào không biết, và một đám cưới nho nhỏ diễn ra, họ thành vợ thành chồng
Từ khi có nàng cuộc sống anh vỗng thay đổi hẳn, anh nói cười ríu rít, năng hoạt động và nàng cũng yêu đời hẳn ra vì được anh chăm sóc
Thế rồi họ có môt đứa con trai kháu khỉnh, mang vẻ đẹp khả ái của nàng và sự tốt bụng của anh ta.
Trong lần nàng đi sinh đó, sau khi khám cho nàng vị bác sĩ đã xem con mắt nàng và bảo hai vợ chồng, mắt nàng có thể cứu khỏi nếu có một người nào đó chjiu hiến giác mạc cho nàng, và khuyên hai vợ chồng về nhà đợi, khi nào có giác mạc sẽ làm phẩu thuật cho nàng
Một tia hy vọng thắp lên trong lòng người vợ, nàng ao ước đến cái ngày sáng mắt sẽ được nhìn được gương mặt thân yêu của chồng, nàng nghĩ, chắc có lẻ anh rất đẹp trai nên mới tốt bụng đến thế !
Trong khi đó người chồng lại mang những tư tưởng trái ngược hẳn nhau, một mặt muốn nàng được sáng mắt để nàng đở cực khổ trong việc nhà và chăm sóc cho con, mặt khác chàng buồn vì nếu nàng nhìn thấy gương mặt xấu xí của mình thì ... liệu nàng còn thương mình như hiện nay không?
Thời gian thắm thoát trôi, một năm sau, vị bác sĩ ấy đã gọi chàng đến và báo có một tai nạn giao thông và một cô gái trẻ trước khi qua đời đã đồng ý hiến giác mạc cho bệnh viện và ông ta muốn chàng ngày mai đưa vợ đến làm phẩu thuật, nếu để qua 3 ngày sau thì không ghép được nữa vì giác mạic không thể để lâu.
Cả ngày hôm đó anh như mất hồn, anh đấu tranh tư tửng rất dữ dội, nếu lỡ nàng sáng mắt .. ôi cả trăm lần anh đều không tin tưởng mình và rồi anh đã chần chừ, không dám nói lại sự việc trên cho nàng.
Thế rồi chàng đã thất hẹn, hôm sau chàng lấy cớ công việc cơ quan bận rộn nên đã không đưa nàng đi.
Một ngày trôi qua, rồi ngày thứ hai lại trôi qua, mỗi lần nhìn vợ và biết nàng đang nuôi hy vọng được sáng mắt, chàng lại thấy cái cảm giác tội lỗi với nàng, đêm ấy trời mưa to, chàng không sao ngũ được, cái cảm giác ân hận thúc dục chàng phải cương quyết vì mai là thời hạn cuối. Cuối cùng cái thiện đã thắng và chàng nhất quyết mai sẽ đưa nàng đi phẩu thuật, nhất định là thế rồi sau ra sao thi ra.
Nữa đêm, chợt nghe tiếng con khóc, nàng vội bật dậy, chạy sang phòng con ... thì hỡi ôi, do đêm mưa to, nhà dột nên chàng đã để cái thau hứng nước mưa mà nàng chẳng hay, thế là do vội vả nàng đã trượt thau nứoc và té đập đầu vào cái cạnh bàn... bất tỉnh.
Chàng do suy nghĩ nhiều nên ngũ say, không hay biết gì cả.
Sáng ra, nàng đã không còn nữa rồi. Nàng đã ra đi mang theo niềm ao ước mong manh là được thấy được mặt chồng con, dù là chỉ một lần thôi.

ivyinlove
08-12-2005, 14:18
Truyện này không ngắn nhưng mình thấy cũng hay, post lên để các bạn cùng đọc.


Anh mở cửa rồi nhìn sang phòng khách, không thấy chị ở đó. Anh mỉm cười, đi vào bếp, quả nhiên chị đang đảo cơm trong nồi. Anh ngửi thấy mùi cơm thơm, rất thơm. Điều lạ là ở nơi khác, hầu như anh chưa ngửi thấy mùi cơm thơm như thế bao giờ.

Anh rửa tay, ngồi vào bàn ăn. Chị bưng lên hai đĩa nhỏ có hoa xanh, một đĩa đựng mười mấy con ốc hạt mít, một đĩa đựng rau non mỡ, trong trong. Cuối cùng chị bưng lên một âu sành nhỏ, đây mới chính là món anh mong chờ nhất. Lập tức anh mở nắp âu ra xem, trong đó có trắng, có xanh, có đỏ, trông thật vui mắt.

Anh tự múc trong âu ra nửa bát canh. Nước canh trong, không có váng mỡ, xanh là rau cải, trắng là đậu phụ, lại còn dăm ba hạt câu kỷ đỏ. Mùi vị canh tuyệt hảo, bảo chay tịnh thì lại rất đậm đà, bảo đậm đà thì lại rất thanh đạm, bảo thanh đạm thì lại rất ngọt ngào. Bát canh chẳng khác gì có đoá phù dung nổi trên mặt nước trong, đầy vẻ thiên nhiên. Chỉ húp một ngụm thôi đã thấy các giác quan bị tê liệt cả một ngày bỗng dưng thức tỉnh, vẻ mặt anh cũng biến đổi theo. Dường như vỏ bọc mỏng trên mặt đã bị vỡ tan, tất cả các thớ thịt, tất cả các nếp nhăn đều duỗi ra... thật là một món canh ngon tuyệt! Nó khác hẳn các bữa tiệc anh phải thù tiếp - tiệc công việc. Loại tiệc như thế không bao giờ có cơm. Lúc nào cũng quá nhiều chất béo, quá nhiều vị nồng cay làm cháy cả cổ, lưỡi hầu như tê dại.

Anh húp liền hai bát canh rồi mới ăn cơm, cứ một con ốc hạt mít lại một gắp rau, một đằng béo, một đằng giòn, đều là những món trôi cơm. Bát cơm hết veo lúc nào cũng chẳng hay, nhưng anh không xới thêm mà chỉ nhấm nháp một lưng canh nữa, sau đó anh đặt bát xuống, mỉm cười với chị:

- Em nấu sao được món canh này? Ai cũng bảo tiệm ông Vương Già có món canh ngon, nhưng theo anh thì canh ở tiệm ấy cũng không ngon bằng canh nhà nấu.

- Nói ra thì... Kỳ thực rất đơn giản, nhưng phải có lòng kiên trì.

Sau này nhiều lần anh thấy luyến tiếc cuộc sống lúc đó. Cuộc sống thật yên bình. Cảm giác thật tuyệt khi ngồi vào bàn ăn đợi vợ bưng chiếc âu sành lên, màu sắc đẹp mắt khi mở nắp âu ra.

Anh đã kết hôn mười bảy mười tám năm rồi. Vợ anh là bạn thời học đại học, là mối tình đầu. Ra trường hai năm, họ làm lễ cưới và chẳng bao lâu đã có con. Thằng bé chẳng những học vào loại ưu mà còn rất xinh trai, bởi vì chị là hoa khôi của trường, chẳng cần trang điểm cũng đáng yêu. Vì thế nên anh không dễ bị sắc đẹp đàn bà làm kinh động. Vả chăng anh cũng biết sắc đẹp của phụ nữ bây giờ phần lớn nhờ vào mỹ phẩm.

Nhưng sự xuất hiện của Đô Đô là một việc hoàn toàn bất ngờ. Lúc đầu anh thấy đó chỉ là cô bé còn chưa trút bỏ được vẻ ấu trĩ, như một bình hoa thuỷ tinh, đẹp và trong suốt, chỉ để ngắm chứ không dùng được bao lâu. Tới khi nhận ra ý đồ của cô bé, anh còn cảm thấy buồn cười. Nếu không phải là nhân viên của anh, cô bé đáng gọi anh bằng chú. Đương nhiên anh cũng thầm lấy làm thích thú. Cô bé chẳng những xinh đẹp mà gia đình cũng không xoàng. Cha là luật sư nổi danh, mẹ là bác sĩ nổi tiếng, gia đình vốn định cho cô sang Đại học Cambridge du học. Một cô bé như thế mà gần gũi đàn ông thì...

Lúc đầu anh thật sự không hề để ý vì cho rằng Đô Đô chỉ bốc đồng nhất thời, hơn nữa anh không thể phá hoại gia đình của mình. Nhiều năm nay, vợ anh xin nghỉ công việc dạy học ở một trường trung học mà chị đang làm rất tốt, chuyên tâm ở nhà giúp chồng, dạy con. Một phụ nữ ngoài bốn chục tuổi, không có sự nghiệp, cũng không có bạn bè, chị sẽ sống sao đây? Huống hồ rất nhiều đàn ông bây giờ sau khi thành đạt đều tìm thú vui mới, bỏ mặc người vợ kết tóc xe tơ. Anh không muốn mình cũng là hạng đàn ông tầm thường. Nhưng con gái thời nay chỉ thích làm theo ý mình. Các cô muốn gì là vừa khóc vừa gào đòi chết. Bình hoa thuỷ tinh Đô Đô vì yêu anh vô vọng nên đặt mình trên vách đá thẳng đứng. Cuối cùng anh đành phải giơ tay đỡ lấy cô ta.

Anh không về nhà ăn cơm nữa. Sau đó cả đến tối cũng không về. Anh bảo anh quá bận, sau đó lại nói anh muốn ở một mình cho yên tĩnh. Chị im lặng hồi lâu. Cuối cùng chị bảo:

- Thôi thế này vậy, khi nào anh muốn về thì gọi điện.

* * *
Anh không thích thuê nhà, bảo phải mua một căn hộ trang bị đầy đủ, đồng bộ, từ đồ đạc đến đồ điện. Đô Đô lại không thích, cô bảo kiểu nhà như thế không có phong cách. Cuối cùng cô đưa anh về ở nhà cô. Đô Đô một mình ở căn hộ hai phòng ở, một phòng khách do cha mẹ mua cho. Cô tự trang trí lấy, một phong cách gọn nhẹ, hiện đại nhưng lại là kiểu còn tốn tiền hơn cả bài trí hoa lệ.

Tình yêu mới, nhà ở mới, không khí mới, điên cuồng mới, cả anh cũng thấy mình như đổi mới. Mấy tháng trời qua đi như có cánh bay. Cũng có lúc cả hai thấy đói. Anh là nhân vật của một nửa công chúng, không thể đi ăn hàng ngày ở tiệm, Đô Đô đành phải gọi các tiệm mang đồ ăn tới nhà. Món ăn đưa đến không có canh, họ có lúc uống thay bằng trà Ô Long đóng hộp và thường xuyên hơn là uống Côca Côla.

Dần dần bữa ăn trở thành công việc khổ sai, bởi các món đưa đến trở nên khó nuốt, hơn nữa anh còn phải che giấu, bởi chỉ cần anh tỏ ra không vừa ý là Đô Đô nói ngay: "Em biết anh lại nhớ cuộc sống trước kia rồi chứ gì? Anh thấy hối thì cứ nói toẹt ra đi!".

Chẳng ngờ một hôm, vừa vào qua cửa, anh đã nhìn thấy khuôn mặt ửng hồng vì hưng phấn của Đô Đô. Đô Đô kéo anh vào bếp. Trong bếp là cảnh một siêu thị thu nhỏ sau cơn động đất. Mọi thứ đều rối loạn, cả đến mái tóc của Đô Đô cũng dính một thứ gì đó vàng vàng như mỡ. Tất bật một lúc lâu rồi Đô Đô cũng làm xong. Anh làm ra vẻ không do dự xúc món xúc xích viên sốt cà chua thêm mười mấy thứ gia vị khác nữa. Ăn xong, anh nói: "Từ nay không cần phải nhiêu khê đến thế. Người giỏi làm cơm thì cho dù chỉ có canh nước trong cải biếc, ăn vào đã thấy sướng!".

Dứt lời, anh lập tức nhận ra mình đã nói một câu không nên nói.

* * *

Khi tiếng chuông cửa vang lên, trong một giây, chị tưởng anh trở về, nhưng chị hiểu ngay là không phải. Chị mở cửa, một cô gái trẻ đứng ngay trước mặt chị, da trắng nõn nà. Chị thầm hỏi bằng ánh mắt, cô bé nói: "Em là Đô Đô, bạn của chồng chị!".

Chị hiểu ra ngay. Đô Đô muốn tìm một tình cảm nào đó biểu hiện trên nét mặt chị nhưng không hề có. Cô ấy đi vào đề:

- Hôm nay em đến đây, một là muốn thấy chị là người như thế nào, hai là muốn được chị cho ăn cơm chị nấu. Anh thường khen chị nấu món đơn giản nhất cũng thành được món ngon nhất nên em tò mò.

Chị dường như cảm thấy khó nghĩ, lát sau mới nói:

- Thế thì cô ăn tạm bữa cơm xoàng vậy.

Chị dọn ra một bát cơm, hai đĩa thức ăn nhỏ và một cái âu sành. Đô Đô mở âu sành, múc một bát canh, húp một ngụm rồi chẳng cần suy nghĩ đã reo "Oa!". Cô ngờ vực nhìn chị:

- Đây chính là món canh nước trong rau biếc hay sao?

- Anh ấy gọi như thế! - Chị đáp.

- Chị có thể cho em biết canh này nấu như thế nào không?

Chị dường như khẽ trút một tiếng thở dài, sau đó mới nói:

- Phải chuẩn bị nhiều thứ đấy. Sườn ngon, giămbông Kim Hoa, gà cỏ Tô Bắc, tôm tươi Thái Hồ, măng núi Mạc Can, sò tươi, nấm hương, đến mùa cua thì mua cua hồ Dương Trừng, chặt làm đôi, cho tất cả vào âu đun nhỏ lửa chừng ba bốn giờ. Nước một lần phải đổ cho đủ, không cho muối, bột nêm. Hầm xong, vớt tất cả bã ra, cả những vụn bã nhỏ cho nước thật trong. Lúc gần ăn mới thả đậu phụ, rau cải, những thứ này có thể hút hết váng mỡ.

Đô Đô hít vào một hơi dài. Đây chính là món canh được gọi là "nước trong rau biếc" sao? Lòng dạ người phụ nữ này mới sâu lắng làm sao! Còn người đàn ông kia nói mà chẳng hiểu gì hết. Hàng ngày được hưởng thụ món ngon như thế mà anh lại cho rằng đó là món đơn giản nhất, dễ làm nhất? Chính trong giây phút đó, Đô Đô sâu sắc hiểu ra người phụ nữ ấy. Cô cũng hiểu ra trên thế giới này, giữa tình yêu này và tình yêu kia khác xa nhau biết mấy!

Chị nhìn Đô Đô, cười khoan dung rồi hỏi:

- Cô có thể vì anh ấy mà nấu như vậy không?

Đô Đô ngoẹo đầu, nghiêm túc suy nghĩ rồi đáp:

- Em có thể làm như vậy, nhưng không cần nữa rồi.

* * *
Một tháng sau. Chiều muộn, như thường lệ chị ở trong bếp. Chuông cửa bỗng reo vang, chị mở cửa, bất ngờ lại là anh. Chị ngẩn ra, buột miệng hỏi:

- Sao thế? Quên không mang chìa khoá à?

Anh cảm thấy như trút được gánh nặng, xác định mình có thể rửa tay ngồi vào bàn ăn được rồi. Chị bưng lên một khay to. Chứ không mang thành nhiều lần như trước. Trên khay có hai bát cơm, hai đĩa nhỏ thức ăn và một cái âu sành. Đó là thứ anh nhớ nhung nhất. Không chờ được, anh mở nắp âu, múc ra lưng bát canh. Vẫn có xanh, đỏ, trắng, vẫn là màu nước trong vắt, không có váng mỡ. Anh hấp tấp hút một ngụm, chỉ một ngụm ấy là đã biến sắc mặt.

- Canh gì thế này? - Anh không dám nhổ ra.

Chị nếm một ngụm rồi nói:

- Nước trong rau biếc thì chỉ có thế này thôi.

Anh đặt thìa xuống xét nét nhìn chị. Chị không nhìn anh, thản nhiên ăn cơm. Anh không ăn, châm một điếu thuốc. Chị không hề nhìn anh lấy một cái. Ăn xong miếng cuối cùng, chị thu hết bát đĩa vào khay, sau đó mới nhìn thẳng vào anh nói:

- Nhà ta sau này có thể phải thuê một người giúp việc theo giờ. Em tìm được việc rồi mà việc nhà lại nhiều như vậy.

- Em đi làm? Làm gì? - Anh kinh ngạc hỏi.

- Anh quên rồi à? Em vốn là một cô giáo.

Ngụm canh khó nuốt vừa nãy dường như cuộn lên trong ruột, anh buột miệng hỏi:

- Việc lớn như thế sao không bàn với tôi? Em bây giờ sao thế? - Vừa hỏi xong, anh đã thấy hối. Người đuối lý là anh.

Nhưng chị không nói gì thêm, chỉ nhìn anh một cái. Cái nhìn ấy khiến anh bắt đầu nhận ra mình thật ngu xuẩn.


Phan Hướng Lê (Trung Quốc)
Phạm Tú Châu trích dịch (Tiểu thuyết tuyển chọn, số 2, năm 2004)

ivyinlove
08-12-2005, 14:21
Vào ngày cưới của tôi, tôi đã ôm vợ trên đôi tay của mình. Xe đưa dâu dừng tại trước tổ uyên ương của chúng tôi. Đám bạn thân của tôi nhất quyết bắt tôi phải đưa nàng ra khỏi xe trên đôi tay của mình. Do vậy, tôi đã bế nàng vào nhà. Lúc đó, nàng là một cô dâu tròn trĩnh và e thẹn, còn tôi là một chú rể rất sung sức và tràn trề hạnh phúc.

Nhưng đó là cảnh của mười năm trước. Những chuỗi ngày sau đó cũng giản dị như một cốc nước tinh khiết: chúng tôi có con, tôi bước vào thương trường và cố gắng kiếm thật nhiều tiền. Khi của cải trong gia đình chúng tôi mỗi lúc một nhiều hơn cũng là lúc tình cảm giữa hai chúng tôi suy giảm dần.

Vợ tôi là một công chức nhà nước. Mỗi sáng chúng tôi cùng ra khỏi nhà với nhau và hầu như về nhà cùng một lúc. Con chúng tôi thì học tại một trường nội trú. Cuộc sống hôn nhân của chúng tôi nhìn bề ngoài hạnh phúc đến nỗi nhiều người phải ganh tị. Nhưng thật ra cuộc sống yên ấm đó gần như bị xáo trộn bởi những đổi thay không ngờ...

Dew đã bước vào cuộc đời tôi.

Đó là một ngày đầy nắng. Tôi đứng trước một ban công rộng lớn. Dew ôm vòng sau lưng tôi. Con tim tôi, một lần nữa, lại đắm chìm trong dòng suối yêu đương cùng nàng. Đây là căn hộ tôi mua cho cô ấy.

Dew nói: "Anh là mẫu đàn ông có sức cuốn hút với đàn bà nhiều nhất". Câu nói của Dew đột nhiên nhắc tôi nhớ đến vợ mình. Hồi chúng tôi mới cưới, nàng nói: "Mẫu đàn ông như anh, khi thành đạt sẽ rất quyến rũ với phụ nữ". Nghĩ đến lời nói đó của vợ mình, tôi thoáng do dự. Tôi hiểu mình đang phản bội lại nàng. Nhưng tôi đã không thể cưỡng lại chính mình.

Kéo tay Dew sang một bên, tôi nói: "Em đi mua mấy món đồ nội thất nhé? Anh có vài việc phải làm ở công ty". Hiển nhiên là nàng thất vọng rồi bởi vì tôi đã hứa sẽ cùng đi với nàng. Ngay lúc ấy, ý nghĩ phải ly hôn xuất hiện trong tâm trí tôi mặc dù trước đây ly hôn là một điều tưởng chừng không thể.

Nhưng tôi nhận ra khó mà mở lời với vợ về chuyện này. Cho dù tôi có đề cập nó một cách nhẹ nhàng đến đâu chăng nữa, cô ấy chắc chắn sẽ bị tổn thương sâu sắc.

Công bằng mà nói, cô ấy là một người vợ tốt. Tối nào, cô ấy cũng bận rộn chuẩn bị bữa ăn tối, trong khi tôi ngồi phía trước màn ảnh TV. Bữa ăn tối thường xong sớm. Sau đó, chúng tôi cùng xem TV. Không thì, tôi lại thơ thẩn bên máy tính, mường tượng thân thể của Dew. Đó là cách tôi thư giãn.

Một ngày nọ, tôi nửa đùa nửa thật nói với vợ tôi, "Giả dụ chúng ta phải ly hôn, em sẽ làm gì?". Cô ấy nhìn chằm chặp tôi phải đến vài giây mà không nói lời nào. Hiển nhiên cô ấy tin rằng ly hôn là một cái gì rất xa vời với cô ấy. Tôi không hình dung được vợ tôi sẽ phản ứng thế nào một khi biết rằng tôi đang nói nghiêm túc về chuyện đó.

Lúc vợ tôi bước vào phòng làm việc của tôi ở công ty thì Dew cũng vừa bước ra. Hầu như tất cả nhân viên ở văn phòng tôi đều nhìn vợ tôi với ánh mắt ra chiều thông cảm và cố giấu giếm chút gì đó khi nói chuyện với nàng. Vợ tôi dường như có nghe phong phanh vài lời bóng gió. Cô ấy chỉ mỉm cười dịu dàng với đám nhân viên, nhưng tôi đọc được nỗi đau trong đôi mắt ấy.

Một lần nữa, Dew lại nói với tôi: "Ninh, anh ly dị cô ấy đi? Rồi chúng mình sẽ cùng chung sống với nhau". Tôi gật đầu. Tôi biết mình không thể chần chừ thêm được nữa.

Khi vợ tôi dọn ra bàn chiếc dĩa cuối cùng, tôi nắm lấy tay cô áy. "Anh có điều này muốn nói với em", tôi nói. Cô ấy ngồi xuống, lặng lẽ ăn.

Tôi lại nhìn thấy nỗi đau trong đôi mắt nàng. Đột nhiên, tôi không biết phải mở miệng như thế nào. Nhưng tôi phải nói cho cô ấy biết những gì tôi đang suy nghĩ thôi. "Anh muốn ly hôn". Cuối cùng thì tôi cũng đặt vấn đề hết sức nặng nề này một cách thật nhẹ nhàng.

Cô ấy tỏ ra không khó chịu lắm với lời tôi nói mà chỉ hỏi nhỏ "Tại sao?". "Anh nói thật đấy", tôi tránh trả lời câu hỏi của cô ấy. Cái gọi là câu trả lời của tôi đã khiến cô ta giận dữ. Cô ấy ném đôi đũa đi và hét vào mặt tôi "Anh không phải là đàn ông!".

Đêm đó, chúng tôi không nói chuyện với nhau. Cô ấy khóc lóc. Tôi hiểu cô ấy muốn biết chuyện gì đã xảy ra với cuộc hôn nhân của chúng tôi. Nhưng tôi khó đưa ra được câu trả lời thỏa đáng bởi vì trái tim tôi đã nghiêng về Dew.

Trong tâm trạng tội lỗi tột cùng, tôi thảo đơn ly hôn ghi rõ cô ấy sẽ sở hữu căn nhà, chiếc xe hơi và 30% cổ phần trong công ty tôi. Nhìn lướt qua tờ đơn, cô ấy xé nó ra từng mảnh. Tôi cảm thấy tim mình đau nhói. Người phụ nữ chung sống với tôi suốt mười năm nay bỗng trở nên xa lạ chỉ trong một ngày. Nhưng, tôi không thể rút lại những lời đã nói.

Cuối cùng, điều tôi mong đợi đã đến. Cô ấy òa khóc trước mặt tôi. Tiếng khóc của cô ấy thực sự là liều thuốc an thần cho tôi. Ý định ly hôn dằn vặt tôi suốt nhiều tuần qua giờ đây dường như càng trở nên rõ rệt và mạnh mẽ.

Trời khuya, tôi về nhà sau tiệc chiêu đãi khách hàng. Tôi nhìn thấy vợ tôi đang cắm cúi viết tại bàn làm việc. Tôi nhanh chóng chìm vào giấc ngủ. Nửa đêm, tỉnh giấc, tôi thấy cô ấy vẫn ngồi viết. Tôi trở mình và ngủ tiếp.

Vợ tôi đưa ra điều kiện ly hôn: Cô ấy không cần bất cứ thứ gì của tôi, nhưng tôi phải cho cô ấy thời gian một tháng trước khi chính thức ly hôn; và trong thời gian một tháng đó, chúng tôi phải sống với nhau một cuộc sống bình thường. Lý do chỉ đơn giản vì: tháng sau con trai của chúng tôi sẽ kết thúc kỳ nghỉ hè và cô ấy không muốn nó phải chứng kiến cuộc hôn nhân của chúng tôi đổ vỡ.

Cô ấy đưa cho tôi thư thỏa thuận cô ấy soạn sẵn và hỏi: "Anh còn nhớ em đã vào phòng cô dâu trong ngày cưới như thế nào không?"

Câu hỏi này chợt làm sống tại trong tôi tất cả những kỷ niệm tuyệt vời ngày ấy. Tôi gật đầu và nói: "Anh còn nhớ".

"Lúc đó, anh đã bế em trên đôi tay của anh", cô ấy tiếp tục, "do vậy, em có một yêu cầu là anh phải bế em ra vào ngày chúng ta ly hôn. Từ giờ đến hết tháng này, anh phải bế em từ giường ngủ đến cửa nhà mình vào mỗi sáng". Tôi mỉm cười đồng ý. Tôi biết cô ấy đang nhớ lại những chuỗi ngày ngọt ngào hạnh phúc và muốn cuộc hôn nhân của mình kết thúc lãng mạn.

Tôi kể cho Dew nghe về điều kiện ly hôn của vợ mình. Cô ấy cười to và cho rằng đó là một yêu cầu ngu xuẩn. "Cho dù cô ta có đưa ra mánh khóe gì chăng nữa, thì vẫn phải đối mặt với kết cục ly hôn mà thôi", cô ấy nói một cách khinh bỉ. Lời nói đó của Dew ít nhiều khiến tôi cảm thấy khó chịu.

Vợ tôi và tôi đã không đụng chạm gì về thể xác kể từ khi tôi có ý định ly hôn. Chúng tôi đối xử với nhau như hai người xa lạ. Vì vậy ngày đầu tiên tôi bế cô ấy, cả hai chúng tôi tỏ ra khá lóng ngóng, vụng về. Đứa con trai vỗ tay theo sau chúng tôi: "Cha đang ôm mẹ trên tay". Lời nói của con trẻ làm tim tôi đau nhói. Từ phòng ngủ đến phòng khách, sau đó mới đến cửa ra vào, tôi đã đi bộ trên mười mét với cô ấy trên tay. Cô ấy nhắm mắt và nói nhẹ nhàng, "Chúng ta sẽ bắt đầu từ hôm nay đừng nói gì cho con hay". Tôi gật đầu và cảm thấy chút gì đổ vỡ. Tôi đặt cô ấy xuống ở cửa ra vào. Cô ấy đứng đó chờ xe buýt, còn tôi lái xe đến công ty.

Vào ngày thứ hai, chúng tôi "diễn" dễ dàng hơn. Cô ấy dựa vào ngực tôi. Chúng tôi quá gần nhau đến nỗi tôi có thể ngửi được mùi hương từ áo khoác của nàng. Tôi nhận ra rằng đã lâu lắm rồi tôi không nhìn kỹ người phụ nữ thân yêu của mình. Tôi nhận ra vợ tôi không còn trẻ nữa.
Đã xuất hiện một vài nếp nhăn trên gương mặt của nàng.

Ngày thứ ba, cô ấy thì thầm vào tai tôi: "Vườn ngoài kia đang bị xói mòn đấy. Anh cẩn thận khi đi qua đó nghe".

Ngày thứ tư khi tôi nâng cô ấy lên, tôi có cảm giác chúng tôi vẫn còn là một đôi uyên ương khăng khít và tôi đang ôm người yêu trong vòng tay âu yếm của mình. Những tơ tưởng về Dew trở nên mờ nhạt dần.

Đến ngày thứ năm và thứ sáu, cô ấy tiếp tục dặn dò tôi vài thứ, nào là cô ấy để chiếc áo sơ mi vừa ủi ở đâu, nào là tôi phải cẩn thận hơn trong lúc nấu nướng. Tôi đã gật đầu. Cảm giác thân thiết, gần gũi lại trở nên mạnh mẽ nhiều hơn.

Nhưng tôi không nói với Dew về điều này. Tôi cảm thấy bế cô ấy dễ dàng hơn. Có lẽ mỗi ngày đều luyện tập như vậy đã làm tôi mạnh mẽ hơn. Tôi nói với cô ấy: "Có vẻ bế em không còn khó nữa".

Vợ tôi đang chọn váy đi làm. Tôi thì đứng đợi để bế cô ấy. Cô ấy loay hoay một lúc nhưng vẫn không tìm ra chiếc váy nào vừa vặn cả. Rồi, cô ấy thở dài, "Mấy cái váy của em đều bị rộng ra cả rồi". Tôi mỉm cười. Nhưng đột nhiên tôi hiểu rằng thì ra cô ấy đã ốm đi nên tôi mới bế cô ấy dễ dàng, chứ không phải vì tôi mạnh khỏe hơn trước. Tôi biết vợ mình đã chôn giấu tất cả niềm cay đắng trong tim. Tôi lại cảm thấy đau đớn. Theo phản xạ tự nhiên, tôi đưa tay chạm vào đầu cô ấy.

Đúng lúc đó, thằng con chúng tôi chạy đến "Cha à, đến giờ bế mẹ ra rồi" - nó nói. Đối với nó, hình như nhìn thấy cha bế mẹ ra đã là một phần tất yếu trong cuộc sống của nó rồi. Vợ tôi ra hiệu cho nó lại gần và ôm nó thật chặt. Tôi quay mặt đi vì sợ rằng mình sẽ thay đổi quyết định vào phút chót.

Tôi ôm cô ấy trong vòng tay, bước từ phòng ngủ qua phòng khách, qua hành lang. Tay cô ấy vòng qua cổ tôi một cách nhẹ nhàng và tự nhiên. Tôi ôm cô ấy thật chặt, tưởng tượng như chúng tôi đang trở về ngày tân hôn. Nhưng tôi thật sự buồn vì vợ tôi đã gầy hơn xưa rất nhiều.

Vào ngày cuối cùng, tôi thấy khó có thể cất bước khi ôm cô ấy trong vòng tay. Con trai chúng tôi đã lên trường. Vợ tôi bảo: "Thực ra, em mong anh sẽ ôm em trong tay đến khi nào chúng ta già". Tôi ôm cô ấy thật chặt và nói: "Cả em và anh đã không nhận ra rằng cuộc sống của chúng mình từ lâu đã thiếu vắng quá nhiều những thân mật, gần gũi".

Tôi phóng ra khỏi xe thật nhanh mà không cần khóa cả cửa xe. Tôi sợ bất cứ sự chậm trễ nào của mình sẽ khiến tôi đổi ý. Tôi bước lên tàu. Dew ra mở cửa. Tôi nói với cô ấy: "Xin lỗi, Dew, anh không thể ly hôn. Anh nói thật đấy".
Cô ấy kinh ngạc nhìn tôi. Sau đó, Dew sờ trán tôi. "Anh không bị sốt chứ", cô ấy hỏi. Tôi gỡ tay cô ấy ra. "Dew, anh xin lỗi", tôi nói. "Anh chỉ có thể xin lỗi em. Anh sẽ không ly dị. Cuộc sống hôn nhân của anh có lẽ tẻ nhạt vì cô ấy và anh không nhận ra giá trị của những điều bé nhỏ trong cuộc sống lứa đôi, chứ không phải bởi vì anh và cô ấy không còn yêu nhau nữa. Bây giờ, anh hiểu rằng bởi anh đưa cô ấy về nhà, bởi cô ấy đã sinh cho anh một đứa con, nên anh phải giữ cô ấy đến suốt đời. Vì vậy anh phải nói xin lỗi với em".

Dew như choàng tỉnh. Cô ta cho tôi một cái tát như trời giáng rồi đóng sầm cửa lại và khóc nức nở. Tôi xuống cầu thang và lái xe đến thẳng công ty.

Khi đi ngang tiệm hoa bên đường, tôi đặt một lẵng hoa mà vợ tôi yêu thích. Cô bán hàng hỏi tôi muốn viết lời chúc gì vào tấm thiệp. Tôi mỉm cười và viết "Anh sẽ bế em ra, vào mỗi sáng cho đến khi chúng ta già".

thagnv
08-12-2005, 19:20
"NẾu MuỐn Ly HÔn, HÃy BẾ Em Ra KhỎi CuỘc ĐỜi Anh"
Truyện này hay và lãng mạn quá! Nó mà trở thành kịch bản phim thì hay lắm nhỉ?
Cám ơn ivyinlove đã post câu chuyện này!

ThichNuDiuHien
13-12-2005, 08:49
Có những tác phẩm, sau một thời gian dài chỉ còn đọng lại cái tên trong ký ức:
* Sân ga chỉ có 2 người.
* Mát xcơ va không tin những giọt nước mắt.
* Trăm năm cô đơn.
* Một mùa hè vắng tiếng chim.
* Mưa trên cây sầu đông.
* Người ơi người.
* Tất cả những con sông đều chảy.
* ...
Lại có những tác phẩm vì một lý do nào đó có đến 2 tên, để người đọc "bâng khuâng" lựa chọn:
* Nỗi buồn chiến tranh - Thân phận tình yêu.
* Những con chim ẩn mình chờ chết - Tiếng chim hót trong bụi mận gai.
*...
Dài dòng như trên để chỉ muốn nói rằng, kể từ nay trong tiềm thức của mình, tôi có thêm một tên truyện:
Nếu muốn ly hôn, hãy bế em ra khỏi cuộc đời anh.
:wub:

taydosoft
14-12-2005, 16:20
Truyện này đọc lâu rồi, hình như từ năm 1976, không nhớ tựa cũng như tác giả, có thể là của O'Henry, tóm lược nhé:
QUÀ GIÁNG SINH
Họ là cặp vợ chồng trẻ, rất thương yêu nhau, nhưng sống rất cơ cực, cả hai đều là công nhân nghèo, cuộc sống thiếu thốn mọi bề....

Em đọc truyện này hồi còn nhỏ xíu (lúc đó chẳng hiểu). nhưng em nhớ cái tựa nên sợt ra được nè
Quà tặng của những nhà thông thái.
http://67.19.249.149/truyen/noidung.aspx?BaiID=tLUVEPubqGiO3pq6640z6Q%3D%3D

Cám ơn bác Thích nữ đã tạo ra chủ đề này, và cả truyện của bác nữa chứ!

thagnv
14-12-2005, 23:04
TUYỆT BÚT CỦA NGƯỜI CON HIẾU THẢO

Cố Hân, 22 tuổi, vừa tốt nghiệp đại học và tìm được việc làm ở Bắc Kinh năm ngoái. Giã từ quê nhà, một trang trại nhỏ ở Giai Mộc Tư, thành phố phía đông bắc tỉnh Hắc Long Giang, anh lên thủ đô với bao giấc mơ ấp ủ: làm việc thật tốt, mua nhà, mua xe, rước cha mẹ lên phụng dưỡng.

Nhưng những giấc mơ ấy không bao giờ thành sự thật. Tháng năm năm nay, anh phát hiện mình mắc bệnh ung thư. Cha mẹ anh phải bán nhà, vay mượn để chữa trị cho con và đang mang nợ 200.000 NDT (tương đương 24.660 USD).

Ra đi, Hân không chút băn khoăn về số phận mình, nhưng không đành lòng nhìn cha mẹ già ở lại kiệt lực, trắng tay, không nơi nương tựa. Cố Hân không còn cách nào khác ngoài ký thác cha mẹ già cho lòng từ tâm của mọi người. Anh để lại một tuyệt bút.

Ba giờ sau khi lời kêu gọi của Cố Hân được phát lên mạng, anh đã từ trần (25-11). Những lời trăng trối của Cố Hân đã lay động lòng trắc ẩn của công luận Trung Quốc. Theo nhật báo Thanh Niên Bắc Kinh, chỉ trong 10 ngày đã có 75.000 người hưởng ứng lời kêu gọi, sẵn sàng giúp đỡ cha mẹ anh để anh hoàn thành tâm nguyện cuối đời.

Xung quanh câu chuyện của người con hiếu thảo này còn có nhiều chi tiết làm người khác xúc động. Bạn bè của Cố Hân cho biết anh dự định viết 50 bức thư gửi cho cha mẹ để họ có thể đọc trong suốt cuộc đời còn lại, như thể anh vẫn còn hiện diện trên cõi đời này. Nhưng quĩ thời gian của anh quá ngắn...


Hãy cứu giúp cha mẹ tôi!

"Khi viết những dòng này, tôi biết rằng thời gian của tôi không còn nhiều. Nếu tôi là một ông cụ 80, con cháu đầy đàn, có lẽ tôi sẽ mỉm cười rời khỏi thế gian này. Tuy nhiên, tôi không cười nổi: tôi chỉ mới 22 tuổi.

Cơn ác mộng bắt đầu vào cái ngày định mệnh 8-5-2005, khi tôi được chẩn đoán ung thư máu.

Đời người thật không công bằng. Tại sao mọi điều xui xẻo lại đổ ập lên đầu tôi? Chính cha mẹ tôi đã cho tôi niềm tin để chiến đấu với bệnh tật. Họ ba lần về quê thu xếp tiền bạc, bán đi căn nhà duy nhất, cầm 300.000 NDT giúp tôi ổn định bệnh tình trong năm tháng.

Đối với những công nhân bị giảm biên chế ở nông trường như cha mẹ tôi thì đây là điều không tưởng. Vậy mà chính họ giúp tôi có thêm niềm tin vào sự sống. Lúc ấy tôi có một suy nghĩ rất ích kỷ, cố chấp, bằng bất cứ giá nào nhất định phải sống.

Nhưng khi bệnh tình trở nặng vào tháng mười một, tế bào ung thư tăng đến 80%, sốt cao 40OC liên tục không giảm, miệng bắt đầu lở loét, mỗi ngày phải đối diện với số tiền viện phí, thuốc men từ hàng ngàn đến hàng chục ngàn NDT, nhìn vẻ mặt lo lắng, mệt nhọc của cha mẹ, tôi hiểu ra rằng cái chết đã gần kề.

Thế nhưng, cha mẹ tôi vẫn chưa chịu buông xuôi, họ yêu cầu hiến thận hay bán bất cứ cơ quan nội tạng nào cho bệnh viện để kiếm tiền ghép tủy cho tôi. Tuy nhiên, khi tế bào ung thư chưa được khống chế thì không thể nào tiến hành phẫu thuật ghép tủy, mà cho dù có ghép tủy thì chi phí chóng mặt để hóa trị, phẫu thuật cũng đủ khiến chúng tôi chùn bước.

Hằng ngày, tôi đều rất thích nghe bài hát Hít thở sâu của ban nhạc Vũ Tuyền, viết những lời an ủi cha mẹ trên quyển tập nhật ký. “Rồi con sẽ khỏi bệnh, sẽ cùng cha mẹ hít thở bầu không khí trong lành dưới ánh ban mai”. Hằng đêm tôi đều phải giả bộ thiếp đi để cha mẹ bên cạnh có thể đi nghỉ sớm. Tôi len lén hé mắt nhìn khuôn mặt thân quen nhưng tiều tụy của họ mà lòng đau như cắt, không nén nổi những dòng nước mắt chực trào.

Tôi biết rằng trên thế gian này người bất hạnh không chỉ là tôi. Tôi đã thông suốt giữa sự sống và cái chết nên không còn cảm thấy tiếc nuối. Chỉ có điều nhớ ơn sâu nghĩa nặng của cha mẹ, trong lòng cứ ray rứt mãi. Nếu không có tôi họ sẽ sống ra sao?

Cha mẹ vì tôi mà khổ suốt cả cuộc đời, tôi không nỡ rời xa thế gian này, tôi còn phải báo hiếu, tôi còn phải phụng dưỡng tuổi già của họ. Những dòng suy nghĩ đó cứ quanh quẩn trong tâm trí tôi, xuất hiện cả trong những giấc mơ của tôi.

Ai sẽ giúp đỡ cha mẹ tôi, để họ có một cuộc sống không phải lo lắng chật vật vì món nợ có lẽ mấy đời vẫn chưa trả hết? Nhà cửa không còn, họ sẽ sống ở đâu? Họ không còn việc làm, chẳng lẽ họ phải đi ăn xin, lượm rác, sống đầu đường xó chợ hay sao? Nếu quả đúng như vậy chẳng thà tôi chết sớm còn hơn, dẫu biết rằng nếu cha mẹ tôi đọc được sẽ rất đau lòng. Nhưng tôi thật sự rất tiếc.

Ngay lúc này đây tôi cũng không mong được sống, dẫu biết rằng khi không có tôi, cha mẹ tôi cũng không thể có một cuộc sống thật sự vui vẻ. Nhưng tôi chỉ hi vọng cha mẹ tôi có thể khỏe khoắn sống vui vẻ hết tuổi già. Một khi rời khỏi thế gian này tôi sẽ nói với họ: chúc họ sống tốt, để có thể đến nhìn mặt tôi vào ngày giỗ hằng năm của tôi.

Vì vậy, khó khăn lắm tôi mới viết ra những dòng này. Cầu xin mọi người hãy cứu giúp cha mẹ tôi".

CẢNH CHÁNH - THANH TRÚC (Theo soufun.com, China Daily)

Em đọc câu chuyện này thấy hay và post lên đây vì nghĩ nó cùng chủ đề và vì ko muốn spam thread :D

ThichNuDiuHien
18-12-2005, 09:03
http://img469.imageshack.us/img469/5628/moitinhdd6or.jpg

Súng trên vai thơ trong túi
Tuổi thanh xuân rong ruổi trên đường
Sóng hôn hoài những vết chân trên cát
Gió xoá đi những dấu vết bên bờ
***

I.
Không sao nghe nổi bài hát đó !
Tới bây giờ tôi vẫn không chịu được !
Chàng nổi lên từ dưới nước một cách bất ngờ, khiến tôi chút nữa thì bị sặc.
Chiếc mũ lặn trên mặt, trong tay là khẩu súng bắn cá.
- Chị là chiến lợi phẩm của tôi , chú cá vàng của tôi.
Tôi hỏi:
- Vậy người muốn gì, hỡi lão già ? (*)
- Hãy bơi và đợi tôi ở trên bờ, tôi sẽ quẳng xuống chân chị những hải vật tôi bắt được.
Rồi chúng tôi đi dạo trên bờ, rồi chàng cùng tôi làm quen với một con chó lông xù.
Chàng nói rằng nó rất hiền lành và có tên gọi là Phênhia.
Thật ra ai gọi nó bằng bất kỳ tên gì nó cũng chạy tới, nhưng chàng giải thích là bởi vì nó …giao thiệp rộng.
Rồi chúng tôi cùng ngồi ăn thịt cừu nướng, nói đúng hơn là định ăn.
Chắc hẳn chú cừu trước khi bị làm thịt nó luyện tập thể thao hơi nhiều, cơ bắp nó rắn như gỗ.
Chúng tôi quẳng thịt nướng cho Phênhia.
Nó cũng cố gắng lắm nhưng đành bực bội bỏ đi.
Song chúng tôi không để tâm đến chuyện ấy.
Chúng tôi đã không còn để tâm tới bất kỳ một việc gì khác.
Hai đứa chỉ còn thấy nhau.
Chàng tên là Alếchxây.
Đây là bài ca chàng thường hát:
Súng trên vai thơ trong túi
Tuổi thanh xuân rong ruổi trên đường
Sóng hôn hoài những vết chân trên cát
Gió xoá đi những dấu vết bên bờ

II
- Mẹ ơi, anh ấy gọi con, con phải đến với anh ấy !
- Chỉ có bước qua xác tao, xác cha mày, xác tất cả bà con họ hàng !
- Sao lại thế ? Chúng con yêu nhau mà !
- Tao thừa biết cái kiểu trăng gió ấy rồi.
- Nhưng đây là việc nghiêm chỉnh !
- Ở những nơi ăn mặc nửa trần; nửa truồng thì không có gì có thể nghiêm chỉnh được.
- Nhưng anh ấy yêu con ! Anh ấy viết rằng biết bao đêm mất ngủ vì nhớ…
- Không ngủ được là vì nó còn nhậu nhẹt. Mày có biết gì về nó. Cả hai mới quen nhau có 15 ngày.
- Mẹ ơi nhưng con yêu anh ấy !
- Con ơi, có lẽ nào mẹ không mong cho con được hạnh phúc ? Đó không phải là tình yêu ! Đó chỉ là mối tình trăng gió…Rồi sẽ qua đi.
Súng trên vai thơ trong túi
Tuổi thanh xuân rong ruổi trên đường…
http://img469.imageshack.us/img469/3645/moitinhdd19ci.jpg
III
Chúng tôi gặp lại nhau sau 5 năm, cũng trên bãi biển đó.
Chỉ có điều là tôi đã có chồng - Trợ lý của cha tôi đã theo đuổi tôi suốt 3 năm ròng.
Chúng tôi đi hưởng tuần trăng mật.
Chàng nổi lên bất thình lình y như lần trước.
- Chào em, cá vàng nhỏ của anh !
- Aliôsa ! (**)
- Sao tất cả thư anh bị gửi trả lại ?
- Gia đình em đổi tới chỗ ở khác.
- Anh biết thế nào cũng gặp lại em. 5 năm liền, anh tới đây. Anh cùng con chó Phênhia tìm em khắp các bãi tắm.
- Aliôsa…em đi cùng chồng em.
- Anh có thấy. Em không yêu anh ta. Không ai lại nhìn người yêu như thế !
- Vậy…nhìn thế nào ?
Tôi nhắm mắt lại, bởi đã tự hiểu câu trả lời.
- Anh vẫn chưa lấy vợ ư ?
- Anh chỉ có thể cưới một người và anh luôn tìm cô ấy…Hôm nay kết thúc kỳ nghỉ phép của anh, anh sẽ đợi em tại quán chả nướng dạo nọ. Chuyến tàu khởi hành lúc đêm khuya. Chúng ta sẽ cùng sống bên bờ biển đẹp, dẫu không được ấm như nơi đây. Anh sẽ đi săn và đặt xuống bên chân em mọi hải vật anh bắt được.
Mối tình trăng gió !
Mối tình trăng gió !
Lời nói của mẹ vang vọng trong óc tôi.
Tôi có biết gì mấy về chàng !
Vẻn vẹn có 15 ngày của 5 năm về trước…
Bình tĩnh !
Hãy tự kiềm chế !
Đó không phải là tình yêu.
Đó là mối tình trăng gió.
Rồi sẽ qua đi.
Sẽ qua đi.
Sẽ qua đi…
Tôi đòi chồng phải tức khắc rời khỏi nơi đây, vì e rằng mình sẽ không kiềm chế nổi, sẽ vất bỏ tất cả, như một kẻ điên cuồng chạy tới quán chả nướng cùng anh và con chó lông xù Phênhia.
Sóng hôn hoài những dấu chân trên cát
Gió xoá đi mọi dấu vết bên bờ.

IV
5 năm sau, chúng tôi lại gặp nhau cũng tại nơi đó.
Con gái tôi bị bệnh, bác sỹ khuyên nên cho cháu tắm biển.
Vừa bước lên bờ, tôi nghe tiếng gọi:
- Xin chào, cá vàng nhỏ bé !
Chắc thấy tôi rùng mình nên chàng vội nói:
- Đừng lo…em cứ tắm thoải mái. Anh không đòi tiền chuộc cô gái nhỏ này đâu.
Đứng cạnh chàng là một cậu bé trạc bốn tuổi, đang nắm chặt ngón trỏ của chàng.
- Ba ơi, ta đi thôi nào ! Nào ba..
- Đợi chút xíu.
Chàng đã gần bốn chục tuổi, trong tay vẫn khẩu súng thân quen.
- Em có cháu gái xinh quá, anh thấy hai mẹ con từ hồi sáng.
- Còn đây là con anh ?
- Đúng, thấy giống không ?
- Không giống lắm.
- Cháu giống mẹ hơn...Hôm nay chúng tôi lên đường, kỳ nghỉ kết thúc rồi...Thôi tạm biệt...Em có biết chú chó Phênhia vẫn còn sống đấy nhé.
Khi tôi về chỗ để đồ, con tôi chìa cho tôi chiếc kẹo sôcôla.
- Con lấy ở đâu ra thế này ?
- Thằng bé cho con. Cái bác ấy cho nó nhiều lắm, bởi nó đã gọi bác ấy bằng ba, dù bác ấy không phải là ba nó.
Súng trên vai thơ trong túi
Tuổi thanh xuân rong ruổi trên đường
Sóng hôn hoài những vết chân trên cát
Không sao nghe nổi bài hát đó !
Tới bây giờ tôi vẫn không chịu nổi !
-------
(*) Lời trong truyện thơ “Ông lão đánh cá và con cá vàng” A.Puskin.
(**) Aliôsa: tiếng gọi thân mật Alếchxây.
TNDH: Truyện tuy ngắn nhưng rất sâu sắc về tâm lý xã hội, mời các bạn thử phân tích !
:wub:

ThichNuDiuHien
14-02-2006, 07:53
http://img115.imageshack.us/img115/7130/nguoithuake6ot.jpg
• Đây là phòng nhân sự ?
• Vâng, mời anh ngồi, anh có việc gì ?
• Tôi đến xin việc…Tôi muốn làm chuyên gia thiết kế. Bố tôi...
• Không, không, anh hãy nói về anh thôi.
• Bố tôi...
• Nói về anh thôi, chúng tôi muốn biết về anh...
• Không, ông hãy nghe đã. Tôi biết nên kể tiểu sử của mình như thế nào chứ...Bố tôi là một người thông minh cầu tiến, ông ấy bắt đầu công việc từ một người thợ học việc và sau 10 năm ông ấy đã trở thành Kỹ sư trưởng. Trước đây bố tôi là một công nhân mù chữ, bây giờ ông là Tiến sỹ...
• Tốt lắm, tốt lắm !
• Mẹ tôi là Viện phó một viện nghiên cứu lớn, uỷ viên Hội đồng thành phố...
• Rất tốt, rất tốt !
• Thế đấy. Tôi cũng muốn đi theo con đường đó. Vậy đề nghị các ông hãy nhận tôi vào làm chuyên gia. À...nhưng tôi sẽ không làm ở phân xưởng đâu nhé, chỗ đó tôi không có điều kiện để phát triển. Gia đình tôi có thiên hướng khoa học di truyền mà...
• Vâng, vâng, chúng tôi hiểu rồi, thế nhưng ngoài thiên hướng ra, anh có bằng cấp gì không ?
• Có đây, nhưng cái đó không quan trọng, gửi ông.
• Vâng, vâng, 5 điểm; 5 điểm; 5 điểm...chỉ có một điểm 7 môn thể dục. Không, không, chúng tôi không thể nhận anh được...
• Nhưng bố tôi...
• Bố anh thì chúng tôi nhận.
• Thế mẹ tôi...
• Mẹ anh chúng tôi cũng nhận.
• Thế còn tôi...
• Anh thì không ! Thôi xin mời anh ra !

thagnv
14-02-2006, 10:12
Tại sao bác lại tâm đắc với truyện "Người thừa kế" vậy?
Em đọc xong chẳng thấy "dư vị" gì cả... chẳng cảm được cái gì... có lẽ do dịch giả!
Hay tác giả muốn cho người xem thấy được rằng cái hay là cái đơn giản?
Ý bác thế nào?

QUOCDN
08-03-2006, 11:49
Tôi rất thích lời thơ của tác giả thể hiện trong truyện này !
Lời trong truyện thơ “Ông lão đánh cá và con cá vàng” A.Puskin.

Cuong_DC9
29-03-2006, 18:01
Ku Bat vừa gửi link cho tôi. Đọc xong tôi rất xúc động nên copy lên đây để chia xẻ cùng bà con, nhất là những ai chưa đọc.

CÂU CHUYỆN BÁT MÌ

Trong cuộc sống ngày nay, xin đừng quên rằng còn tồn tại lòng nhân ái. Đây là một câu chuyện có thật, chúng tôi gọi là "Câu chuyện bát mì". Chuyện xảy ra cách đây năm mươi năm vào ngày 31-12, một ngày cuối năm tại quán mì Bắc Hải Đình, đường Trát Hoảng, Nhật Bản.

Đêm giao thừa, ăn mì sợi đón năm mới là phong tục tập quán của người Nhật, cho nên đến ngày đó công việc làm ăn của quán mì rất phát đạt. Ngày thường, đến chạng vạng tối trên đường phố hãy còn tấp nập ồn ào nhưng vào ngày này mọi người đều lo về nhà sớm hơn một chút để kịp đón năm mới.

Vì vậy đường phố trong phút chốc đã trở nên vắng vẻ. Ông chủ Bắc Hải Đình là một người thật thà chất phác, còn bà chủ là một người nhiệt tình, tiếp đãi khách như người thân. Đêm giao thừa, khi bà chủ định đóng cửa thì cánh cửa bị mở ra nhè nhẹ, một người phụ nữ trung niên dẫn theo hai bé trai bước vào.

Đứa nhỏ khoảng sáu tuổi, đứa lớn khoảng 10 tuổi. Hai đứa mặc đồ thể thao giống nhau, còn người phụ nữ mặc cái áo khoác ngoài lỗi thời.

- Xin mời ngồi!

Nghe bà chủ mời, người phụ nữ rụt rè nói:

- Có thể... cho tôi một… bát mì được không?

Phía sau người phụ nữ, hai đứa bé đang nhìn chăm chú.

- Đương nhiên… đương nhiên là được, mời ngồi vào đây.

Bà chủ dắt họ vào bàn số hai, sau đó quay vào bếp gọi to:

- Cho một bát mì.

Ba mẹ con ngồi ăn chung một bát mì trông rất ngon lành, họ vừa ăn vừa trò chuyện khe khẽ với nhau.

- Ngon quá - thằng anh nói.

- Mẹ, mẹ ăn thử đi - thằng em vừa nói vừa gắp mì đưa vào miệng mẹ.

Sau khi ăn xong, người phụ nữ trả một trăm năm mươi đồng. Ba mẹ con cùng khen: “Thật là ngon! Cám ơn!” rồi cúi chào và bước ra khỏi quán.

- Cám ơn các vị! Chúc năm mới vui vẻ - ông bà chủ cùng nói.

Công việc hàng ngày bận rộn, thế mà đã trôi qua một năm. Lại đến ngày 31-12, ngày chuẩn bị đón năm mới. Công việc của Bắc Hải Đình vẫn phát đạt. So với năm ngoái, năm nay có vẻ bận rộn hơn. Hơn mười giờ, bà chủ toan đóng cửa thì cánh cửa lại bị mở ra nhè nhẹ. Bước vào tiệm là một người phụ nữ dẫn theo hai đứa trẻ. Bà chủ nhìn thấy cái áo khoác lỗi thời liền nhớ lại vị khách hàng cuối cùng năm ngoái.

- Có thể… cho tôi một… bát mì được không?

- Đương nhiên… đương nhiên, mời ngồi!

Bà chủ lại đưa họ đến bàn số hai như năm ngoái, vừa nói vọng vào bếp:

- Cho một bát mì.

Ông chủ nghe xong liền nhanh tay cho thêm củi vào bếp trả lời:

- Vâng, một bát mì!

Bà chủ vào trong nói nhỏ với chồng:

- Này ông, mình nấu cho họ ba bát mì được không?

- Không được đâu, nếu mình làm thế chắc họ sẽ không vừa ý.

Ông chủ trả lời thế nhưng lại bỏ nhiều mì vào nồi nước lèo, ông ta cười cười nhìn vợ và thầm nghĩ: “Trông bà bề ngoài khô khan nhưng lòng dạ cũng không đến nỗi nào!”.

Ông làm một tô mì to thơm phức đưa cho bà vợ bưng ra. Ba mẹ con ngồi quanh bát mì vừa ăn vừa thảo luận. Những lời nói của họ đều lọt vào tai hai vợ chồng ông chủ quán.

- Thơm quá! - Năm nay vẫn được đến Bắc Hải Đình ăn mì thật là may mắn quá! - Sang năm nếu được đến đây nữa thì tốt biết mấy!

Ăn xong, trả một trăm năm mươi đồng, ba mẹ con ra khỏi tiệm Bắc Hải Đình.

- Cám ơn các vị! Chúc năm mới vui vẻ!

Nhìn theo bóng dáng ba mẹ con, hai vợ chồng chủ quán thảo luận với nhau một lúc lâu. Đến ngày 31-12 lần thứ ba, công việc làm ăn của Bắc Hải Đình vẫn rất tốt, vợ chồng ông chủ quán bận rộn đến nỗi không có thời gian nói chuyện.

Đến 9g30 tối, cả hai người đều cảm thấy trong lòng có một cảm giác gì đó khó tả. Đến 10 giờ, nhân viên trong tiệm đều đã nhận bao lì xì và ra về. Ông chủ vội vã tháo các tấm bảng trên tường ghi giá tiền của năm nay là “200đ/bát mì” và thay vào đó giá của năm ngoái “150đ/bát mì”. Trên bàn số hai, ba mươi phút trước bà chủ đã đặt một tờ giấy “Đã đặt chỗ”.

Đúng 10g30, ba mẹ con xuất hiện, hình như họ cố chờ khách ra về hết rồi mới đến. Đứa con trai lớn mặc bộ quần áo đồng phục cấp hai, đứa em mặc bộ quần áo của anh, nó hơi rộng một chút, cả hai đứa đều đã lớn rất nhiều.

- Mời vào! Mời vào! - bà chủ nhiệt tình chào đón.

Nhìn thấy khuôn mặt tươi cười của bà chủ, người mẹ chậm rãi nói:

- Làm ơn nấu cho chúng tôi… hai bát mì được không?

- Được chứ, mời ngồi bên này!

Bà chủ lại đưa họ đến bàn số hai, nhanh tay cất tờ giấy “Đã đặt chỗ” đi, sau đó quay vào trong la to: "Hai bát mì”.

- Vâng, hai bát mì. Có ngay.

Ông chủ vừa nói vừa bỏ ba phần mì vào nồi. Ba mẹ con vừa ăn vừa trò chuyện, dáng vẻ rất phấn khởi. Đứng sau bếp, vợ chồng ông chủ cũng cảm nhận được sự vui mừng của ba mẹ con, trong lòng họ cũng cảm thấy vui lây.

- Tiểu Thuần và anh lớn này, hôm nay mẹ muốn cảm ơn các con!

- Cảm ơn chúng con? Tại sao ạ?

- Chuyện là thế này: vụ tai nạn xe hơi của bố các con đã làm cho tám người bị thương, công ty bảo hiểm chỉ bồi thường một phần, phần còn lại chúng ta phải chịu, vì vậy mấy năm nay mỗi tháng chúng ta đều phải nộp năm mươi ngàn đồng.

- Chuyện đó thì chúng con biết rồi - đứa con lớn trả lời.

Bà chủ đứng bên trong không dám động đậy để lắng nghe.

- Lẽ ra phải đến tháng ba năm sau chúng ta mới nộp hết nhưng năm nay mẹ đã nộp xong cả rồi!

- Hả, mẹ nói thật đấy chứ?

- Ừ, mẹ nói thật. Bởi vì anh lớn nhận trách nhiệm đi đưa báo, còn Tiểu Thuần giúp mẹ đi chợ nấu cơm làm mẹ có thể yên tâm làm việc, công ty đã phát cho mẹ một tháng lương đặc biệt, vì vậy số tiền chúng ta còn thiếu mẹ đã nộp hết rồi.

- Mẹ ơi! Anh ơi! Thật là tốt quá, nhưng sau này mẹ cứ để con tiếp tục nấu cơm nhé.

- Con cũng tiếp tục đi đưa báo. Tiểu Thuần, chúng ta phải cố gắng lên!

- Mẹ cám ơn hai anh em con nhiều!

- Tiểu Thuần và con có một bí mật chưa nói cho mẹ biết. Đó là vào một ngày chủ nhật của tháng mười một, trường của Tiểu Thuần gửi thư mời phụ huynh đến dự một tiết học. Thầy giáo của Tiểu Thuần còn gửi một bức thư đặc biệt cho biết bài văn của Tiểu Thuần đã được chọn làm đại diện cho Bắc Hải đảo đi dự thi văn toàn quốc. Con nghe bạn của Tiểu Thuần nói mới biết nên hôm đó con đã thay mẹ đến dự.

- Có thật thế không? Sau đó ra sao?

- Thầy giáo ra đề bài: “Chí hướng và nguyện vọng của em là gì?”, Tiểu Thuần đã lấy đề tài bát mì để viết và được đọc trước tập thể nữa chứ. Bài văn được viết như sau: “Ba bị tai nạn xe mất đi để lại nhiều gánh nặng. Để gánh vác trách nhiệm này, mẹ phải thức khuya dậy sớm để làm việc”. Đến cả việc hàng ngày con phải đi đưa báo, em cũng viết vào bài nữa. Lại còn: “Vào tối 31-12, ba mẹ con cùng ăn một bát mì rất ngon. Ba người chỉ gọi một tô mì, nhưng hai vợ chồng bác chủ tiệm vẫn cám ơn và còn chúc chúng tôi năm mới vui vẻ nữa. Lời chúc đó đã giúp chúng tôi có dũng khí để sống, khiến cho gánh nặng của ba để lại nhẹ nhàng hơn”. Vì vậy Tiểu Thuần viết rằng nguyện vọng của nó là sau này mở một tiệm mì, trở thành ông chủ tiệm mì lớn nhất ở Nhật Bản, cũng sẽ nói với khách hàng của mình những câu như: “Cố gắng lên! Chúc hạnh phúc! Cám ơn!”.

Đứng sau bếp, hai vợ chồng chủ quán lặng người lắng nghe ba mẹ con nói chuyện mà nước mắt lăn dài.

- Bài văn đọc xong, thầy giáo nói: anh của Tiểu Thuần hôm nay thay mẹ đến dự, mời em lên phát biểu vài lời.

- Thật thế à? Thế lúc đó con nói sao?

- Bởi vì quá bất ngờ nên lúc đầu con không biết phải nói gì cả, con nói: “Cám ơn sự quan tâm và thương yêu của thầy cô đối với Tiểu Thuần. Hàng ngày em con phải đi chợ nấu cơm nên mỗi khi tham gian hoạt động đoàn thể gì đó nó đều phải vội vã về nhà, điều này gây không ít phiền toái cho mọi người. Vừa rồi khi em con đọc bài văn thì trong lòng con cảm thấy sự xấu hổ nhưng đó là sự xấu hổ chân chính. Mấy năm nay mẹ chỉ gọi một bát mì, đó là cả một sự dũng cảm. Anh em chúng con không bao giờ quên được… Anh em con tự hứa sẽ cố gắng hơn nữa, quan tâm chăm sóc mẹ nhiều hơn. Cuối cùng con nhờ các thầy cô quan tâm giúp đỡ cho em con”.

Ba mẹ con nắm tay nhau, vỗ vai động viên nhau, vui vẻ cùng nhau ăn hết tô mì đón năm mới rồi trả 300 đồng, nói câu cám ơn vợ chồng chủ quán, cúi chào và ra về. Nhìn theo ba mẹ con, vợ chồng ông chủ quán nói với theo:

- Cám ơn! Chúc mừng năm mới!

Lại một năm nữa trôi qua. Bắc Hải Đình vào lúc 9g tối, bàn số hai được đặt một tấm giấy “Đã đặt chỗ” nhưng ba mẹ con vẫn không thấy xuất hiện. Năm thứ hai rồi thứ ba, bàn số hai vẫn không có người ngồi. Ba mẹ con vẫn không thấy trở lại. Việc làm ăn của Bắc Hải Đình vẫn như mọi năm, toàn bộ đồ đạc trong tiệm được thay đổi, bàn ghế được thay mới nhưng bàn số hai thì được giữ lại y như cũ.

“Việc này có ý nghĩa như thế nào?”. Nhiều người khách cảm thấy ngạc nhiên khi nhìn thấy cảnh này nên đã hỏi. Ông bà chủ liền kể lại câu chuyện bát mì cho mọi người nghe. Cái bàn cũ kia được đặt ngay chính giữa, đó cũng là một sự hy vọng một ngày nào đó ba vị khách kia sẽ quay trở lại, cái bàn này sẽ dùng để tiếp đón họ.

Bàn số hai “cũ” trở thành “cái bàn hạnh phúc”, mọi người đều muốn thử ngồi vào cái bàn này. Rồi rất nhiều lần 31-12 đã đi qua. Lại một ngày 31-12 đến. Các chủ tiệm lân cận Bắc Hải Đình sau khi đóng cửa đều dắt người nhà đến Bắc Hải Đình ăn mì. Họ vừa ăn vừa chờ tiếng chuông giao thừa vang lên. Sau đó, mọi người đi bái thần, đây là thói quen năm, sáu năm nay.

Hơn 9g30 tối, trước tiên vợ chồng ông chủ tiệm cá đem đến một chậu cá còn sống. Tiếp đó, những người khác đem đến nào là rượu, thức ăn, chẳng mấy chốc đã có khoảng ba, bốn chục người. Mọi người rất vui vẻ. Ai cũng biết lai lịch của bàn số hai.

Không ai nói ra nhưng thâm tâm họ đang mong chờ giây phút đón mừng năm mới. Người thì ăn mì, người thì uống rượu, người bận rộn chuẩn bị thức ăn… Mọi người vừa ăn, vừa trò chuyện, từ chuyện trên trời dưới đất đến chuyện nhà bên có thêm một chú nhóc nữa. Chuyện gì cũng tạo thành một chuỗi câu chuyện vui vẻ. Ở đây ai cũng coi nhau như người nhà.

Đến 10g30, cửa tiệm bỗng nhiên mở ra nhè nhẹ, mọi người trong tiệm liền im bặt và nhìn ra cửa. Hai thanh niên mặc veston, tay cầm áo khoác bước vào, mọi người trong quán thở phào và không khí ồn ào náo nhiệt trở lại.

Bà chủ định ra nói lời xin lỗi khách vì quán đã hết chỗ thì đúng lúc đó một người phụ nữ ăn mặc hợp thời trang bước vào, đứng giữa hai thanh niên. Mọi người trong tiệm dường như nín thở khi nghe người phụ nữ ấy nói chầm chậm:

- Làm ơn… làm ơn cho chúng tôi ba bát mì được không?

Gương mặt bà chủ chợt biến sắc. Đã mười mấy năm rồi, hình ảnh bà mẹ trẻ cùng hai đứa con trai chợt hiện về và bây giờ họ đang đứng trước mặt bà đây. Đứng sau bếp, ông chủ như mụ người đi, giơ tay chỉ vào ba người khách, lắp bắp nói:

- Các vị… các vị là…

Một trong hai thanh niên tiếp lời:

- Vâng! Vào ngày cuối năm của mười bốn năm trước đây, ba mẹ con cháu đã gọi một bát mì, nhận được sự khích lệ của bát mì đó, ba mẹ con cháu như có thêm nghị lức để sống. Sau đó, ba mẹ con cháu đã chuyển đến sống ở nhà ông bà ngoại ở Tư Hạ. Năm nay cháu thi đỗ vào trường y, hiện đang thực tập tại khoa nhi của bệnh viện Kinh Đô. Tháng tư năm sau cháu sẽ đến phục vụ tại bệnh viện tổng hợp của Trát Hoảng. Hôm nay, chúng cháu trước là đến chào hỏi bệnh viện, thuận đường ghé thăm mộ của ba chúng cháu. Còn em cháu mơ ước trở thành ông chủ tiệm mì lớn nhất Nhật Bản không thành, hiện đang là nhân viên của Ngân hàng Kinh Đô. Cuối cùng, ý định nung nấy từ bao lâu nay của chúng cháu là hôm nay, ba mẹ con cháu muốn đến chào hỏi hai bác và ăn mì ở Bắc Hải Đình này.

Ông bà chủ quán vừa nghe vừa gật đầu mà nước mắt ướt đẫm mặt. Ông chủ tiệm rau ngồi gần cửa ra vào đang ăn đầy miệng mì, vội vã nhả ra, đứng dậy nói:

- Này, ông bà chủ, sao lại thế này? Không phải là ông bà đã chuẩn bị cả mười năm nay để có ngày gặp mặt này đó sao? Mau tiếp khách đi chứ! Mau lên!

Bà chủ như bừng tỉnh giấc, đập vào vai ông hàng rau, cười nói:

- Ồ phải… Xin mời! Xin mời! Nào bàn số hai cho ba bát mì.

Ông chủ vội vàng lau nước mắt trả lời:

- Có ngay. Ba bát mì.

- o O o -

Thật ra cái mà ông bà chủ tiệm bỏ ra không có gì nhiều lắm, chỉ là vài vắt mì, vài câu nói chân thành mang tính khích lệ, động viên chúc mừng. Với xã hội năng động ngày nay, con người dường như có một chút gì đó lạnh lùng, nhẫn tâm.

Nhưng từ câu chuyện này, tôi đi đến kết luận rằng: chúng ta không nên chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh xung quanh, chỉ cần bạn có một chút quan tâm dành cho người khác thì bạn có thể đem đến niềm hạnh phúc cho họ rồi. Chúng ta không nên nhỏ nhoi ích kỷ bởi tôi tin trong mỗi chúng ta đều ẩn chứa một tấm lòng nhân ái. Hãy mở kho tàng ấy ra và thắp sáng nó lên dù chỉ là một chút ánh sáng yếu ớt, nhưng trong đêm đông giá rét thì nó có thể mang lại sự ấm áp cho mọi người.

Câu chuyện này xuất hiện làm xúc động không ít độc giả Nhật Bản. Có người nhận xét rằng: "Đọc xong câu chuyện này không ai không rơi nước mắt". Đây chỉ là lời nhận xét mang tính phóng đại một chút nhưng nó không phải là không thực tế. Quả thật, nhiều người đọc xong câu chuyện đã phải rơi lệ, chính sự quan tâm chân thành và lòng nhân hậu trong câu chuyện đã làm cho họ phải xúc động.

ips
29-03-2006, 20:39
CuỘng bán cho 5 bát mì :D

taydosoft
30-03-2006, 15:19
"Câu chuyện bát mì" hay quá bác ạ!
Cám ơn bác đã su tầm

Tu'
08-05-2006, 21:41
Câu chuyện bát mì này được dựng thành film rồi.film "Hương vị tình đầu" chiếu trên VTC, hôm nọ em xem, cảm dộng lắm!

KoK
09-05-2006, 01:03
Các câu chuyện đều rất hay, nhiều ý nghĩa, cám ơn các bác đã lôi lên cho bọn hậu sinh chúng em được mở rộng tầm mắt... "Cám ơn! Chúc mừng kì thi mới!" :(

lynx
09-05-2006, 03:22
Tiếp đi các bác, lâu lắm rồi lynx mới đọc những truyện hay như vậy. Thanks!

Từ ngày làm quen internet, đọc news nhiều hơn đọc truyện ngắn. ;(

ThichNuDiuHien
25-05-2006, 14:12
ANH VĨNH VIỄN KHÔNG THA THỨ CHO EM!
http://img240.imageshack.us/img240/1194/chinastori8yh.jpg
Tác giả: TRẦN TIỂU XUÂN
Dịch giả: Lê Vũ

Lời người dịch: Dư Thiếu Hoa là một nhà thơ trẻ , rất nổi tiếng của thi đàn Trung quốc. Năm 1990 anh đã là hội viên hội nhà văn Tứ Xuyên. Năm 1996 Anh trở thành hội viên chính thức của hội Nhà Văn Trung Quốc. Anh có gần hai trăm tác phẩm đăng trên khắp cả nước, nhiều nhất là trên tạp chí Tinh Tú và Thi San. Là một trong những nhà thơ tài ba hứa hẹn nhất thập niên 90 của Trung quốc.

Nhưng bất hạnh thay, nhà thơ, nghèo đói và bi kịch thường là đi chung một con đường. Trước cuộc bội tình của ái thê Trần Tiểu Xuân, nhà thơ đã rạch cổ tay tự sát tại thư phòng để lại cho người vợ trẻ biết bao búa rìu của dư luận.

Lời bộc bạch đẫm nước mắt của Tiểu Xuân sau đây, người dịch rất tiếc không thể tinh chắt hết được những xót xa, những đớn đau của một bước chân lầm lạc. . .

I. Tình yêu Thi ca.
Khoảng thời gian từ năm 1984 đến năm 1988, tôi theo học tại trường Sư phạm Tứ xuyên, đây là thời kỳ, không những chỉ ở trường của tôi mà hầu như trên khắp nước, dấy lên phong trào thi ca rầm rộ.

Mùa xuân năm ấy, trong một buổi tham dự hội thơ về nhà thơ nổi danh Ðỗ Phủ. Tôi đã quen với Dư Thiếu Hoa. Lúc đầu tôi và anh chỉ thường bàn luận với nhau về thi ca mà thôi, nhưng dần dần, chúng tôi yêu nhau. Tôi yêu Hoa vì từ trong anh toát ra nét chính khí. Từ trong anh hừng hực một niềm say mê, và anh như tiềm ẩn cả một kho tàng ngôn ngữ hết sức sâu sắc, độc đáo. Con người anh như đáp ứng đúng những ước mơ của tôi từ khi bắt đầu trưởng thành: Tôi vẫn từng ước mơ được làm vợ của một nhà thơ nổi tiếng.
Có một hôm Thiếu Hoa hớn hở báo tin cho tôi:
- Nhóm thơ của chúng ta sắp có thể ra một tờ báo rồi. Anh dự định lấy tên là Báo Thơ! Em có thích không?
Tôi run lên vì sung sướng. Lúc bấy giờ, có một tờ báo trong tay là rất quý. Nhưng tôi băn khoăn:
- Anh ơi, in báo, phát hành báo thì được rồi, nhưng tiền đâu mà in?
Như đã có dự định từ lâu, Dư Thiếu Hoa nói với một giọng quả quyết:
- Chúng ta bán máu!
Mọi người hưởng ứng, kẻ vỗ tay reo, kẻ làm động tác như muốn sắn cánh tay áo lên cho máu ngay.

Nằm trên một cái cáng, nằm song song với anh trong một trạm máu. Tôi nhìn những giọt máu đỏ ói của mình và của anh chầm chậm chảy ra khỏi cơ thể. Lòng tôi tự nhiên mang một cảm giác hết sức tự hào. Thật vĩ đại, nhưng cũng thật là bi tráng! Tôi lại nhìn anh, mặt anh hơi tái, nhưng trong đôi con mắt của anh có một cái gì như siêu thoát, như kiên định. “ Anh ấy sẽ là một nhà thơ nổi tiếng” Tôi tự hào nghĩ như vậy.

Báo phát hành, nhưng không thấy có thơ của tôi, không có thơ của Dương Thi Vũ ( Tôi, anh, và Vũ là bạn thân với nhau). Thấy tôi có vẻ buồn. Anh nói:
- Thơ của em và của Dương Thi Vũ, anh nói thật, đừng buồn. Ðăng trong báo tường thì được, nhưng nếu đăng báo phát hành đi xa, thì chưa đủ tiêu chuẩn đâu!
Tôi không buồn, tôi lại càng cảm phục nhân cách, tính vô tư chân chính trong con người của anh. Chỉ có Dương Thi Vũ thì buồn ra mặt, anh trầm hẳn xuống, những cuộc đi chơi, thường có đủ bộ ba, nay không còn có nữa.

Rồi một hôm, Dương Thi Vũ hớn hở cầm một quyển tạp chí đến tôi, anh hớn hở ra chiều tâm đắc:
- Thơ của tôi đã được đăng rồi đây này. Nhìn này Tiểu Xuân, cô không thấy từ cách trình bày cho đến trình độ trong nội dung của tờ báo, hơn hẳn tờ báo của chúng ta hay sao?
Giọng anh có ý gì khang khác. Tôi bèn nói:
- Chưa chắc đâu, anh Vũ à.
Tối hôm ấy anh uống rượu rất nhiều, trong lúc quá say anh nói lè nhè:
- Tội nghiệp Tiểu Xuân, tôi yêu em. . . Tôi bỏ tiền ra in thơ, cũng vì tôi yêu em.
Khóa học của chúng tôi chấm dứt, chấm dứt luôn phong trào thơ , chấm dứt luôn những cuộc bình thơ. Và với riêng tôi, chấm dứt nàng thơ của tôi.

II
Tôi và Dư Thiếu Hoa được phân về dạy học ở cùng một trường trung học. Còn Dương Thi Vũ, không biết bằng cách nào được điều về một ngành kinh tế đối ngoại.
Ðêm tiễn biệt trước khi rời ghế nhà trường. Tôi và Dư Thiếu Hoa ngồi với nhau ở ngoài sân, chúng tôi cùng nhìn lên bầu trời để đếm sao, xem ai đếm được nhiều. Bỗng nhiên Hoa cầm tay tôi. Anh để tay tôi lên ngực anh rồi nói:
- Em có bằng lòng làm vợ anh không?
Tôi gật đầu, thế là chúng tôi thành hôn.

Cưới nhau không được bao lâu, tôi bận bịu suốt ngày trong việc áo cơm, soạn bài. Có khi tôi còn phải soạn bài và chấm điểm cho cả Hoa nữa.
Còn Hoa càng ngày anh càng chìm đắm trong cái thế giới mộng mơ đầy thi ca của anh, anh bỏ ăn, bỏ ngủ, anh có thể không cạo râu, không soi gương cả một tuần, nhưng một ngày anh không thể không làm một bài thơ.
Anh thường ngồi buồn rầu than vãn cho “ Ngày mai của thơ”. Cái ngày mai mà theo ý anh, có thể như con đường xuống dốc.
Những lúc như thế, tôi ngồi xuống bên anh, làm như tôi cũng đang cùng anh chìm đắm trong những dòng suối thơ đang chảy trong huyết quản. Có lúc nhìn gương mặt như mất hồn, như nhập thần của anh, Tôi vừa thương anh, vừa mệt mỏi . Càng về sau, cái cảm giác ấy biến thành một nỗi đau khổ.

Có hôm, Hoa hỏi tôi:
- Từ lâu không thấy em làm thơ ? Những hôm đang cùng nhau ngồi nghe nhạc giao hưởng, anh thấy em vùng xuống bếp là làm sao?
Tôi không kịp trả lời thì giọng nói của anh như đanh lại:
- Sao cô lại có thể rẻ rúng nghệ thuật đến thế nhỉ?
Thấy tôi lúi húi nhặt rau, làm cá, anh như muốn gầm lên:
- Cô xem kìa, bàn tay của cô để làm những công việc tao nhã, chứ đâu phải làm những việc vặt vãnh như thế.
Tôi đã tính cãi lại anh: “ Nếu tôi không làm, thì bữa cơm sẽ như thế nào”. Nhưng tôi lại im lặng.
Rồi anh nói như ra lệnh:
- Cô đi học dương cầm đi !
Tôi nói như muốn khóc:
- Em đâu có còn trẻ để đi học cái này hay cái khác nữa chứ.
Thiếu Hoa nghiêm nghị:
- Cô biết không, vợ anh phải là một nữ tao nhân mặc khách mới được!

Thấy anh có vẻ buồn. Tôi ghi tên đi học một khóa dương cầm, tiền học cho một khóa như thế nó lấy hết tháng lương của tôi.
Những người chung lớp dương cầm, họ đều ăn diện theo mốt thời thượng, đa số có xe hơi đưa đón. Còn tôi, với cái xe đạp cọc cạch, tôi đến lớp trong cái nhìn khinh thường của những người đồng học.

Một hôm, Thiếu Hoa đứng đợi tôi ở cửa lớp, anh đi với tôi ra ngoài chỗ gửi xe, anh nói:
- Em có biết hôm nay là ngày gì không?
Không để tôi trả lời anh nói ngay:
- Hôm nay là kỷ niệm ngày thành hôn của chúng ta đấy!
Tôi đang lúng túng, vì chính tôi đã quên mất cái ngày đáng nhớ ấy, thì anh cầm lấy tay tôi, trìu mến đeo vào ngón tay tôi một cái nhẫn vàng. Tôi cảm động muốn khóc. Tôi hỏi:
- Tiền đâu mà anh mua cho em vật đắt tiền như thế?
Anh không nhìn tôi. Giọng anh lạc đi:
- Anh bán máu.
Tôi lại bật khóc. Ôm lấy anh.

Thơ của Dư Thiếu Hoa đã bắt đầu đăng đầy trên các tạp chí và các báo ở khắp nước, nhưng nhuận bút thì rất ít ỏi, thậm chí không đủ tiền để anh hút thuốc nữa, anh luôn luôn tin tưởng vào Hội Nhà Văn Trung Quốc sẽ giúp anh xuất bản một tập thơ của riêng anh. Nhưng anh đã bị từ chối.

Hôm nhận được tin ấy, anh về đến nhà nằm bất động rồi thở dài. Tôi đến bên an ủi anh. Bỗng anh bật dậy, khí phách thời thanh niên của anh bật ra câu nói:
- Anh sẽ bán máu nữa, bán máu, lấy tiền bán máu để in thơ !
Nước mắt tôi chảy ròng ròng, tôi tháo chiếc nhẫn ra, nói như van lơn:
- Anh yếu lắm rồi, có chiếc nhẫn anh cho em, có thể giúp được một phần.

Nhưng anh không chịu. Sau đó, anh đã đi bán máu, lần thứ ba, rồi lần thứ tư, nhưng tiền bán máu ấy, không đủ chi phí cho việc xin giấy phép xuất bản. Tiền đâu mà in thi phẩm chứ.
Thiếu Hoa gày rạc hẳn đi. Tôi như đang đi vào nỗi tuyệt vọng của người vợ thương chồng nhưng hoàn toàn bất lực.
Có nhiều lúc, tôi cảm thấy tôi không còn muốn sống nữa.
Sau cùng, suy nghĩ mãi. Tôi tìm đến Dương Thi Vũ. Vũ đang làm Phó giám đốc cho một công ty của bộ Ngoại thương. Vũ nhìn tôi. Trong cái nhìn ấy, tôi thấy có cái vẻ như xót xa, có ánh mắt như dè bĩu, như cảm thông, như có cả nét âu yếm nữa.
Cuối cùng anh cầm lấy tay tôi. Vũ nói:
- Tôi phải giúp các bạn mới được, thi tập của Thiếu Hoa sẽ được ra mắt. Tôi sẽ tài trợ.
Tôi để yên tay mình trong tay Vũ

Trên đường về tôi vừa mừng vừa tủi thân.
Thiếu Hoa vẫn sống như đang sống ở trên chín từng mây, anh có cái khách khí rất thi nhân, khi bạn bè than phiền, thảo luận với anh về cách sống cho hợp với đời thường đầy khó khăn, thì anh lại đọc câu thơ của Kenzaburo: “ Cao thượng là mộ chí của người cao thượng, ti tiện là tấm giấy thông hành cho kẻ ti tiện”. Khi nghe bạn bè bàn nhau làm sao kiếm thêm thu nhập ngoài đồng lương. Anh lại khẳng khái lên tiếng:
- Tôi sẽ mãi mãi giữ vũng sự thanh bần cao thượng của tôi, chứ không thể đi cân đong nhân cách cho những lợi lộc nhỏ nhoi.

III.
Chúng tôi lấy nhau đã hơn bốn năm, vẫn chưa có cháu bế. Nhiều lần, tôi nói lên nỗi khao khát muốn có tiếng cười, tiếng khóc của trẻ thơ cho cuộc sống bớt tẻ nhạt, bớt căng thẳng, thì anh gạt phăng đi. Anh nói:
- Anh không muốn một đứa bé ra đời trong một xã hội như thế này: Mỗi khoảnh khắc, cái thế giới này đều giăng đầy tai họa.
Rồi anh nhìn khắp nhà giọng buồn bã:
- Nhìn cái nhà của mình, không có lấy một vật gì đáng giá cả, cái TV 21’’ phải dành cả năm trời mới mua được, chúng ta lại chẳng có lấy một đồng dư dật. Một đứa trẻ sinh ra trong hoàn cảnh như thế sao.!

Chúng tôi có ý định chờ, phải chờ xem tình hình kinh tế có gì biến chuyển chăng? Thấy vô vọng, lại thấy mình đã đứng tuổi Dư Thiếu Hoa muốn có con. Lúc này thì tôi lại không chịu. Tôi nói trong làn nước mắt:
- Em nhất định phải tìm cách thay đổi cuộc sống kinh tế của chúng ta. Chúng ta không thể tiếp tục sống như thế này mãi được nữa. Trước mắt, em không muốn có con!
Dư Thiếu Hoa nói:
- Tiền bạc sẽ giết chết chất thơ em ạ.
Tôi gay gắt:
- Mình nghèo quá rồi, em không cần thơ thiếc gì nữa.

Tôi quyết định xin nghỉ dạy học để đi làm thuê cho một tập đoàn của công ty Thành Công.
Ðó là vào tháng 6 năm 1995.

Dương Thi Vũ gọi điện thoại mời tôi đi ăn cơm trưa. Anh đã mở một công ty riêng, một công ty kinh doanh tầu biển. Trưa hôm ấy, hai chúng tôi ăn lẩu, vừa ăn dưa hấu. Cổ tôi nghèn nghẹn khi nghĩ đến giờ phút này, Dư Thiếu Hoa đang phải ăn mì gói ở nhà.
Dương Thi Vũ ngừng ăn nhìn tôi, giọng anh như một ông thày giáo dạy học trò:
- Tiểu Xuân nên nhớ, bây giờ em không còn là cô giáo nữa mà là một thương nhân, một thương nhân thì phải vững chí thẳng tiến, không được do dự nhụt chí..

Tôi biết Vũ đang muốn truyền cho tôi kinh nghiệm làm ăn của anh.
Mùa xuân năm 1996. Tôi đã tặng cho chồng tôi một món quà làm anh vô cùng xúc động: Giấy phép đầu sách của nhà xuất bản!
Dư Thiếu Hoa đã bật khóc như một đứa trẻ. Lần đầu tôi thấy anh khóc trước mặt tôi như thế. Anh viết cảm giác ấy trong câu thơ:
Tôi cùng tảng đá
Giữ vững thơ chân chính
Tôi cùng người vợ
Giữ chắc lấy tình yêu cuối cùng.

Tết năm ấy, tập thơ của Dư Thiếu Hoa ra đời, mặc dầu cho đến bây giờ thi tập của anh vẫn còn chất đống cả hàng trăm cuốn trong nhà, nhưng anh đã nổi tiếng và trở thành hội viên Hội Nhà Văn Trung quốc.
Nhân lúc chồng tôi đang phấn khởi. Tôi rụt rè đề nghị:
- Thiếu Hoa ơi, với tài năng và tiếng tăm của anh bây giờ, nếu anh chịu kinh doanh như em, anh sẽ thành đạt hơn em nhiều.
Chồng tôi lắc đầu:
- Thi ca sinh ra anh và anh lớn lên bằng thi ca. Mỗi người có một chí hướng, đừng gượng ép nhau làm gì em ạ!
Tôi đã ôm chầm lấy anh, chúng tôi hôn nhau đằm thắm. Chúng tôi mặc nhiên phân định: Một người kinh doanh kiếm tiền, một người cứ làm thơ. Cuộc sống vợ chồng chúng tôi trở về không khí lãng mạn như từ ngày còn yêu nhau. Cả căn nhà như bừng lên sức sống.

Tháng Ba năm 1998 Tôi được thăng lên chức Trưởng phòng Kinh Doanh. Tôi điện thoại báo tin cho Dương Thi Vũ, chúng tôi đã trao đổi với nhau suốt buổi chiều hôm đó về việc làm ăn, chúng tôi có vẻ ăn ý về cách thức để có thể thành công trong doanh nghiệp. Khi chia tay. Vũ nói:
- Có một việc muốn nhờ Tiểu Xuân, không biết em có thể giúp cho anh được không?
Tôi nói:
- Ðã là bạn, đừng khách khí.
Vũ nói:
- Ngày mai anh phải đi Vũ Hán bằng tầu thủy, ở đó anh có một vài cuộc đàm phán hóc búa, anh muốn mời em đi cùng, để giúp cho anh một tay”

Hai tuần sau, chúng tôi rời Vũ Hán lại cũng bằng tầu thủy. Dọc đường, cảnh non xanh núi biếc, thiên nhiên tươi thắm làm lòng tôi thấy lâng lâng. Có những lúc nhìn sông nước tôi tự hỏi:
- Ở nhà giờ này, Thiếu Hoa của tôi đang làm gì nhỉ?

Dương Thi Vũ xuất hiện bên kia mạn tầu, mắt anh xa xôi, thăm thẳm, nhưng đầy cương nghị, toàn thân anh toát ra một vẻ đẹp đàn ông quyến rũ và lôi cuốn. Tôi không còn nhớ anh đã bước đến tôi hay tôi bước lại anh. Chỉ còn nhớ chúng tôi như đi trong mơ. Chầm chậm đến bên nhau. Chầm chậm cầm tay nhau bước vào khoang buồng của anh. . .
Khi tỉnh giấc mơ. Mọi việc đã muộn quá rồi. Tôi khóc nức nở. Chỉ trong một khoảnh khắc đớn đau ấy, tôi đã phản bội chồng tôi. Tại sao tôi lại làm như thế ? Cho đến bây giờ tôi vẫn không sao giải thích nổi.
Nhưng rồi giấy không bọc được lửa. Sự thật ấy đã bị chồng tôi biết.

Dư Thiếu Hoa không thể nào chịu đựng nổi sự thật này. Anh luôn luôn cho rằng, tình yêu của chúng tôi phải thánh thiện, trong sạch, không gợn một tí sợi nào. Không thể nào bị hoen ố. Ôi, thế mà anh vẫn tưởng tôi sẽ cùng anh “ Giữ chắc lấy tình yêu cuối cùng” kia đấy!
Chồng tôi nhất định không tha thứ cho tôi, không phải vì sự sám hối của tôi không đủ chân thành, nhưng con tim anh đã vỡ tan rồi. Anh viết:
Mỗi khoảnh khắc trên thế gian này đều giăng tai họa.
Trên một nẻo tình yêu cuối cùng đầy rẫy hoang mang.

IV
Dư thiếu Hoa đã thật sự ngừng làm thơ. Chồng tôi đã dùng lưỡi dao rạch đứt mạch máu cổ tay mình. Anh để lại cho tôi một bức thư:
Tiểu Xuân.
Anh đi đây, anh không còn lý do gì để sống nữa, anh không còn dũng khí bước vào mùa xuân năm 1999 nữa.
Anh vĩnh viễn không tha thứ cho em.
Trước khi vĩnh biệt em, anh tặng em một bài thơ cuối cùng anh làm trong đời anh:
Thời buổi linh hồn đầy méo mó này
Làm sao ta có thể biết trước được hở em?
Máu đã nhiễm trùng. . .
. . . Nhà thơ đã chết
Tên tù binh vinh quang này. . .

Cái chết của chồng tôi làm tôi và Dương Thi Vũ mang một mối ám ảnh suốt đời. Thi Vũ bàn với tôi xem lại các bản dư cảo của chồng tôi. Chúng tôi cho xuất bản quyển thơ thứ hai và cũng là tập thơ cuối cùng.
Mấy tháng sau, Dương Thi Vũ đem đến cho tôi xem một tập bản thảo. Anh nói với tôi:
- Tôi cố gắng thế nào cũng không viết hay bằng Thiếu Hoa được.
Vũ lấy trong hộp ra một cái nhẫn vàng đưa cho tôi và nói:
- Ðây cũng là cái nhẫn tôi mua từ hồi còn nghèo khó. Tôi cũng phải bán máu đi để mua nó. Cuộc đời của tôi có hai điều mơ ước. Một là trở thành một nhà thơ. Hai là lấy được em làm vợ. Nhưng cả hai đều thất bại! Cả hai đều là sự thành công của Dư Thiếu Hoa.
Nay Thiếu Hoa đi rồi. lương tâm của tôi mãi mãi sẽ không bao giờ yên được đâu. Nếu không có tôi, anh ấy không phải chết. Cứ nghĩ đến anh ấy. Tôi vô cùng đau khổ. . .

Tôi yên lặng cho những dòng nước mắt cứ tuôn tràn. Tôi không biết tôi đang nghĩ gì, nhưng tôi biết rất rõ một điều, tôi sẽ còn phải mang nỗi ngậm ngùi tủi hổ này cho đến thiên thu!
Không bao lâu Dương Thi Vũ rời Thành Ðô lên Phố Ðông, Thượng Hải. Trước lúc lên đường anh đã nói với tôi:
- Chúng ta hãy cất giữ tình cảm của mình! Chúng ta không thể bất kính với linh hồn Thiếu Hoa thêm nữa.
Tôi viết lời bộc bạch này, như một nén hương thắp cho chồng tôi.
Thiếu Hoa, anh ơi!
:eek:

NguoiHaTinh
26-05-2006, 08:38
Ký ức về một tình yêu
-----------------------------------------------------------------


"Anh có yêu em không ?”. “Có”. “Yêu như thế nào?”. Duy tròn mắt nhìn Vân một thoáng, hơi bối rối: “Thì... cũng như mọi người yêu nhau”. Vân đỏng đảnh: “Ứ, ứ cần anh nói thế. Phải cụ thể hơn cơ”. Duy dụi tắt điếu thuốc lá, cố nén tiếng thở dài, giọng nói đã có phần khang khác: “Em vẫn bảo tình yêu là một khái niệm trừu tượng cơ mà”. Cũng may Vân đã chịu ngồi im, đầu tựa vai anh, mắt lơ mơ nhìn cả vạt đồi thoai thoải tím ngắt sim mua. Một nơi nghỉ ngơi thật tuyệt - Duy nghĩ, nếu như chỉ có một mình anh, anh sẽ nằm xoài ra thoải mái, nhìn trời qua những kẽ lá và nghĩ mông lung. Duy chợt thấy buồn cười, có ai như anh không, ước có một mình trong lúc ngồi cạnh người yêu.

Duy thấy vai mình nặng trĩu, dường như Vân đã ngủ. Anh đỡ mái đầu Vân ngả lên đùi mình, chăm chú ngắm từng nét mặt cô. Phải thừa nhận là Vân giống Linh, giống như hai chị em ruột mặc dù họ chẳng hề biết nhau ngoài đời. Nghĩ đến Linh, Duy vẫn thấy lòng mình se thắt, dù đã 6 năm rồi... Cũng rèm mi hoe hoe vàng cong vút (chứ không phải mi đen) khiến cho đôi mắt có vẻ gì là lạ, đầy ấn tượng. Cũng nốt ruồi son ngay trên cánh môi (nhưng nốt ruồi của Linh nằm chếch về bên trái, bướng bỉnh và tinh nghịch hơn), cũng đôi má bầu bầu, mái tóc ngang lưng, càng nhìn càng thấy giống. Bỗng Vân cựa quậy rồi mở mắt: “Sao nhìn em lạ vậy? Cứ như nghi ngờ điều gì ấy”. Hình ảnh Linh vụt biến mất, chỉ còn lại là Vân. Duy lắc đầu, âu yếm vuốt vuốt mấy sợi tóc xoà trên trán người yêu, kỳ thực để cho Vân nhắm mắt, thôi quấy rầy anh bằng những điệp khúc câu hỏi cũ mèm.

Ừ nhỉ, tại sao những kì nghỉ ngơi lại cứ gắn với mùa hè. Mà tại sao bao nhiêu năm rồi anh vẫn giữ thói quen đến những vùng đồi núi? Nó nhắc anh, bắt anh phải nghĩ về Linh nhiều hơn - cũng có nghĩa là giày vò, hành hạ anh đến khổ sở. Ngày ấy, Linh cũng yêu hoa sim tím vô cùng. "Không, em yêu tất cả các loại hoa màu tím thì đúng hơn". Hai đứa bằng tuổi nhau, tròn hai mươi. Trong nụ hôn đầu choáng váng và run rẩy đến nghẹt thở, Duy hỏi nhỏ: “Gọi Duy là anh nhé?” Linh xấu hổ, cắn vào cằm anh thật đau. Yêu nhau đến độ tưởng như chết được vì nhau, Linh vẫn không thay đổi cách xưng hô: “Duy ơi, Linh nhớ Duy kinh khủng”. “Duy ơi! Khăn len Linh đan cho Duy này”. “Duy ơi, muốn ốm không đấy, trời mưa thế này mà dám đi đầu trần”. Mới đầu Duy còn cự nự, cứ đòi Linh gọi là anh, Linh chỉ cười: “Khi nào mình... cưới nhau, Linh sẽ gọi Duy là anh, chịu không?” Duy chịu thua trước nụ cười thiên thần ấy để ôm ghì Linh trong vòng tay cuồng nhiệt của mình...

Chiều nắng nhạt dần và gió *****g lộng. Vân tung tăng đi trước Duy, thỉnh thoảng lại cúi xuống ngắt vài bông hoa dại. Tóc Vân bay xấp xoã, đáng yêu hệt như hôm anh gặp Vân lần đầu. Duy chạy tới, bịt mắt Vân, cắt ngang tiếng cười khanh khách của người yêu bằng một nụ hôn dài: “Anh yêu em, biết không hả công chúa?” Vân buông ngay nắm hoa dại, vòng tay qua cổ anh, đắm đuối: “Ðừng làm em phát điên lên vì anh nữa”... Duy dìu người yêu đi chầm chậm. Lạ thay, bên Vân, anh vẫn không thôi nghĩ về Linh, dù anh yêu Vân thực sự, dù Linh đã thuộc về quá khứ xót xa...

...Linh chưa kịp bước sang tuổi 21, chưa kịp cùng anh thổi nến trong ngày sinh. Duy vẫn nhớ, ngày ấy anh đã hỏi Linh thích quà tặng gì nhất cho ngày sang tuổi mới. Linh áp đầu vào ngực Duy, thầm thì: “Linh chỉ thích có Duy thôi, thật đấy”. Vậy mà Linh... Ðó là một ngày chủ nhật đường phố đông nghẹt đã cướp đi Linh của anh. Trong giỏ xe vẫn còn lăn lóc một gói quà nho nhỏ. Cô bạn chơi thân với Linh thổn thức: “Nó bảo... nó bảo sáng nay đi chọn mua tặng anh một chiếc cavat thật đẹp”. Duy không tin vào tai mình nữa, anh điên cuồng chạy khắp bệnh viện như một gã tâm thần. Người ta ngăn không cho anh vào nhà xác, không cho anh vào với Linh khi Linh không còn biết cười, biết nói, biết nhìn anh... Anh đã gào lên nguyền rủa hết thảy, gào lên trong nỗi tuyệt vọng tột cùng...

“Anh xem em mặc áo dài màu này có hợp không?”.Duy nhìn Vân đang xoay người trước gương, gật gù : "Ðẹp lắm cưng ạ! Mà với anh, em mặc màu gì cũng đẹp”. Vân quay lại, âu yếm sửa cổ áo cho Duy rồi la lên: “Sao anh không đeo cavat vào. Trời ạ! Mặc complê đi dự đám cưới mà thiếu cavat”. Duy thành thật: “Anh chẳng có cái nào đâu”. Vân ấn anh ngồi xuống ghế, với tay lấy chìa khoá xe “Ðể em đi mua cho anh”. Mặt Duy thoắt tái nhợt, tim anh nhói lên như có vật nhọn nào vừa đâm trúng “Vân, đừng, kệ anh”.

Vân hốt hoảng nhào đến. Lát sau, Duy trở lại bình thường, lúng túng giải thích: “Anh hơi đau đầu. Nhưng anh không dùng cavat đâu”. Vân dằn dỗi: “Nhưng mà tại sao mới được chứ. Sao anh gàn thế. Ừ, mà chưa bao giờ em thấy anh dùng cavat". Đơn giản thế mà cũng giận nhau. Vân đùng đùng bỏ về, không đi đám cưới sau một điệp khúc câu hỏi: “Tại sao” mà Duy chẳng thể trả lời. Từ ngày Linh mất, Duy không bao giờ dùng cavat. Anh cứ có cảm tưởng cổ mình bị thít chặt lại khi nghĩ đến nguyên nhân cướp mất Linh của anh. Chiếc cavat Linh mua ngày ấy giờ nằm yên trong ngăn tủ với hàng bao kỷ vật khác: Khăn len, cuốn sổ, một mảnh mùi soa thêu...

Trong suốt thời gian yêu nhau, Linh chưa bao giờ giận Duy, kể cả những lần anh lỡ hẹn (vì có việc đột xuất) hay những lần anh đến trễ giờ. Nếu thấy lâu lâu anh không tới, Linh lại cuống quýt đến tìm: “Duy hư lắm đấy nhé. Linh cứ tưởng là Duy bị ốm, Linh lo cuống cả lên...”. Có một đôi lần Linh dỗi, nhưng Linh có cách trừng phạt riêng, không ngúng nguẩy quay đi hay bỏ về mà sẽ mím chặt đôi môi hồng xinh xắn, ngăn cản nụ hôn của Duy. Nhưng chỉ được vài phút. Duy chưa bao giờ phải khổ sở chạy theo năn nỉ, dỗ dành Linh. Cũng chính vì thế, anh yêu Linh hơn tình yêu của tất cả thế gian này cộng lại...

Không phải Vân không biết trước cô, Duy đã yêu một người con gái khác. Giá như Vân chỉ bằng lòng biết đến đấy thôi, mặc kệ Duy với những gì thuộc về quá khứ, mặc kệ Duy với những kỷ niệm của riêng mình thì có lẽ Duy sẽ bớt đi những lúc đi về giữa quá khứ và hiện tại, sẽ gạt bỏ được những so sánh ngoài ý muốn. Và biết đâu anh lại tìm thấy tình yêu cuồng nhiệt, đắm đuối hệt thuở xưa ở Vân. Nhưng mọi chuyện lại không như thế. Vân đòi biết quá nhiều. Thoạt đầu chỉ là: “Tên của chị ấy là gì hả anh?” và Vân xuýt xoa: “Em thích cái tên Thuỳ Linh lắm. Anh tin không, ngày nhỏ em có con bạn thân là Thuỳ Linh, bao nhiêu lần em khóc đòi bố mẹ đổi tên cho mình”. Vân bảo: “Ai chẳng có những kỷ niệm. Em không hờn ghen với kỷ niệm của anh. Nhưng có điều, đừng sống mãi với kỷ niệm anh nhé”. Lúc ấy nhìn Vân thật buồn và tội nghiệp. Duy cồn cào, anh thấy yêu và thương Vân thành thật, yêu một dáng hình, một tâm hồn, một tấm lòng biết cảm thông, chia sẻ. Vân đã khóc khi anh kể cho cô nghe vì sao anh mất Linh... Thế nhưng tại sao anh càng cố gắng không khơi dậy kỷ niệm thì Vân càng dồn ép, đòi anh phải kể về Linh nhiều hơn. Và càng biết về Linh thì Vân càng hay giận dỗi, so bì, trách móc. Anh không thể chịu nổi điệp khúc căn vặn “Anh có yêu em không?” và những câu hờn mát đến độc địa của Vân “Em chỉ vụng về thế thôi. Em biết, anh chẳng yêu em nhiều”. Duy không biết thanh minh nhiều, anh lại tìm đến với Linh trong kỷ niệm như một sự cứu rỗi.

... Linh bảo: “Một ngày nào đó không còn thấy yêu Linh, Duy cứ đi yêu người khác mà Duy thích. Chỉ có điều phải thành thật mà nói lời chia tay. Ðừng lừa dối Linh”. Duy véo mũi Linh, mắng: “Chỉ vớ vẩn thôi. Mình sẽ là của nhau đến trọn kiếp”. Mắt Linh thoáng buồn “Linh muốn thế nhưng cuộc đời thì nhiều biến động...”. Duy át đi: “Giả sử Duy yêu người khác, Linh chấp nhận chia tay, thế hoá ra Linh không yêu Duy”. Linh bảo: “Linh sẽ buồn, sẽ đau lắm chứ nhưng nếu Duy hạnh phúc bên người khác hơn bên Linh thì...”. Tại sao Linh lại có linh cảm chẳng lành về số phận, về tình yêu như thế? Ðể rồi chỉ ít lâu sau, anh phải gục đầu khóc trước những vòng hoa trắng, khóc giữa những đêm ngồi nghe bản nhạc quen thuộc một mình lẫn với tiếng mưa gõ nhịp đều đều, đều đều.

Duy lại đến tìm Vân như sau hàng bao lần giận dỗi trước đó. Thủ tục làm lành khó khăn hơn nhưng rồi cũng xong xuôi. Hai đứa lại đi dạo trong công viên. Mùa thu, hoa sữa thơm dịu dàng và quyến rũ. Những bông hoa nhỏ xíu rớt xuống nền gạch đỏ như sao sa. Tóc Vân thấp thoáng hoa sữa trắng ngà. Duy vòng tay qua thành ghế đá, mơ màng nhìn lên vòm lá. Hình như có một tiếng chim chiếp chiếp tội nghiệp đâu đây. Dường như Vân hỏi anh câu gì đó nhưng Duy vẫn mải tìm kiếm xem tiếng chim kêu ấy ở chỗ nào. Chắc chắn đó phải là chú chim sâu nhỏ thật dễ thương. Thế mà ngày bé, bao nhiêu lần anh mang súng caosu lêu lổng khắp các khu vườn... Chợt Vân giật tay lại, ngoắt người đi, giận dỗi. Duy giật mình, ngắt khỏi những suy nghĩ lan man: “Gì thế em?” Vân quay lại, nét mặt trở nên cau có: “Em biết mà, anh không thể nào khác đi. Anh lại nghĩ, lại nhớ, lại tiếc tình-yêu-cũ-của-anh rồi phải không?” Duy thất vọng, cúi đầu không nói. Vân vẫn không tha: “Hèn gì em hỏi anh đến ba lần mà anh không trả lời”. “Em hỏi anh gì vậy? Anh im lặng cũng là một cách trả lời đấy chứ”. Vân nhìn sững Duy, nghẹn ngào: “Anh không yêu em phải không. Ngồi với em mà anh chỉ nghĩ đến chị Linh...”. Duy cắn môi đột ngột: "Ừ! Anh yêu Linh và yêu Linh yêu Linh mãi mãi”. Vân bật khóc, cầm túi xắc rồi bước đi như chạy. Duy không đuổi theo như bao lần trước đó. Anh nhìn theo cô rồi buồn buồn nghĩ: Chắc là chẳng khi nào mình gặp lại Vân để làm lành nữa... Ôi! Ngày xưa, Linh thường mặc áo xanh, Linh thường đi thong thả...

KoK
26-05-2006, 19:38
COn bé Vân tính tình giống hệt nhỏ bạn của tui, vừa nhìu chiện, vừa bướng bỉnh, vừa nhảm nhí, đọc xong sao mà ghét nhỏ Vân quá trời!!!!

namhoang
08-06-2006, 18:09
Điên rồ! Thế mà cũng gọi là yêu!

ThichNuDiuHien
22-06-2006, 14:09
Người chuyên môn cười
http://img144.imageshack.us/img144/803/chandung15wa.jpg
Nguyên tác : Heinrich Boll
Người dịch : Tâm Minh Ngô Tằng Giao

Vì người ta thường coi tôi là một người đứng đắn đàng hoàng nên khi có ai đó hỏi tôi rằng tôi làm nghề ngỗng gì thì tôi thật là lúng túng: tôi đỏ mặt lên và nói năng lắp bắp ngay. Tôi thấy như ghen với những người mà họ có thể trả lời thoải mái: tôi là thợ hồ. Tôi ghen tức với những người thợ hớt tóc, những anh chàng thư ký kế toán và những anh chàng viết văn vì câu trả lời của họ thật là đơn giản, chính cái nghề của họ đã tự nói lên là họ làm công việc gì rồi mà chẳng cần "dài dòng văn tự" để giải thích gì thêm, trong khi tôi thì bó buộc phải trả lời những câu hỏi trên rằng: "Tôi là một người chuyên môn cười." Khi thú nhận như thế rồi thì lập tức bao giờ tôi cũng phải trả lời thêm một câu hỏi thứ hai: "Thế bạn kiếm sống bằng cách đó à?". Tôi thành thật trả lời: "Đúng vậy!". Tôi hiện tại đúng là đang kiếm sống bằng tiếng cười của tôi đấy, mà kiếm chác ngon lành là đằng khác nữa, vì tiếng cười của tôi - nói theo giọng lưỡi kinh doanh - đang ăn khách trên thị trường.

Tôi là một chuyên viên cười, cười xuất sắc, lại kinh nghiệm đầy mình, chẳng có kẻ nào khác có thể cười giỏi như tôi được, chẳng có ai cười mà có thể đạt tới tột đỉnh nghệ thuật như tôi.
Có một thời gian dài, để tránh khỏi phải giải thích lòng thòng chán ngấy, tôi đã tự gọi tôi là một diễn viên, nhưng tài nghệ của tôi trong lãnh vực kịch câm và kịch nói thì lại xoàng xĩnh lắm khiến tôi cảm thấy gọi như thế không ổn, xa vời sự thật quá. Tôi yêu sự thật và sự thật là: tôi là một người chuyên môn cười.
Tôi chẳng phải là một chú hề, cũng chẳng phải là một diễn viên hài kịch. Tôi không làm cho bà con cô bác khoái chí, vui vẻ, tôi chỉ diễn tả sự vui nhộn thôi: tôi cười như hệt một vị hoàng đế La Mã, hay cười kiểu giống y như một chú học trò nhạy cảm, tôi cười thoải mái giống kiểu cười thế kỷ thứ 17 cũng như thế kỷ thứ 19, và đôi khi vì nhu cầu tôi có thể cười theo bất cứ kiểu cười của thế kỷ nào, bất cứ từng lớp xã hội nào, bất cứ loại tuổi tác nào: đó chỉ thuần là một sự khéo léo mà tôi đã thu thập được, tương tự như sự khéo tay sửa dày, dép vậy. Trong lồng ngực của tôi chất chứa tiếng cười của Mỹ Châu, của Phi Châu, tiếng cười của dân da trắng, da đỏ, da vàng và nếu được trả một khoản tiền tương xứng thì tôi sẽ cười vang vang lên theo đúng với lời yêu cầu đặt hàng của ông giám đốc.

Tôi đã trở nên quan trọng rồi. Tôi cười để thâu vào đĩa hát, tôi cười để thâu vào băng, và các ông giám đốc truyền hình đối xử với tôi một cách kính nể. Tôi cười một cách sâu thẳm, ôn hòa hay điên dại. Tôi cười như một ông tài xế lái xe điện hay như một gã phụ việc trong tiệm thực phẩm. Có tiếng cười kiểu bình minh, kiểu hoàng hôn và kiểu đêm tối. Nói tóm tắt lại: người ta cần cười ở bất cứ nơi nào, cười bất cứ kiểu nào, tôi sẽ làm chuyện đó.

Thật khó mà vạch ra cho mọi người thấy rằng một cái nghề như thế này thì chán mớ đời, nhất là đối với tôi đó lại là một nghề chuyên môn, tôi đã lên đến tột đỉnh của nghệ thuật gây tiếng cười. Điều này cũng khiến cho tôi trở thành cần thiết để giúp cho các diễn viên hài kịch hạng ba hay hạng tư khi các anh chàng này có lý do chánh đáng sợ rằng khán giả của họ không phá ra cười với những câu pha trò vào lúc chót của câu chuyện. Bởi thế tôi hầu như mỗi đêm phải đến các hộp đêm, các phòng trà ngồi làm cò mồi kín đáo, công việc của tôi là cười vang lên trong những đoạn yếu nhất của chương trình để mọi người nghe thấy mà cười theo. Cần phải "canh me" mà tính toán giờ giấc cẩn thận: tôi phải cười cho thật lớn, thật mạnh, không sớm quá nhưng cũng đừng trễ quá, phải cười đúng lúc, đúng thời điểm đã sắp xếp trước. Tôi phá ra cười, toàn thể các khán giả sẽ rú lên cùng cười theo tôi và như thế cái vụ pha trò, giễu dở của anh chàng diễn viên sẽ được cứu vãn. Nhưng riêng phần tôi, tôi mệt mỏi lê chân ra phòng để áo, mặc áo khoác vào và lòng cảm thấy vui sướng vì cuối cùng dầu gì thì mình cũng vừa hoàn thành xong nhiệm vụ.

Ở nhà, tôi thường nhận được những bức điện tín gửi cho tôi: "Khẩn cấp. Cần tiếng cười của anh. Ghi âm thứ ba" và một vài giờ sau là tôi đã chui vào ngồi trong một chuyến xe lửa tốc hành quá nóng nực để mà than vãn cho cái số phận của mình.
Tôi cũng cần phải nói thêm rằng những lúc ngoài giờ làm việc hay khi đang đi nghỉ hè thì tôi lại có khuynh hướng cười rất ít: những kẻ chăn bò chỉ vui khi họ quên bò của họ, người thợ nề chỉ vui khi quên đi vôi vữa, và các anh chàng thợ mộc thì thường thường lại có cái cửa ra vào hay những ô kéo bị kẹt, khó mở, những tay làm bánh mứt lại khoái đồ chua, những anh chàng hàng thịt lại ưa bánh hạnh nhân, và người làm bánh thì thích thịt nhồi hơn là bánh, những tay đấu bò thích nuôi chim bồ câu làm thú giải trí, những võ sĩ quyền Anh mặt tái đi khi thấy con cái mình bị chảy máu mũi. Tôi thấy tất cả đều là chuyện bình thường, vì chính tôi chẳng bao giờ cười lúc ngoài giờ làm việc. Tôi là một người nghiêm túc và mọi người coi tôi - có lẽ đúng vậy - là một gã bi quan.

Trong những năm đầu của cuộc sống hôn nhân bà vợ tôi thường nói với tôi: "Cười lên chứ!" nhưng rồi kể từ đó bà vợ tôi hiểu ra rằng tôi chẳng thể chiều ý bà ấy được. Tôi cảm thấy sung sướng khi tôi được thoải mái khỏi phải lên gân mặt, được thoải mái tinh thần. Thật vậy, ngay cả lúc người khác cười thì cái cười ấy cũng tác động đến đầu óc của tôi, vì nó gợi cho tôi nhớ đến nghề nghiệp của mình. Chính vì thế mà cuộc hôn nhân của chúng tôi hoàn toàn trầm lặng và an bình, bởi vì bà vợ tôi cũng quên mất cả cười rồi. Thỉnh thoảng tôi chợt bắt gặp vợ tôi mỉm cười và tôi cũng cười mỉm theo. Chúng tôi trò chuyện với nhau bằng một giọng nhỏ nhẹ, bởi vì tôi ghét cay ghét đắng cái tiếng động ồn ào của các hộp đêm, các phòng trà, ghét cái âm thanh đôi khi ầm ĩ vang rền lên khắp cả phòng thu thanh. Những người nào không biết rõ tôi lại nghĩ rằng tôi là kẻ suy tư, ít nói. Có lẽ tôi như vậy đó, bởi vì tôi đã phải há miệng ra để cười quá nhiều rồi.

Đời tôi trôi qua với những nét biểu lộ tình cảm trơ lạnh như vậy. Thỉnh thoảng tôi cũng có cười nhẹ nhàng chút đỉnh và tôi thường tự hỏi không biết mình đã từng biết cười bao giờ chưa nhỉ? Tôi nghĩ rằng không. Các anh chị em của tôi lại coi tôi như một đứa rất nghiêm trang.
Bởi thế tôi có thể cười đủ các kiểu khác nhau, nhưng chính tôi, tôi không có được một nụ cười nào cho riêng cá nhân mình.


http://img50.imageshack.us/img50/1729/chandung9np.jpg
Heinrich Boll sinh tại Cologne (Đức) vào năm 1917 và mất năm 1985, là một trong những nhà văn hậu chiến rất nổi tiếng của nước Đức. Các tác phẩm của ông gồm "Ansichten eines Clowns" (The Clown), "Billard um halb zehn" (Billiards At Half-Past Nine) và "Gruppenbild mit Dame" (Group Portrait With Lady). Ông nhận giải Nobel về văn chương vào năm 1972.
Truyện ngắn trên được chuyển ngữ theo bản dịch Anh ngữ của Leila Vennewitz với nhan đề "The Laughter".

ThichNuDiuHien
30-06-2006, 16:01
Nói đến truyện ngụ ngôn, người Pháp nhắc đến La Fontaine, về tiểu thuyết không thể không nói đến Balzac còn khi nói đến truyện ngắn thì phải nhắc đến Guy de Maupassant.

Ở thể loại truyện ngắn, tài năng của Guy de Maupassant thật sự nở rộ. Có thể nói, tài năng ấy đã làm lu mở thành tựu của một tiểu thuyết gia. Với tính giản dị, sự cô đọng, sức khái quát, những truyện nhỏ của Maupassant “chứa đựng những cốt tuỷ của những tập sách mà các tiểu thuyết gia khác phải viết thật dày” như Émile Zola đã nhận định.

Ngoài thể loại truyện ngắn hiện thực mang tính thời đại, ông còn sáng tác những truyện ngắn siêu thực, và có thể nói Maupassant là một nhà văn hiện thực nhất trong các nhà văn viết truyện hoang tưởng, ông cũng là một trong không nhiều nhà văn của thế kỷ trước thu hút được sự chú ý, sự tò mò của công chúng với thể loại truyện siêu thực.

Những truyện ngắn siêu thực của ông không phải là tác phẩm của một kẻ điên, mà hiển nhiên ông đã sử dụng những kinh nghiệm, những trải nghiệm của chính bản thân mình trong những cơn rối loạn tinh thần để viết lại những xúc cảm mà con người có thể cảm thấy.

Những truyện ngắn kỳ lạ này không chỉ phản ánh thế giới nội tâm con người mà còn phản ánh cả cách suy nghĩ tư duy của con người thời đại đó, phản ánh cả hơi thở của thời đại.

Trải qua thời gian, những truyện ngắn kỳ lạ ấy được đánh giá là những tác phẩm của một nhà văn hiện thực thiên tài, người dã rất thành công trong cách lột tả nội tâm con người.

http://img47.imageshack.us/img47/5524/de20maupassant9tf.jpg


MỘT MẸO LỪA

Họ ngồi nói chuyện gẫu bên cạnh lò sưởi, người thầy thuốc già và cô bệnh nhân trẻ. Nàng chỉ hơi se mình, do sự khó ở, một thứ bệnh thường thấy ở những bà trẻ đẹp, hơi thiếu máu, thần kinh yếu, và nghi ngại có sự suy nhược, cái thứ suy nhược của những đôi vợ chồng mới cưới, lấy nhau vì tình, vào những ngày cuối của tháng đầu tiên của cuộc hôn nhân.

Nàng nằm duỗi trên một cái ghế dài và nói chuyện:
- Không, bác sĩ ạ, tôi chẳng bao giờ tin là một người vợ lại có thể lừa dối chồng mình. Thì tôi cứ giả thiết là bà vợ không yêu ông chồng, nhưng chẳng lẽ bà ta lại không đếm xỉa gì đến những lời hứa hẹn, những điều thề thốt của mình sao? Mà làm thế nào có thể dám hiến thân cho một người đàn ông khác? Làm thế nào giấu kín được cái đó trước tất cả mọi người? Làm thế nào có thể yêu đương trong sự giả dối, sự bội phản?

Ông thầy thuốc mỉm cười:
- Về vấn đề này thì dễ thôi. Tôi đoán chắc với bà là người ta không hề nghĩ tới bao nhiêu điều tinh tế ấy khi lòng ham muốn đã làm người ta sa ngã. Tôi cũng tin chắc là một người đàn bà chỉ trở nên chín chắn về tình yêu thật sự, sau khi đã trải qua tất cả những chuyện dan díu phiền toái, và tất cả những sự tởm lợm về hôn nhân, mà theo lời một danh nhân đã nói, hôn nhân chỉ là sự trao đổi những thái độ xấu về ban ngày, những mùi vị xấu về ban đêm. Không còn gì đúng hơn. Một người đàn bà chỉ có thể yêu một cách say đắm, sau khi đã lấy chồng. Nếu tôi có thể so sánh người đàn bà với một ngôi nhà, thì tôi sẽ nói là, phải qua tay một anh chồng quét dọn đã, thì ngôi nhà mới ở được. Còn việc che giấu thì tất cả những người đàn bà đều có thừa tài giữ kín nhẹm trong những trường hợp ấy. Những bà đơn giản nhất lại tỏ ra rất khôn ngoan và đã thoát hiểm một cách tài tình khỏi những cơn nguy khốn nhất.

Nhưng, người đàn bà trẻ có vẻ vẫn không tin...
- Không, bác sĩ ạ, chẳng bao giờ người ta lường trước được là khi việc bất thần xảy ra, thì phải làm thế nào trong cái tình thế hiểm nghèo ấy, và những người đàn bà, chắc chắn trong những trường hợp ấy lại còn hoang mang bối rối hơn cả bọn đàn ông.

Ông thầy thuốc giơ hai tay lên trời:
- Bà nói thế ! Khi việc bất thần xảy đến! Đàn ông chúng tôi cũng chỉ biết cuống cuồng lên khi việc xảy đến! Nhưng còn các bà thì... Thôi, để tôi kể lại cho bà nghe một câu chuyện nhỏ của một bà thân chủ của tôi, với bà ấy tôi cũng đã tận tình giúp đỡ.

Chuyện này xảy ra tại một thị trấn của một tỉnh nhỏ. Một buổi tối, tôi đang ngủ say, giấc ngủ mê mệt đầu đêm rất khó khuấy động, tôi thấy dường như trong giấc mơ u ám, vang rền tiếng thành phố báo cháy.

Tôi choàng tỉnh dậy: chính là tiếng chuông gọi cửa nhà tôi, cái chuông gọi phía ngoài đường, tiếng chuông réo có vẻ tuyệt vọng. Thấy người giúp việc của tôi hình như không trả lời, tôi lại giật cái dây chuông gọi anh ta treo ở giường tôi, và bỗng chốc, cửa bật mở, những tiếng chân bước náo động trong ngôi nhà ngủ im phắc, rồi anh Giăng xuất hiện, cầm một bức thư, trong thư nói:

"Bà Lơ Lievrơ khẩn thiết mời bác sĩ Simêôn đến nhà ngay tức khắc".
Tôi suy nghĩ một vài giây. Tôi nghĩ: Lại thần kinh, thì lại xông hơi, tra la la, tôi mệt nhọc quá rồi. Và tôi trả lời: "Bác sĩ Simêôn, rất ốm mệt, yêu cầu bà Lơ Lievrơ mời đồng nghiệp của ông, bác sĩ Bonnê".
Tôi cho vào phong bì, trao bức thư, rồi đi ngủ lại.
Khoảng nửa giờ sau, tiếng chuông phía cửa ngoài đường phố lại vang lên, và Giăng vào nói với tôi:
- Có người nào đó, không rõ đàn ông hay đàn bà (tôi không biết đích xác vì người ta che kín mít) muốn nói chuyện ngay với ông. Người ấy bảo đây là chuyện can hệ đến sinh mạng của hai con người.
Tôi vùng dậy:
- Đưa người ta vào.
Tôi đợi, ngồi ngay trên giường tôi.
Một hình thù ma quái, trùm đen kín mít xuất hiện và khi Giăng đã ra ngoài, người ấy tung áo choàng ra. Chính là bà Lơ Lievrơ, một người đàn bà trẻ đẹp, lấy chồng đã ba năm nay ; chồng là một thương gia lớn trong tỉnh, ông ta coi như đã lấy được một người đàn bà có nhan sắc xinh đẹp nhất thành phố.

Mặt bà ta tái ngắt, kinh khủng với những nét co rúm của những người hoảng sợ, bàn tay run rẩy, hai lần bà định nói mà không thốt nên lời. Sau cùng, bà ấp úng:
- Nhanh... nhanh lên... nhanh lên bác sĩ... Đến chỗ tôi ngay. Người ... người tình nhân của tôi đã chết trong buồng tôi.
Bà ta nghẹn ngào ngừng lại, rồi tiếp:
- Chồng tôi... ở Câu lạc bộ sắp... sắp về rồi.
Tôi đứng bật ngay dậy, không nghĩ là mình đang mặc áo lót. Tôi mặc quần áo trong mấy giây đồng hồ. Rồi tôi hỏi:
- Lúc nãy cũng chính bà đến gọi cửa phải không?
Bà ta đứng sững như pho tượng, sự lo âu làm bà thất đảm, bà nói nhỏ:
- Không... đó là chị hầu phòng của tôi... Chị ta biết... - Rồi ngừng lại một lát - Tôi... tôi ở lại bên cạnh "anh ấy".
Và một tiếng kêu đau đớn bật khỏi đôi môi bà, và sau khi bà cố nén những tiếng rền rĩ, bà bật khóc, bà ta khóc nức nở với những tiếng nghẹn ngào, thổn thức trong một hoặc hai phút ; rồi sau đột nhiên những dòng lệ ngừng chảy, nước mắt ráo hoảnh như cạn khô đi vì một ngọn lửa bên trong, bà ta trở lại bình tĩnh một cách bi thảm.
- Nhanh lên đi! - Bà ta nói.
Tôi đã sẵn sàng đi, nhưng tôi kêu:
- Khỉ thật! Tôi lại chưa bảo thắng cái xe ngựa của tôi.
Bà trả lời:
- Tôi có xe dưới kia, cái xe của anh ấy, chờ anh ấy đấy.
Bà ta lại trùm khăn kín mít. Chúng tôi đi.

Khi đã ngồi bên cạnh tôi trong hòm xe tối, bà ta đột ngột cầm lấy tay tôi. nắm vặn bàn tay tôi trong những ngón tay thon nhỏ của bà, bà nói với tôi những tiếng thổn thức, thốt từ trái tim bị vò xé:
- Ôi! Nếu ông biết được, nếu ông biết được tôi đau đớn đến thế nào! Tôi yêu anh ấy, yêu anh ấy đắm đuối như là một con mất trí, yêu đã sáu tháng nay.
Tôi hỏi :
- Mọi người có thức dậy không? ở nhà bà ấy?
Bà ta trả lời :
- Không, không có ai, trừ chị Rôdơ hầu phòng. Chị ấy biết cả.

Xe đỗ trước cửa nhà bà ta, trong nhà mọi người vẫn yên giấc. Chúng tôi mở cửa đi vào nhà không một tiếng động, rón rén bước trên đầu ngón chân lên thang gác. Chị hầu phòng kinh sợ, không dám ở bên cạnh người chết, ngồi bệt dưới đất ngay trên đầu cầu thang, với một ngọn nến đốt để bên cạnh.

Tôi vào trong buồng. Căn buồng lộn tung lên như sau một cuộc chiến đấu. Giường chiếu xô lệch, nhầu nát, trống không, dường như vẫn chờ đợi, tấm vải trải giường rơi tụt xuống trên mặt thảm lót nền nhà. Những khăn mặt ướt người ta dùng đập vào thái dương người đàn ông trẻ tuổi cho hồi tỉnh, rơi lung tung trên mặt đất bên cạnh một cái chậu thau và một cái cốc thủy tinh. Và một mùi đặc biệt, mùi dấm ăn pha với mùi nước hoa Lubin thành một mùi nồng nặc ngay từ ngoài cửa.

Cái xác người nằm ngửa, dài thượt ngay giữa phòng. Tôi lại gần, tôi ngắm cái xác, xem mạch, vanh mắt, sờ nắn hai bàn tay, rồi quay lại hai người đàn bà đang đứng run rẩy như chết rét, tôi bảo:
- Giúp tôi, vực anh ấy lên giường.
Mọi người đặt anh ta nhẹ nhàng nằm xuống. Tôi sờ tim và đặt một cái gương trước miệng anh ta, rồi tôi thì thầm:
- Hết rồi! Mặc quần áo cho anh ta, nhanh lên!
Nhìn cảnh tượng ấy thật là khủng khiếp.

Tôi lần lượt cầm từng cái chân cái tay của cái xác như chân tay của một con búp bê lớn, để cho hai người đàn bà lồng dần quần áo vào. Đi bít tất, mặc quần lót, mặc quần chẽn ngoài, áo gi-lê, rồi cái áo ngoài, lồng được tay vào ống tay áo thật là khó nhọc.

Khi phải đóng nút giầy, hay người đàn bà quỳ gối, tôi cầm nến soi cho họ, nhưng bàn chân đã hơi cương to lên, thật khó khăn vô cùng. Không tìm được cái rút nút giầy, họ đành phải dùng những cái kẹp tóc của họ.

Cuộc mặc quần áo khủng khiếp vừa xong, tôi ngắm nhìn cái công trình ấy và bảo:
- Phải chải chuốt lại cho hắn một tí.
Chị hầu phòng chạy đi lấy lược, bàn chải của bà chủ, và khi thấy chị ta run rẩy lập cập, bằng những động tác lóng ngóng, gỡ đám tóc rối xòa của anh ta, bà Lơ Lievrơ giằng lấy cái lược và chải mớ tóc của cái xác một cách rất dịu dàng như vuốt ve vậy.

Bà ta rẽ lại đường ngôi, chải bộ râu, rồi thong thả vân vê những sợi râu mép trong ngón tay, hẳn là làm như cách vẫn làm quen thuộc trong những lúc âu yếm nhau.

Và bỗng nhiên, vứt bỏ những thứ cầm trong tay, bà ta nâng cái đầu vô giác của người tình, nhìn thật lâu một cách tuyệt vọng cái bộ mặt chết không còn mỉm cười với bà ta nữa, rồi ngã hẳn người, đè lên cái xác ghì chặt nó trong vòng tay, hôn hít một cách dữ dội. Những cái hôn của bà ta tới tấp như những cú đánh xuống cái miệng mím chặt, trên đôi mắt nhắm tắt, trên thái dương, trên trán của người chết. Rồi ghé sát vào bên tai cái xác chết, tưởng như nó còn nghe được, dường như để thì thầm cái câu nó làm cho những vòng tay ôm ghì nồng cháy thêm, bà nhắc đi nhắc lại hàng mười lần, một câu đến xé ruột:
- Vĩnh biệt anh yêu dấu!
Nhưng đồng hồ đã điểm nửa đêm.
Tôi giật mình:
- Chết thật! Nửa đêm, giờ này Câu lạc bộ đóng cửa. Nào thưa bà phải có nghị lực chứ!
Bà ta đứng dậy. Tôi ra lệnh:
- Mang anh ấy sang phòng khách.
Cả ba người chúng tôi khiêng anh ta, tôi đặt anh ta ngồi trên một cái ghế dài có lưng tựa, xong, tôi thắp đèn.
Cái cửa ra vào phía ngoài mở ra, rồi nặng nề đóng lại. Chính là ông ta về rồi đấy. Tôi bảo:
- Nào, chị Rôdơ nhanh tay lên, mang cho tôi khăn lau và chậu nước và chị thu dọn lại gian buồng đi, nhanh tay lên chị, trời đất! Đấy, ông Lơ Lievrơ đã về đấy.

Tôi nghe tiếng chân bước trên thang gác, đến gần. Những bàn tay rà rẫm trên tường, trong bóng tối. Bấy giờ tôi mới gọi to:
- Đây kia mà, ông bạn thân mến, chúng mình đang gặp một tai nạn.
Và người chồng, sững sờ, hiện ra trước khung cửa, điếu xì gà trên miệng. Ông ta hỏi :
- Thế nào? Chuyện gì thế? Thế là thế nào?
Tôi đi về phía ông ta:
- Ông bạn tốt bụng ơi, ông thấy chúng tôi đang trong tình hình lúng túng quá đấy. Tôi đến chơi đây, cùng đi xe với anh bạn, ngồi nói chuyện với bà nhà ta khuya lắm. ấy thế mà bỗng dưng anh ta ngất xỉu, đã hai giờ đồng hồ, mặc dầu chúng tôi hết sức cứu chữa, nhưng anh ta vẫn bất tỉnh nhân sự. Tôi không muốn gọi người khác. Giúp tôi vực anh ấy xuống xe, về nhà anh ta, tôi cứu chữa cho anh ta tốt hơn.

Người chồng ngạc nhiên, nhưng không nghi ngờ gì, bỏ mũ, lấy tay ôm người tình địch của ông ta khi ấy dĩ nhiên là đã vô tác hại, tôi nắm lấy hai chân cái xác, kiểu như đóng ngựa giữa hai càng xe, và thế là chúng tôi khiêng cái xác xuống cầu thang, bây giờ bà vợ cầm đèn soi đường cho chúng tôi.

Khi ra đến trước cửa, tôi xốc cái thây chết lên, nói với nó, khích lệ nó, để đánh lừa người trong xe:
- Nào, anh bạn dũng cảm, không sao đâu. Cậu thấy khá hơn rồi chứ? Can đảm lên, nào, can đảm lên một chút thôi, cố gắng lên một tí tẹo thôi, và thế là khỏe ngay mà.

Thấy cái xác sắp đổ sụp xuống, nó sắp tuột khỏi tay tôi giữ, tôi liền dùng vai hích một cái mạnh làm nó nhào về phía trước, nghiêng ngả trong thùng xe, rồi tôi bước theo lên.

Người chồng lo lắng hỏi tôi:
- Bác thấy tình hình có nghiêm trọng lắm không?
Tôi trả lời "Không". Và cười, nhìn người vợ. Bà ta đã vòng tay dưới cánh tay người chồng chính thức của mình, mắt đăm đăm dõi nhìn sâu vào trong đáy tối thầm của thùng xe.

Tôi bắt tay mọi người và ra lệnh cho xe chạy. Suốt dọc đường, người chết đè nặng trên phía tay bên phải tôi.

Khi về đến nhà anh ta, tôi nói là anh ta bị ngất đi bất tỉnh khi đi dọc đường. Tôi giúp khiêng anh ta lên trên phòng anh ta, rồi tôi chứng nhận là anh ta đã chết, tôi đóng một lớp kịch mới trước gia đình đau khổ của anh ta. Sau cùng, tôi trở về nhà, nằm vào giường, không khỏi nguyền rủa những đôi bạn tình.

Ông bác sĩ ngừng lại, vẫn giữ nụ cười.
Người thiếu phụ trẻ, cau mặt hỏi:
- Tại sao ông lại kể cho tôi nghe câu chuyện khủng khiếp ấy?
Ông cúi chào rất lịch thiệp:
- Dạ, để khi có dịp cần đến, thì tôi xin giúp bà một tay.
:yes:

ThichNuDiuHien
01-07-2006, 11:25
http://img306.imageshack.us/img306/9113/gabrilgmarkez1hr.jpg

Gabriel García Márquez

Chân dung ký họa


CÁI CHẾT VĨNH HẰNG BÊN KIA TÌNH YÊU

Nguyễn Tấn Đại dịch

Sáu tháng mười một ngày trước khi chết, ngài nghị sĩ Onésime Sanchez quen được người phụ nữ của đời mình. Ông gặp cô ở làng Cây Hồng Của Phó Vương, một ngôi làng hẻo lánh; ban đêm, đó là chỗ những chiếc thuyền buôn lậu lén lút ẩn mình nhưng dưới ánh nắng mặt trời chói chang nó chỉ phơi ra bộ mặt của một cái hốc lạc lõng và vô vị giữa sa mạc, đối mặt với biển cả khô khan và vô tận, cách biệt với mọi thứ đến độ người ta khó mà tin được rằng có ai đó có thể làm thay đổi số phận của một người khác. Cái tên làng cũng như một trò giễu chơi bời vì bông hồng duy nhất thấy được trong làng đã bị ngài nghị sĩ Onésime Sanchez xoáy khéo ngay trong đêm ông quen được Laura Farina.

Đó là một chặng dừng chẳng đặng đừng trong chiến dịch vận động tranh cử diễn ra mỗi bốn năm. Những chiếc xe chở hàng của đoàn đã đến từ sáng, tiếp theo sau là những chiếc xe tải chở đầy người da đỏ từ các làng bên đã được trả vài đồng peso để đến cho buổi lễ chính thức thêm phần đông đúc. Khoảng gần mười một giờ, trong tiếng nhạc xập xình, tiếng pháo ì đùng và đoàn xe jeep hộ tống, chiếc xe hơi nội các màu mật dâu xuất hiện. Ngài nghị sĩ Onésime Sanchez trông điềm tĩnh và không có tuổi trong chiếc xe hơi máy lạnh, nhưng khi cửa sổ xe mở ra một luồng hơi nóng ập vào làm ông rùng mình và chiếc áo sơmi lụa của ông mau chóng ướt đẫm chuyển thành màu cháo trắng nhờ. Ông đột nhiên cảm thấy mình già yếu hơn và đơn độc hơn bao giờ hết. Ông vừa mừng bốn mươi hai tuổi, đã từng vinh dự lãnh bằng kỹ sư luyện kim ở Göttingen1 và hoài công miệt mài đọc những bản dịch dở hơi các tác phẩm cổ điển Latin. Ông đã cưới một cô vợ người Đức thanh lịch sinh cho ông năm đứa con sống cả nhà vui vầy hạnh phúc và chính ông từng là người hạnh phúc nhất đời cho đến cách đây ba tháng, người ta thông báo rằng ông sẽ chết và chắc chắn chết vào kỳ Giáng sinh tới.

Trong khi người ta sửa soạn chuẩn bị cho buổi lễ chính thức, ngài nghị sĩ đã lánh mặt được hẳn một giờ trong ngôi nhà dành riêng cho ông để nghỉ ngơi. Trước khi ngả lưng, ông đặt vào một ly nước bông hồng mà ông đã giữ tươi nguyên xuyên suốt sa mạc, lấy một ít ngũ cốc ăn kiêng mà ông mang theo dùng thay bữa trưa để bớt ngán ngẩm món phá lấu dê đậy vung đang chờ vào buổi tối và uống một loạt thuốc giảm đau trước giờ quy định, mong được khuây khoả trước cơn đau dày vò. Sau đó ông cắm điện cái quạt máy gần chiếc võng và nằm trần như thế khoảng mười lăm phút dưới bóng bông hồng, luôn cố gắng hết sức giữ tinh thần thư giãn để không phải nghĩ đến cái chết khi chìm vào mộng mị. Ngoài các bác sĩ, không ai biết ông sắp về trời vì ông đã quyết định giữ bí mật cho riêng mình, không thay đổi gì cuộc sống của ông, không phải vì kiêu hãnh mà là vì e ngại.
- Chúng ta ở đây để chinh phục Tự nhiên, - ông lên tiếng với tất cả niềm tin của mình. - Chúng ta sẽ không còn là những đứa con rơi của tổ quốc, những kẻ mồ côi của Thượng đế nơi miền đói khát và mưa nắng thất thường, cũng không là kẻ lưu vong trên chính quê hương của mình. Chúng ta sẽ khác, thưa quý bà quý ông, chúng ta sẽ lớn mạnh và hạnh phúc.

Khoảng ba giờ chiều, ông cảm thấy hoàn toàn làm chủ được mình khi ra lại trước công chúng, vẻ đầy sảng khoái, mặc quần tây vải thô và áo sơmi in hoa, trong lòng khoan khoái sau khi thuốc có hiệu lực. Song le, bớt lo sợ chết chỉ là sự giả tạo trong suy nghĩ của ông vì khi bước lên sân khấu, ông nhận thấy một sự khinh miệt lạ kỳ trước những người đang tranh giành nhau cơ hội được bắt tay ông và không còn thương xót đám người da đỏ đi chân trần chịu đựng cái nóng rát bỏng trên nền đất khô cằn này nữa. Bằng một cái khoát tay, gần như là giận dữ, ông ra hiệu ngưng tiếng vỗ tay và bắt đầu nói không một cử động, mắt dán vào mặt biển đang bốc hơi nóng nghi ngút. Giọng ông chậm và trầm sâu nhờ nước uống lúc giải lao nhưng bài diễn thuyết học thuộc lòng và nhai đi nhai lại nhiều lần không phải dùng để nói lên sự thật; nó chỉ chống lại một phán quyết theo thuyết định mệnh trong quyển IV hồi ức của Marcus Aurelius2.

Đó là những công thức trong trò xiếc của ông. Trong khi ông nói, những người phụ tá ném lên trời những nắm gà mái bằng giấy, và những con vật giả đó như sống dậy, bay bay khắp trên sân khấu và nối nhau bay về phía biển. Cùng lúc đó, những người khác lôi từ xe tải ra những chậu cây giả dùng trong rạp hát có lá vẽ bằng bút phớt và đem trồng trên nền đất khô cằn phía sau đám đông lố nhố. Sau cùng, họ kéo màn trình diễn một khung cảnh làm giả bằng carton bột đúc với những ngôi nhà tường gạch đỏ au và cửa sổ lắp kính, che giấu đi bộ mặt tồi tàn trong cuộc sống thực.

Ngài nghị sĩ say sưa với bài diễn thuyết, trích dẫn hai câu nói tiếng Latin, để cho màn hài kịch thêm hoàn chỉnh. Ông hứa hẹn về những chiếc máy tạo mưa, về những chiếc máy chăn nuôi xách tay cho vật nuôi lấy thịt, về các loại dầu hạnh phúc giúp rau cải mọc được trên nền đất cằn khô và về những chùm bông giấy trên cửa sổ. Khi thấy không còn quên thứ gì trong thế giới tưởng tượng của mình, ông đưa tay chỉ:
- Chúng ta sẽ là như thế, thưa quý bà quý ông! - Ông hô vang. - Chúng ta sẽ là như thế! Hãy nhìn kỹ đi!

Công chúng quay lưng lại. Một chiếc tàu vượt biển bằng giấy vẽ ló ra phía sau các ngôi nhà, một chiếc tàu vượt biển cao hơn cả những ngôi nhà cao nhất thành phố vẽ. Ngài nghị sĩ là người duy nhất thấy lặp đi lặp lại cái cảnh kéo lên kéo xuống, kéo tới kéo lui này, cái ngôi làng carton được nâng cao này cũng bị nhuốm màu mưa nắng, và cũng nghèo nàn, cũng bụi bặm và buồn tẻ như làng Cây Hồng Của Phó Vương.

Lần đầu tiên trong mười hai năm qua, Nelson Farina không đến chào ngài nghị sĩ. Ông nghe bài diễn thuyết, nằm yên trên võng, giữa các quãng giải lao buổi trưa, dưới bóng mát ngôi nhà gỗ thô mà ông đã dựng lên bằng đôi tay dược sĩ của mình, chính đôi bàn tay ấy đã phân thây người vợ đầu của ông. Ông đã trốn khỏi nhà tù Cayenne3 để trở về Cây Hồng Của Phó Vương trên một chiếc tàu chở đầy những kẻ ba hoa vô tội, dẫn kèm theo một cô nàng da đen xinh đẹp đá cá lăn dưa gặp nhau từ hồi ở Paramaribo4 và đã sinh cho ông một cô con gái. Không lâu sau đó người vợ đã mất vì bệnh, nhưng không có may mắn như người vợ trước với phần xác còn lại được đem bón cho hàng suplơ trong vườn rau nhà. Bà được chôn cất nguyên vẹn trong nghĩa trang của làng, với tên gọi Hà Lan của mình. Cô con gái thừa hưởng làn da và vóc dáng của mẹ, và do đó người cha đôi mắt vàng vọt ngỡ ngàng cứ nghĩ rằng mình đang nuôi nấng người phụ nữ đẹp nhất trần đời.

Khi làm quen với ngài nghị sĩ Onésime Sanchez, hồi kỳ vận động tranh cử đầu tiên, Nelson Farina đã đề nghị ông ta giúp làm một thẻ căn cước giả hòng lẩn tránh pháp luật. Ngài nghị sĩ, dễ chịu nhưng kín kẽ, đã từ chối giúp. Nelson Farina nhất quyết không chịu thua; suốt nhiều năm liền, mỗi khi có dịp là ông ta nhắc lại lời đề nghị của mình, bằng cách này hay cách khác. Nhưng ông ta luôn nhận được cùng một câu trả lời. Vì vậy lần này ông ta nằm yên trên võng, chịu chết dí trong cái nóng hầm hập như lửa thiêu. Khi nghe tiếng vỗ tay hoan hô kết cục, ông ta vươn cổ nhìn, và qua những cọc rào, ông thấy được hậu trường của vở hài kịch: nền của những công trình giả, khung cốt của những chậu cây giả, những người phụ trợ ẩn mình phía sau đẩy chiếc thuyền vượt biển. Ông ta nhổ toẹt oán giận.
- Mẹ kiếp, - ông văng tục. - Đúng là trò hề chính trị*.

Khi diễn thuyết xong, theo thói quen ngài nghị sĩ đi một vòng quanh các con đường trong làng, với nhạc trống xập xình và pháo nổ bùm bụp, phụ hoạ thêm cảnh nhiều người ở góc đường bám lấy kể lể khó khăn cơ cực. Ngài nghị sĩ chân tình lắng nghe họ và luôn tìm được cách an ủi người này người kia mà không phải ban cho họ những ân huệ rắc rối. Một bà trèo hẳn lên mái nhà, dẫn kèm theo sáu đứa con, nói oang oang bất kể đám đông ầm ĩ và tiếng pháo ì đùng:
- Tôi không cần gì nhiều hết, thưa ngài nghị sĩ. Chỉ một con lừa để chở nước từ Giếng Người Chết Treo.
Ngài nghị sĩ trông thấy sáu đứa con đầy cáu bẩn, hỏi lại:
- Vậy chồng của bà để làm gì?
- Ông ấy đã đi tìm vận may ở đảo Aruba5, - bà ta trả lời vui vẻ. - Và thứ duy nhất ông ấy tìm được là một trong những con mụ chuyên nhét kim cương vào trong răng ở cái xứ đó.
Câu trả lời làm cho cả đám đông ồ cười.
- Sẽ ổn thôi, - ngài nghị sĩ trả lời. - Bà sẽ có con lừa.

Một lát sau, một người giúp việc của ông dẫn đến nhà bà ta một con vật mang vác, trên mạng sườn vẽ vĩnh viễn biểu tượng của cuộc vận động bầu cử, để cho không ai quên được có sự hiện diện của ngài nghị sĩ.
Trong chuyến diễn thuyết ngắn ngủi này, có vài chỗ làm cho ông để ý tới. Ông đút cả cháo cho một người bệnh đòi được dìu khỏi giường đưa ra tận cửa để nhìn ông đi qua. Ở góc đường, ông thấy Nelson Farina đang nằm trên võng, mắc giữa hàng cột trước sân; ông ta có mái tóc đang ngả màu hoa râm và khuôn mặt ủ dột. Ông lạnh nhạt chào ông ta.
- Ông khoẻ chứ?
Nelson Farina quay lại và chằm chặp nhìn ông với ánh mắt vàng vọt u buồn.
- Tôi, ngài biết rồi đó*, - ông ta trả lời.

Cô con gái ông ta vừa bước ra sân khi nghe hai người chào nhau. Cô mặc một chiếc váy vùng Guajira6 bình thường cũ kỹ, đầu quấn những dải ruban sặc sỡ và khuôn mặt lem nhem kem chống nắng. Bất kể dáng vẻ luộm thuộm này, cô gái vẫn khiến cho người ta tin rằng không có người phụ nữ nào đẹp hơn nữa trên mặt đất này. Ngài nghị sĩ nghe mình thở gấp.
- Khỉ gió thật! - ông thở dài, không khỏi ngạc nhiên. - Rõ là ông trời khéo sắp đặt!

Tối hôm đó, Nelson Farina cho con gái ăn vận những thứ đẹp nhất và cho đi đến gặp ngài nghị sĩ. Hai người lính gác mang súng ngắn đầu gật gù dưới cái nóng bức của ngôi nhà ra lệnh cho cô ngồi chờ trên cái ghế duy nhất ngoài tiền sảnh.

Ngài nghị sĩ đang ở phòng kế bên, trong cuộc họp với các vị thân hào làng Cây Hồng Của Phó Vương được mời đến để tiết lộ những sự thật ẩn giấu đằng sau những bài diễn thuyết của ông. Họ cũng giống như tất cả những người khác ông đã gặp trong các ngôi làng vùng sa mạc, cái xứ mà Onésime Sanchez đã ngán tận cổ những buổi họp tối như thế này. Chiếc áo sơmi ướt đẫm mồ hôi và ông định hong khô luôn cả thân mình bằng luồng hơi nóng của cái quạt điện đang kêu vo vo như một con muỗi khổng lồ trong căn phòng họp mạnh ai nấy ngủ gà ngủ gật.
- Chúng ta thì khác, chắc chắn rồi, chúng ta không mù quáng theo những con gà mái giấy, - ông nói.

- Các ngài và tôi chúng ta đều biết rằng cái ngày mà cây cối hoa cỏ mọc lên trên mảnh đất chó ăn đá gà ăn sỏi này, cái ngày mà cá lội trong mương trong giếng thay cho bầy loăng quăng, thì cũng là ngày mà cả các ngài lẫn tôi chẳng còn chuyện gì làm ở cái xứ này nữa. Các ngài vẫn nghe tôi đấy chứ?

Không ai trả lời. Trong khi nói, ngài nghị sĩ đã gỡ một tờ lịch và xếp hình một con bướm. Ông thảy nó ra trước luồng gió cánh quạt, không vì một lý do nào. Con bướm bay vòng quanh trong phòng rồi lao thẳng ra phía cánh cửa hé mở. Ngài nghị sĩ tiếp tục nói với một sự tự tin được củng cố bằng sự đồng loã của cái chết.
- Vì vậy, - ông ta nói, - tôi không cần phải lặp lại với các ngài điều mà các ngài vẫn biết rõ: tôi tái đắc cử là cách tốt nhất cho các ngài cũng như bản thân tôi, bởi vì cho tới bây giờ tôi vẫn điều khiển được cuộc sống nhớp nháp và sức lao động của người da đỏ, trong khi các ngài, các ngài sống nhờ vào điều đó.

Laura Farina trông thấy con bướm giấy bay ra ngoài. Cô là người duy nhất thấy nó bởi vì những người lính gác ngoài tiền sảnh đã ngủ gục trên băng ghế, súng vẫn bồng trên tay. Sau vài vòng, con bướm giấy lịch to đùng ấy duỗi thẳng ra ép bẹp dí lên tường rồi dính luôn ở đó. Laura Farina cố gỡ nó ra bằng con dao nhíp. Một người lính vừa tỉnh dậy bởi tiếng vỗ tay hoan hô ở phòng bên, nhận thấy cô đang cố làm một việc thật vô ích.
- Không có gỡ nó ra được đâu, - anh ta ngái ngủ nói. - Người ta vẽ lên tường mà.

Laura Farina quay trở lại ghế ngồi khi các quý ông rời cuộc họp bước ra. Ngài nghị sĩ đứng ở cửa phòng, vịn nắm tay cầm, và chỉ nhìn thấy Laura Farina khi ngoài tiền sảnh không còn một ai.
- Cô làm gì ở đây?
- Là để thay mặt cho cha tôi*, - cô nói.

Ngài nghị sĩ hiểu ra. Ông liếc nhìn những người lính gác đang ngủ gục, sau đó liếc nhìn Laura Farina trong vẻ đẹp không tưởng tượng nổi đang thúc giục ông còn gấp gáp hơn cả nỗi đau dày vò và cho ông thấy rõ cái chết đã định sẵn.
- Vào đây, - ông ra hiệu cho cô.

Laura Farina đứng trầm trồ trước cửa phòng: hàng ngàn tờ bạc ngân hàng bay tung trong gió, chập chờn như những cánh bướm. Nhưng ngài nghị sĩ tắt quạt đi, và khi không còn gió, các đồng tiền lả tả rơi xuống khắp các đồ vật trong phòng.
- Cô thấy không, - ông cười mỉm nói, - ngay cả rác rưởi cũng bay được.

Laura Farina ngồi xuống, như ngồi trên băng ghế nhà trường. Cô có làn da mịn màng và êm ái, có màu và độ bóng sánh cùng với dầu thô. Mái tóc cô tựa như mái bờm một nàng ngựa cái tơ nõn nà nhất và đôi mắt mênh mông thì sáng rực như lửa. Ngài nghị sĩ nhìn theo ánh mắt cô đang dừng lại trên cánh hồng bị vấy bẩn.
- Đó là một bông hồng, - ông nói.
- Vâng, - cô nói có vẻ bối rối. - Tôi đã thấy nó ở Riohacha7.

Ngài nghị sĩ ngồi lên chiếc giường dã chiến, vừa kể về bông hồng vừa cởi nút áo sơmi. Trên một bên ngực, ở nơi ông cho là trái tim đang trú ngụ, có một hình xăm hải tặc: một trái tim bị cung tên xuyên thủng. Ông ném chiếc áo ướt đẫm xuống đất và bảo Laura Farina đến cởi giày bốt cho ông.
Cô quỳ gối bên cạnh giường. Ngài nghị sĩ tiếp tục dò xét cô, mặt đăm chiêu, trong khi cô tháo dây giày. Ông tự hỏi ai trong hai người là kẻ bất hạnh hơn trong cuộc phiêu lưu này.
- Cô hãy còn là một cô bé, - ông nói.
- Đừng nghĩ vậy, - cô nói. - Tháng tư này tôi sẽ tròn mười chín tuổi.
Ngài nghị sĩ thấy hứng thú hơn.
- Ngày mấy?
- Ngày mười một, - cô trả lời.
Ngài nghị sĩ thở ra nhẹ nhõm.
- Chúng ta cùng có mạng Cừu, - ông nói, và mỉm cười nói thêm: - Đó là dấu hiệu của sự cô đơn.

Laura Farina không để ý đến ông vì mải mê nghĩ không hiểu giày bốt dùng để làm gì. Phần ngài nghị sĩ, không biết Laura Farina đang làm gì, lại không quen có những tình cảm yêu đương bất chợt. Hơn nữa, trong mắt ông chuyện này có nguồn gốc không đàng hoàng. Chỉ có cách cướp lấy thời gian và khỏi bận tâm, ông kéo Laura Farina vào giữa hai đầu gối, ôm vòng lấy cô và đặt nằm ngửa trên giường. Đến lúc này ông mới nhận ra cô không mặc gì dưới chiếc váy; thân thể cô bốc ra mùi nhờ nhợ hoang dã nhưng trái tim cô đập loạn xạ và làn da lạnh tái đi vì khiếp sợ.
- Chẳng ai yêu thương chúng ta cả, - ông thở dài.
Laura Farina muốn nói điều gì đó, nhưng cô thấy ngợp thở. Cô chỉ đủ sức hít thở cầm chừng. Ông đặt cô nằm qua cạnh bên để giúp cô, với tay tắt đèn và căn phòng chìm vào dưới bóng tối lờ mờ của bông hồng. Cô tự nhủ thương cảm cho số phận của mình. Ngài nghị sĩ nhẹ nhàng vuốt ve cô, bàn tay chỉ chạm khẽ lên da, và đến chỗ ông mong tìm thấy, ông chạm phải một vật bằng kim loại.
- Cô có cái gì ở đây vậy?
- Một cái ổ khoá, - cô trả lời.
- Chuyện quái quỉ gì đây! - ngài nghị sĩ nổi xung lên. Và ông hỏi cô thứ ông biết rất rõ: - Chìa khoá đâu?
Laura Farina thở ra nhẹ nhõm.
- Chỉ cha tôi mới có nó, - cô trả lời. - Cha tôi sai tôi tới nói là ông có thể cho người đi lấy nó với một tờ giấy ghi lời hứa sẽ giải quyết chuyện của ông ấy.

Ngài nghị sĩ trong bụng ức giận, nghiến răng rủa thầm: “Trò cắm sừng rác rưởi!” Rồi ông nhắm mắt thả lỏng người và suy ngẫm trong bóng tối. Hãy nhớ lấy rằng, - ông nhớ lại, - dù ngươi hay là ai khác, các ngươi sớm muộn gì rồi cũng sẽ chết và chẳng mấy lâu sau, người ta sẽ quên bẵng đi ngay cả tên họ của các ngươi*. Một cơn rùng mình thoáng qua người ông.
- Hãy nói cho ta biết, - ông cất tiếng hỏi. - Cô nghe người ta nói gì về ta?
- Ngài có muốn nghe sự thật, sự thật thực sự?
- Ta muốn nghe sự thật, sự thật thực sự.
- Vậy thì, - Laura Farina mạnh dạn thì thầm, - người ta nói là ông ghê gớm hơn người khác bởi vì ông khác họ.
Ngài nghị sĩ không có vẻ gì lúng túng. Ông im lặng thật lâu, mắt nhắm nghiền, và khi mở mắt ra lại, có thể tin rằng ông đã quay về với những bản năng được che đậy kín kẽ nhất.
- Thật là đồ rác rưởi! - Ông kết luận. - Cô về nói với cha cô là tôi sẽ dàn xếp việc của ông ấy.
- Nếu ngài muốn, tôi có thể tự mình đi tìm chìa khoá, - Laura Farina nói.
Ngài nghị sĩ giữ cô lại.
- Quên cái chìa khoá đi, - ông nói, - và ngủ với ta một lát. Có được ai đó bên cạnh thật là hay trong những lúc cô độc.

Cô áp ông vào vai mình, mắt đăm đăm nhìn bông hồng. Ngài nghị sĩ ôm vòng lấy cô, dụi đầu vào dưới đôi cánh tay hoang dã của cô và gục ngã trước nỗi khiếp sợ. Sáu tháng mười một ngày sau đó, ông đã chết ở cùng một tư thế, để lại những lời đồn thổi về vụ tai tiếng vì Laura Farina. Nhưng ông đã khóc giận nếu không được chết trong vòng tay cô.


Theo bản dịch tiếng Pháp của Claude Couffon, in trong: Raconter des histoires, Nouvelles recueillies par Nadine Gordimer, Édition Grasset & Fasquelle, Paris, 2005)
Nguồn: Người đại biểu nhân dân (số 07-08 tháng 12/2005)

Ghi chú:
1 Göttingen: thành phố ở Đức, có trường đại học nổi tiếng về cơ khí xây dựng.
2 Marcus Aurelius Antoninus: hoàng đế La Mã (161-180).
3 Cayenne: thủ phủ vùng Guyane, thuộc địa Pháp ở Nam Mỹ.
4 Paramaribo: thủ đô Surinam.
5 Aruba: một đảo thuộc quần đảo Antilles thuộc địa Hà Lan.
6 Guajira: bán đảo ở Nam Mỹ (Colombia và Venezuela).
7 Riohacha: thành phố ở Colombia, thủ phủ vùng Guajira.
8 Theo cung hoàng đạo phương Tây, những người sinh từ ngày 21 tháng 3 đến 20 tháng 4 có mạng Cừu.
* Nguyên văn nhân vật nói bằng tiếng Pháp.




http://img191.imageshack.us/img191/8965/market0ob.jpg
Gabriel García Márquez được bạn đọc Việt Nam biết đến qua bản tiếng Việt chuẩn xác và giàu cảm xúc của cố dịch giả Nguyễn Trung Đức, với “ Trăm năm cô đơn”, “Tình yêu thời thổ tả”, “Ngài đại tá chờ thư”, “Tướng quân giữa mê hồn trận”, “Giờ xấu”, “Mười hai truyện phiêu dạt”…Và gần đây là tự truyện nổi tiếng “ Sống để kể lại” qua bản dịch của Lê Xuân Quỳnh.

Với tư duy nghệ thuật độc đáo, Márquez đã thể hiện trong các tác phẩm của mình một tình yêu vừa thơ ngây vừa sâu sắc, mãnh liệt đối với con người, với cuộc đời. Ông đã nhận được nhiều giải thưởng lớn, trong đó có giải Nobel văn học vào năm 1982.

:yes:

KoK
03-07-2006, 01:38
Cám ơn anh TNDH rất nhìu, các câu truyện đều rất hay và có những chi tiết thật bất ngờ:)!

ThichNuDiuHien
05-07-2006, 15:12
http://img151.imageshack.us/img151/5315/hgwells15vd.jpg
H.G. Wells ra đời năm 1866 trong một gia đình nghèo khó và nhiều tai họa. Bằng trí thông minh hiếm có và chí phấn đấu mãnh liệt, mặc dù phải bận rộn vật lộn với miếng ăn ngay trong thời niên thiếu, ông vẫn đạt những bước tiến đều trên con đường học vấn. Được đại học Royal College of Science, Kensington, cấp học bổng, ông là một sinh viên ưu tú của khoa học gia nổi tiếng T.H. Huxleỵ Ra trường với ngành động vật học, ông có dự tính trở thành một giáo sư. Không ngờ năm 21 tuổi, một tai nạn trên sân túc cầu phá hư một chiếc thận; ông phải nằm liệt giường một thời gian dài; con đường dạy học đành bỏ dở. Hoàn cảnh thiếu may mắn đó bắt buộc ông phải ứng biến, và tình cờ bước vào sự nghiệp văn chương.
Kiến thức khoa học có sẵn cộng với óc tưởng tượng vô cùng phong phú trở thành tài sản quý báu, Wells thành công rất sớm với những truyện ngắn, xã luận, và tranh khôi hài đăng báo. "The Time Machine" là truyện dài đầu tay của ông, xuất hiện từng kỳ trên mặt báo rồi được in thành sách năm 1985. Độc giả khắp nơi thấy ngay dấu hiệu của một thiên tài, và Wells nổi tiếng nhanh chóng khắp thế giới.
Trong vòng năm mươi năm, H.G. Wells cho ra đời một số lượng kinh hồn là 150 tác phẩm. Ông viết nhiều loại, nhưng thành công nhất vẫn là khoa học giả tưởng, mà ngoài "The Time Machine" còn phải kể đến "War of the Worlds" (chiến tranh liên hành tinh), "The Invisible Man" (người vô hình), "The Island of Doctor Moreau" (hòn đảo của bác sĩ Moreau).
Ông mất năm 1946 giữa lúc uy tín đang suy sụp trầm trọng vì xuất bản quá nhiều tác phẩm tầm thường - nằm ngoài sở trường khoa học giả tưởng của ông - trong hơn 20 năm liền. Nhưng gần đây phong trào đọc H.G. Wells đã mạnh mẽ trở lại. Người ta khám phá rằng trong khoảng 20 tác phẩm có lẽ sẽ tồn tại vĩnh viễn với thời gian, Wells không những chỉ chứng tỏ tài nghệ văn chương mà còn có viễn quan chính xác. Những suy tưởng của ông về con người, về thế giới, về vũ trụ không còn là giả tưởng xa xôi nữa, mà càng lúc càng phản ảnh trung thực đời sống đầy bất trắc và hoang mang của chúng ta.



XỨ SỞ CỦA NGƯỜI MÙ

H.G.WELLS

Chân Quỳnh dịch
Cách Chimborazo khoảng hơn ba trăm dậm, cách vùng tuyết phủ Cotopaxi độ một trăm dậm, ở một nơi hoang-vu nhất trong dẫy trường sơn Andes xứ Ecuador, có một cái thung-lũng bí mật, biệt lập với thế-giới bên ngoài, đấy là xứ sở của những người mù. Từ ngày xửa ngày xưa, lâu lắm rồi, người ta đến thung-lũng này bằng cách vượt những hẻm núi vô cùng hiểm-trở và một sơn đạo băng đóng trơn truột, đến những cánh đồng cỏ quanh năm xanh tốt. Thế rồi có một gia-đình người Pérou lai, trốn tránh chế-độ độc-tài và bạo quyền của một ông vua Y-pha-nho, kéo nhau đến đây định cư. Kế đó, ngọn núi Mindobamba phun lửa dữ-dội, trong khi ở Quito đêm tối mù-mịt kéo dài mười bẩy ngày giòng-giã, và nước sông ở Yaguachi sôi sùng-sục, cá chết nổi lềnh-bềnh trôi đến tận Guayaquil ; men theo sườn núi ven biển Thái-bình-dương đâu đâu cũng có động đất, băng tuyết tan rã rất nhanh và nước lụt dâng lên bất ngờ. Đỉnh Arauca cổ xưa lở hẳn một bên, lăn xuống ầm ầm như sấm độïng và vĩnh viễn tách xứ của người mù thành một cõi riêng. Nhưng một trong những người định cư sớm nhất tình cờ lại đến hẻm núi phía bên này, khi trận động đất kinh-hồn xẩy ra, nên ông ta bắt buộc phải quên hết vợ con, bè bạn, tài sản bỏ lại trên kia và bắt đầu một cuộc đời mới ở cái thế-giới bên dưới này. Ông bắt đầu lại cuộc đời, nhưng gập hoàn-cảnh bất lợi, ông mắc bệnh mù rồi bị trừng phạt chết trong hầm mỏ. Nhưng câu chuyện ông kể trở thành cổ-tích lưu truyền cho tới nay suốt giải núi trùng điệp Cordillière des Andes.
Ông kể lại những lý do vì sao ông phải từ nơi sơn ải đó lần mò về. Ông đến đó từ khi chỉ là một đứa bé bị buộc chặt vào con đà-mã với một cái bọc to tướng đựng các vật dụng. Ông cho biết cái thung-lũng ấy là nơi phúc-địa, có đủ mọi thứ mà con người hằng mơ ước : nước ngọt, đồng cỏ, khí hậu ôn-hoà, sườn núi đất đen mầu mỡ, với những bụi cây um-tùm, quả chín ngon ngọt. Trên một sườn núi khác là những cánh rừng thông rộng lớn ngăn chặn tuyết lở. Tít trên cao, ba mặt vách đá xanh xám có băng ở tột đỉnh, nhưng những con sông băng đóng không chẩy về phía họ mà lại chẩy ra những sườn đồi xa hơn, và chỉ thỉnh-thoảng mới có những tảng băng khổâng-lồ lăn xuống mé thung-lũng. Ở sơn cốc này không bao giờ có mưa, hay tuyết, nhưng nhờ những dòng suối đầy tràn nên đồng cỏ vẫn xanh tươi và có nước tưới chan hòa khắp nơi. Những người dân định cư ở đây quả đã hoàn-thành một công việc đáng khen ngợi. Thú vật do họ chăn nuôi, sinh sôi nẩy nở, chỉ hiềm có một điều khiến hạnh-phúc của họ không được trọn vẹn. Chỉ mỗi một điều này cũng đủ làm cho hạnh-phúc của họ giảm đi rất nhiều. Một chứng bệnh cổ-quái khiến cho tất cả những đứa trẻ sinh ra ở đây và cả rất nhiều đứa lớn hơn cùng mắc tật mù lòa. Chính là để đi kiếm một thứ linh dược hay bùa phép thần-diệu về trị bệnh thong-manh mà ông đã chẳng quản mệt nhọc, đường xa hung-hiểm, xông pha lăn lội xuống núi, tìm về quê cũ. Vào thuở ấy, trong những trường hợp như thế người ta không nghĩ đến vi-trùng, truyền-nhiễm, mà chỉ nghĩ đến tội lỗi.Và ông nghĩ lỗi chính là do những người di cư đầu tiên không có giáo sĩ đã quên dựng một điện thờ khi đặt chân đến cái thung-lũng này. Ông muốn thiết-lập trong sơn cốc một cái điện thờ đẹp-đẽ và linh thiêng, không xa-hoa. Ông muốn có những thánh cốt hay những bùa phép gây lòng tín ngưỡng, những thánh vật, mề-đay thần bí, nhữnh thánh kinh. Ông mang theo trong bọc một nén bạc nhưng không chịu cho biết nguồn gốc, khăng-khăng một mực nói rằng sơn cốc không có bạc, nhưng lời chối đây đẩy của ông rõ là cung cách của một kẻ nói dối chưa thiện nghệ. Tất cả mọi người đều đóng góp tiền bạc và các vật trang-hoàng quý giá vì họ nghĩ những vật ngoại thân ấy không cần-thiết, thà đem đánh đổi lấy phép mầu để trị bệnh. Tôi tưởng tượng ra hình ảnh một thanh-niên miền sơn cước, mắt mờ, da sạm nắng, gầy-guộc, lo-lắng, bồn-chồn ôm chặt cái mũ rộng vành, một thanh-niên không mảy may quen thuộc lề thói của cái thế-giới bên dưới, kể lại chuyện này cho một vài giáo-sĩ mắt sáng chăm-chú nghe trước khi cơn địa chấn xẩy ra. Tôi hình dung chàng tìm cách trở về với những thánh vật, linh dược để trị bệnh và những nông nỗi khó-khăn vô vàn chán-nản đối trước khoảng đất rộng ngổn-ngang loạn thạch, nơi trước kia là hẻm núi. Tôi không rõ hết những tai biến khác đã xẩy ra cho chàng ngoại trừ cái chết khốn-khổ nhiều năm về sau. Tội-nghiệp cho con người lạc-lõng từ xa đến ! Con sông trước kia là hẻm núi nay đổ ào ào xuống từ một thạch động, và câu chuyện anh vụng về kể lại đã biến thành sự tích của giống người mù lòa ở một chốn xa-xôi nào đó mà ngày nay ta còn nghe thuật lại.
Tai họa tiếp-tục giáng xuống những người dân thưa-thớt, hiếm-hoi của cái thung-lũng trơ-trọi đã bị bỏ quên ấy. Những người già lòa mắt phải sờ-soạng, những đứa bé chỉ nhìn thấy lờ-mờ, còn những đứa sinh ở đây thì hoàn toàn mù tịt. Nhưng đời sống lại rất dễ-dàng trong cái lòng chảo bốn bề tuyết vây, tuyệt-tích với thế-giới bên ngoài : cỏ cây không chông gai, không sâu trùng, dã thú không có mà chỉ có những con đà-mã hiền-lành họ đã lôi kéo được đi theo lòng sông cạn trong những hẻm núi. Mục-lực của họ cứ yếu dần nên họ không để ý đến sự mất mát này. Họ hướng dẫn những đứa trẻ mù lòa di chuyển khắp nơi trong thung-lũng kỳ đến khi chúng thuộc lòng đường đi lối lại, thành thử khi họ mù hẳn thì dòng giống họ vẫn tồn tại. Họ còn tìm ra cách giữ cho lửa khỏi tắt trong những cái lò bằng đá. Lúc đầu họ chỉ là một cộng đồng mù chữ hơi có liên-quan đến văn-minh Y-pha-nho, pha trộn với một ít ảnh-hưởng của nghệ-thuật và triết-học đã thất truyền của xứ Pérou thời thượng cổ. Đời này qua đời khác, họ đã quên đi rất nhiều điều mà cũng đã phát-minh ra nhiều thứ. Những truyền-thuyết, tập tục của cái thế-giới bao la, nguồn gốc của họ, trở nên mơ-hồ, đượm mầu sắc hoang-đường, thần-thoại. Trừ cặp mắt kém ra thì họ là những con người khỏe mạnh, có năng lực. Thế rồi tình cờ và do huyết thống lưu truyền họ bỗng sinh ra được một người kiệt xuất, có thể đứng ra lên tiếng thu phục họ. Sau đó họ còn sinh thêm được một người thứ hai nữa cũng để lại nhiều ảnh-hưởng sâu đậm. Từ đó, cái tiểu xã-hội của họ trở nên đông đúc hơn và cũng hiểu biết hơn. Họ có thể họp nhau để xử lý những vấn-đề xã-hội hay kinh-tế. Đời này qua đời khác, đời này kế tiếp đời khác, cho đến đời thứ mười lăm kể từ ông tổ mang nén bạc ra đi tìm thánh dược và không bao giờ trở lại. Thế rồi bất ngờ lại có một người từ thế-giới bên ngoài lọt vào được cái thung-lũng tuyệt-tích ấy. Sau đây là chuyện của người này.
Hắn là một sơn nhân ở gần Quito, một người đã từng ra khơi, đi đó đi đây, nhiều lịch-duyệt, một người đọc sách theo kiểu riêng của mình, một người đã tinh quái lại gan dạ. Lúc bấy giờ có một toán người Anh đến Ecuador để leo núi đã thuê hắn thế chân cho một trong ba người hướng-đạo Thụy-sĩ bị ốm. Hắn đã từng leo khá nhiều núi rồi mới thử đến ngọn Paracostopelt trong rặng núi Andes, và lần ấy hắn bị mất tích luôn. Tai nạn này được kể đi kể lại hàng chục lần , nhưng chỉ có chuyện của Pointer thuật là hay nhất. Pointer tả tường-tận những nỗi vất-vả khi cả đoàn phải leo lên con dốc hầu như dựng đứng đến chân một cái vách đá cuối cùng và lớn nhất. Họ đã chật-vật dựng lều trú ẩn ban đêm trên một thạch-bàn giữa vùng tuyết ngập. Pointer có biệt tài kể chuyện khiến mọi người hồi-hộp theo dõi từ khi đoàn thám- hiểm phát-giác sự thất-tung của Nunez ra sao. Họ réo gọi hắn vang ầm lên nhưng không thấy trả lời, họ lại hô hoán thêm và huýt còi, thế rồi suốt nửa đêm ấy không ai chợp mắt được nữa.
Khi trời tảng sáng họ nhìn thấy dấu vết Nunez ngã lăn xuống in hằn trên mặt tuyết. Dường như hắn không kịp kêu lên một tiếng nào. Hắn trượt chân ở mé đông, lăn tuột xuống một khu hoang-sơn. Tít bên dưới, hắn rơi trúng một cái dốc sâu tuyết đóng, tiếp tục lăn-lông-lốc xuống cùng với đám tuyết lở. Vết lăn thẳng đến bờ một cái vực thẳm, sau đó mọi dấu tích đều bị khuất lấp. Xa lắc xa lơ bên dưới, họ lờ-mờ thấy những ngọn cây vươn lên từ một cái thung-lũng nhỏ hẹp bốn bề vách đá . Đấy là cái xứ đã tuyệt-tích của những người mù. Nhưng lúc bấy giờ chưa ai rõ đấy là xứ người mù và họ cũng không phân-biệt được nó với những sơn cốc nhỏ hẹp khác. Nản lòng trước tai nạn bất ngờ này, cả đoàn bỏ cuộc ngay từ trưa hôm ấy. Sau đó, vì chiến-tranh, Pointer phải nhập ngũ trước khi có dịp leo thử một lần nữa. Và cho tới nay, đỉnh Paracostopelt vẫn ngạo-nghễ vươn lên, chưa có ai đặt chân tới được. Cái lều của Pointer trở nên xiêu vẹo, giữa vùng tuyết phủ không kẻ vãng lai.
Nhưng người rơi xuống vực còn sống sót.
Lăn hết cái dốc đầu khoảng ba trăm thước, cuốn theo cả đám tuyết mù, hắn lọt vào một cái dốc tuyết bám khác lại còn dựng ngược hơn cái trên, cơ hồ mất hết tri-giác nhưng may không gẫy một cái xương nào. Sau đó hắn rơi trên những triền dốc thoai-thoải hơn và cuối cùng dừng lại nằm im, vùi sâu trong đống tuyết xốp trắng đã cuốn theo khi hắn lăn xuống và đã cứu hắn. Nunez tỉnh dậy, mơ-màng tưởng mình đang nằm trên giường, nhưng linh-tính của người dân miền sơn cước khiến hắn hiểu ngay hiện tình, liền cựa quậy, lóp-ngóp chui dần ra khỏi đống tuyết và nhìn thấy những ngôi sao nhấp-nháy trên trời. Hắn nằm sóng sượt một lúc, tự hỏi mình đang ở đâu, chuyện gì đã xẩy ra cho mình. Hắn sờ nắn tứ chi, khám phá ra cái áo choàng đã lộn ngược lên trên đầu, khuy đứt gần hết. Con dao găm trong túi rơi lúc nào không biết. Cái mũ buộc chặt dưới cầm cũng mất nốt. Hắn nhớ mang máng lúc ấy đang đi nhặt đá để dựng lều. Cả cái rìu cũng mất tăm mất tích.
Nunez đoán mình đã trượt chân rơi xuống vực và ngửng đầu nhìn lại cái dốc ghê-rợn hắn vừa lăn xuống. Dưới ánh trăng mới mọc, lạnh-lẽo và nhợt-nhạt, cái dốc trông càng rùng-rợn, sâu hun-hút. Trong một lúc, Nunez nằm yên nhìn trừng-trừng lên cái vách đá sừng-sững bên trên, càng lúc càng thấy nó cao ngất-ngưởng, vươn ra khỏi bóng tối đang lùi dần. Vẻ đẹp kỳ-bí, ma quái thu hút Nunez một lúc rồi bỗng hắn bò lăn ra mà cười nức-nở.
Một lúc lâu sau, Nunez nhận thấy mình nằm kề ngay chân cái dốc tuyết đọng. Bên dưới, trăng soi tỏ một cái dốc khác có vẻ dễ đi, Nunez thấy những mảng đen-đen của các bụi cây rậm, mọc chen giữa mấy tảng đá. Hắn gượng đứng dậy, tứ chi ê ẩm, lần mò từng bước khó-khăn từ đống tuyết xốp xuống tới bụi cây rậm rồi lăn kềnh ra thì đúng hơn là nằm, bên một tảng đá lớn, móc túi trong lấy chai nước ra tu ừng-ực rồi thiếp đi ngay.
Tiếng chim chiêm-chiếp văng-vẳng từ rặng cây tít bên dưới đánh thức Nunez dậy.
Hắn ngồi lên, thấy mình nằm trên bãi cỏ nhỏ ở đáy một cái vực sâu, hắn đã cùng với tuyết lăn tuột xuống đây theo một cái rãnh. Trước mặt có một vách đá bích lập khác. Cái khe núi giữa hai vách đá chạy từ đông sang tây đang chan hòa ánh bình-minh, nắng rọi đến tận triền núi phía tây chận đứng cái dốc. Bên dưới dường như có một vách đá cũng dốc ngược không kém, nhưng phía sau rãnh tuyết là một cái khe, băng đang tan rữa, nhỏ xuống từng giọt, có thể liều đi được. Nunez nhận ra đi dễ hơn hắn tưởng, cuối cùng hắn đến một bãi cỏ hoang khác và sau khi leo qua những tảng đá không mấy khó-khăn tới một cái sườn núi dốc sâu, có cây mọc. Nunez ngắm địa-thế, ngửng mặt nhìn lên cái hẻm núi thấy nó ăn thông với những thảm cỏ xanh bên trên và trông rõ mồn-một túm-tụm mấy căn nhà đá hình thù kỳ-dị. Có lúc hắn tưởng mình đang leo lên một bức tường trơn tuột. Một lúc sau, ánh dương-quang không còn chiếu xuống hẻm núi, tiếng chim hót cũng tắt. Khí trời quanh Nunez trở nên lạnh giá và tối dần. Nhưng cái thung-lũng xa xa với những căn nhà trông lại càng sáng ngời. Bây giờ hắn đến một bờ dốc và giữa những tảng đá hắn để ý ? vì Nunez rất có óc quan-sát ? thấy một cây dương-xỉ hình thù kỳ-lạ, như đang vươn những cánh tay xanh ngắt ra khỏi kẽ núi nứt-nẻ. Hắn bẻ một cái như cái lá, nhấm thử cuống thấy ăn được.
Khoảng giữa trưa, Nunez thoát được ra khỏi hẻm núi đến một khu đồng bằng có ánh nắng. Mình mẩy hắn tê cứng, mệt mỏi, hắn uể-oải ngồi tránh nắng sau một tảng đá, vốc nước suối đầy chai giải khát, nghỉ một lúc trước khi tiến về phía có nhà cửa.
Những ngôi nhà này trông rất kỳ-quặc và khi quan-sát toàn diện cái sơn cốc, hắn càng thấy nó cổ-quái. Phần lớn thung-lũng là một bãi cỏ xanh mướt điểm rất nhiều khóm hoa thật đẹp được tưới bón vô cùng cẩn-thận, rõ ràng có bàn tay người chăm sóc từng khóm một. Trên cao là một bức tường vây chạy vòng quanh thung-lũng và một cái gì như ống dẫn nước từ đó có những tia nước phun xuống sơn cốc để tưới cây. Trên sườn núi cao hơn, từng đoàn đà-mã đang gậm cỏ. Rải-rác đó đây, tựa vào tường là những cái chuồng chăn nuôi đà-mã.
Ở trung-tâm thung-lũng, các rãnh nước tưới cây nhập lại thành một cái lạch và mỗi bên có tường xây cao tới ngực. Cái chốn hẻo-lánh này nhờ điểm đó lại mang nét thị-thành kỳ-lạ. Vẻ thị-thành càng tăng thêm với những con đường lát đá đen trắng, chạy theo hàng lối, đường nào cũng có một vỉa hè nhỏ và kỳ-dị. Những ngôi nhà ở trung-tâm thung-lũng khác hẳn những căn nhà xây hỗn-độn trên núi mà hắn từng thấy. Nhà ở đây, dựng hai bên một con đường cái sạch vô tưởng, mặt tiền nhiều mầu loang-lổ, đó đây có đục những cái cửa ra vào nhưng tuyệt nhiên không có lấy một cái cửa sổ. Mầu sắc pha trộn rất quái-đản, vách trát bằng một thứ vữa chỗ thì xám-xịt, chỗ mầu nâu tái, thỉnh-thoảng xen lẫn mầu đá đen hoặc nâu sẫm. Chính cái quang cảnh sắc mầu loạn xạ này đã khiến hắn liên-tưởng lần đầu tiên đến chữ " mù ". " Tướng nào thực-hiện cái công-trình này chắc là mù tịt như một con dơi " Nunez bụng bảo dạ.
Hắn xuôi dốc đến chỗ có bức tường vây và ống nước chạy quanh thung-lũng, gần nơi mà ống nước phun xuống một màn nước mỏng rung-rinh. Bây giờ hắn mới trông thấy một bọn người vừa đàn ông vừa đàn bà đang nghỉ trên những đống cỏ, dường như họ đang ngủ trưa. Xa xa trên bãi cỏ, gần cái làng, một lũ trẻ nằm ngổn-ngang, gần kề bên cạnh, ba người đàn ông đang gánh những cái thùng đi trên con đường đá nhỏ chạy từ bức tường vây đến những ngôi nhà. Họ mặc quần áo đà-mã, thắt lưng và ủng bằng da, mũ che gáy và hai tai. Họ nối đuôi nhau đi hàng một, đủng-đỉnh bước, vừa đi vừa ngáp dài y như người mới thức trắng đêm. Có cái gì khiến người ta yên-tâm trong dáng vẻ sung-túc và khả kính của họ. Sau một lúc ngần-ngừ, Nunez xuất đầu lộ diện, bước lên tảng đá, cất tiếng gọi to, dư âm vang dội khắp thung-lũng.
Ba người đàn ông dừng chân, ngoảnh đầu nhớn-nhác như tìm kiếm xung quanh. Họ quay ngang quay ngửa, còn Nunez thì vung tay rối-rít ra hiệu song có lẽ họ không trông thấy. Sau một lúc, họ tiến về phía dẫy núi xa xa, mé tay phải, và cất tiếng gọi to như để đáp lại. Nunez lại gào lên, vung vẩy tay ra hiệu và khi nhận ra vô ích, đột nhiên chữ " mù " lóe ra trong óc hắn : " Không khéo các cha này mù cả lũ rồi ! "
Cuối cùng, sau khi gào chán chê và cáu-kỉnh, Nunez vượt chiếc cầu nhỏ vắt ngang dòng nước, xuyên qua một cái cửa đục trong tường và tiến đến gần họ. Hắn chắc chắn những nguời này đã lòa và biết rõ đây là xứ sở của người mù mà người ta vẫn kể trong những chuyện cổ-tích, thần-thoại. Hắn tưởng như mình đang trải qua một cuộc phiêu-lưu thích-thú mà mọi người hằng mơ tưởng, ước ao. Ba người đàn ông sóng vai nhau đứng, không nhìn hắn nhưng tai lại vểnh về phía hắn, lắng nghe tiếng bước chân khác lạ của hắn. Họ đứng sát cánh nhau ra chiều hơi khiếp-sợ. Hắn thấy rõ mi mắt họ khép kín và sâu trũng làm như nhãn-cầu bên dưới đã teo lại. Mặt họ lộ vẻ hoang-mang.
" Có người ? đích thị là có người ? người hay là quỷ thần đi từ phía những tảng đá xuống ". Một người thốt bằng thứ tiếng lơ-lớ Tây-ban-nha.
Nunez mạnh dạn tiến lên như một thanh-niên mới bước chân vào đời. Hắn chợt nhớ đến tất cả những chuyện kể về cái thung-lũng đã tuyệt-tích và xứ sở của người mù. Câu ngạn-ngữ cổ cứ láy đi láy lại mãi trong đầu hắn như một điệp-khúc :
" Trong Xứ Mù Thằng Chột làm Vua "
" Trong Xứ Mù Thằng Chột làm Vua "
Hắn cất tiếng chào rất lễ-phép, vừa chào vừa đưa mục-quang quan-sát.
" Người này từ đâu đến hở Pedro ? " một người lên tiếng hỏi.
" Từ phía những tảng đá trên kia đi xuống."
" Tôi từ bên kia dẫy núi đến đây " Nunez sửa lại. " Từ một nước ở rất xa, nơi mà ai ai cũng nhìn được. Ở gần Bogota, chỗ có hàng trăm ngàn dân cư, dẫu chỉ là một thành-phố khuất nẻo. "
" Nhìn ? Nhìn ? " Pedro lẩm-bẩm.
" Người này từ những tảng đá đi xuống " người mù thứ nhì nhắc lại.
Quần áo họ mặc rất kỳ-cục, chắp nối lung-tung các mảnh vụn bằng những đường kim mũi chỉ khác nhau.
Hắn giật nẩy mình khi họ đồng loạt tiến lên, cùng vươn tay. Hắn vội lùi lại, tránh những ngón tay xòe ra.

ThichNuDiuHien
05-07-2006, 15:15
" Lại đây " người mù thứ ba lên tiếng, bước theo và tóm ngay được hắn.
Họ nắm giữ, sờ nắn Nunez từ đầu đến chân và không nói thêm một tiếng nào cho tới khi sờ nắn xong.
" Ấy, cẩn-thận đấy ! " Nunez sợ-hãi kêu lên khi một ngón tay đè lên mắt hắn và biết là họ thấy mắt hắn rất kỳ-quặc, mi mắt rung động được. Họ lại sờ thử một lần nữa.
" Người này quái lạ lắm, Correa. Sờ thử tóc anh ta mà xem, cứng nhắc y như lông con đà-mã " người tên là Pedro thốt.
" Cũng thô-kệch như những tảng đá đã sinh ra anh ta " Correa nói và vuốt-ve cái cầm chưa cạo râu của Nunez với bàn tay mềm-mại hơi ươn-ướt. " Chắc rồi anh ta cũng có thể trở nên thanh-tao hơn ! ". Nunez hơi vùng-vẫy khi mọi người sờ nắn nhưng bị họ ghìm chặt.
" Ấy, cẩn-thận đấy ! " Nunez nhắc lại.
" Anh ta nói được, thế thì đúng là người rồi. " người mù thứ ba cất tiếng.
Pedro mân-mê cái áo choàng của Nunez và kêu " ồ " tỏ vẻ gớm-ghiếc.
" Thế là anh đã bước vào đời rồi đấy ? " Pedro hỏi.
" Bước ra khỏi thì đúng hơn. Tôi ở mãi tận bên kia dẫy núi và những dòng sông nước đóng băng, bằng một nửa con đường đi lên mặt trời. Ra khỏi cái thế-giới bao la, phải đi mất đến mười hai ngày mới xuôi tới biển được. "
Xem ra họ chẳng lý gì đến những lời hắn thốt.
" Ông cha chúng ta thường dậy rằng thiên-nhiên có thể sinh ra người. Chính là nhiệt-khí phối-hợp với hơi ẩm-ướt và sự mục-nát của vạn vật hóa thành. " Correa nói.
" Chúng ta hãy dẫn người này đến yết-kiến các vị cao niên tiền-bối đi " Pedro đề-nghị.
" Hãy gọi to lên báo tin trước kẻo trẻ con nó sợ. Đây là một trường hợp đặc-biệt " Correa bàn.
Thế là họ hét toáng lên, rồi Pedro dẫn lộ, nắm tay Nunez lôi về phía có nhà cửa. Nunez rụt tay lại nói :
" Tôi trông thấy đường mà. "
" Trông thấy ? " Correa hỏi lại.
" Phải rồi, tôi trông được " Nunez vừa nói vừa quay mặt về phía Correa nhưng vấp vào cái thùng của Pedro.
" Giác-quan người này chưa được hoàn-hảo " người mù thứ ba cất tiếng. " Anh ta vấp ngã, lại dùng những tiếng vô-nghĩa-lý. Hãy nắm tay anh ta mà lôi đi cho xong. "
" Thôi cũng được " Nunez vừa cười vừa để mặc cho họ dẫn đi.
Dường như họ không biết tị gì về đôi mắt sáng nhìn được. Không sao, rồi dần dần hắn sẽ dậy cho họ hiểu. Có tiếng hô hoán gọi nhau và một bọn người lốâ-nhố tụ tập giữa đường làng.
Hắn không ngờ mình lại bực-tức và mất hết kiên-nhẫn như thế khi lần đầu chạm trán những công dân của cái xứ người mù này. Càng lại gần, khu đất ấy càng có vẻ rộng-rãi hơn và những mầu vữa trát trên tường càng thêm quái-dị. Một đám đông vừa đàn ông vừa đàn bà, con trẻ xúm lại vây quanh, nắm lấy hắn, sờ mó với những bàn tay nhậy cảm, ngửi ngửi, lắng nghe từng tiếng nói của hắn. ( Hắn để ý nhìn và vui vui nhận thấy trong đám phụ-nữ vài người có khuôn mặt thật khả ái mặc dầu mắt họ nhắm nghiền và lõm xuống). Một vài đứa trẻ và mấy cô gái đứng xa xa đầy vẻ kinh-nghi. Quả thật giọng nói của hắn có lẽ thô-lỗ, cục-cằn so với khẩu âm nhỏ nhẹ của họ. Họ xúm-xít quanh hắn, ba người dẫn lộ đứng sát một bên như canh giữ hắn làm của riêng, nhắc đi nhắc lại mãi một câu :
" Một dã-nhân từ những tảng đá đi xuống. "
" Ở Bogota. Bogota, mãi tận bên kia dẫy núi " Nunez cải chính.
" Một dã-nhân nói tiếng man rợ " Pedro lên tiếng. " Có nghe thấy anh ta nói không ? Bogota ? Đầu óc anh ta chưa thành hình, chỉ nói được độ nửa câu ra hồn thôi. "
Một thằng nhãi gậm tay hắn và chọc ghẹo : " Bogota ! "
" Phải rồi. Đấy là một thành-phố so với cái làng này. Tôi từ một thế-giới rộng bao la đến đây ? nơi mà tất cả mọi người đều sáng mắt và nhìn được. "
" Tên anh ta là Bogota " họ bảo nhau.
" Anh ta đi đứng không vững-vàng, vấp tới những hai lần trên đường đi đến đây " Correa mách.
" Dẫn anh ta đến gập các bô lão đi. "
Họ đột-ngột đẩy hắn bước qua ngưỡng cửa vào một gian phòng tối om-om trừ phía cuối phòng có ánh lửa bập-bùng. Đám đông theo sát gót hắn, che lấp hầu hết cái ánh sáng bên ngoài chỉ còn lờ-mờ. Hắn chưa kịp dừng bước đã loạng-choạng vấp, ngã nhào lên chân một người đang ngồi. Tay hắn chới với đập ngay vào mặt một người khác khi hắn chúi xuống. Hắn cảm thấy đụng phải cái gì mềm mềm và nghe rõ tiếng kêu giận-dữ. Trong một lúc, hắn giẫy-giụa, vật lộn, để thoát khỏi những bàn tay đang vít xuống, ghì chặt lấy hắn. Đây là cuộc chiến một chiều. Hắn chợt tỉnh-ngộ, nằm im, nói :
" Tôi bị ngã. Tôi chẳng trông thấy gì ở cái chỗ tối đen như mực này. "
Một lúc yên-lặng, hình như những người hắn không trông thấy ở chung quanh đang tìm hiểu ý nghĩa những lời hắn thốt. Có tiếng của Correa cất lên :
" Anh ta chỉ mới được tạo ra nên đi đứng còn vấp ngã, và nói thì pha trộn những tiếng vớ-vẩn, vô-nghĩa-lý. "
Những người khác cũng xôn-xao, bàn tán về hắn, nhưng hắn không nghe rõ hay không hiểu rõ.
" Tôi ngồi dậy có được không ? " hắn hỏi sau một lúc yên-lặng. " Tôi hứa sẽ không vùng-vẫy, phản-kháng lại các ông các bà đâu. "
Họ bàn nhau rồi cho phép hắn ngồi lên.
Một bô lão cất tiếng chất-vấn hắn và Nunez thấy mình đang cố-gắng giảng-giải về cái thế-giới rộng bát-ngát mà hắn vừa ly-khai, về vòm trời, về núi non, phong cảnh, về tất cả những kỳ-quan khác cho các trưởng lão ngồi trong bóng tối của cái xứ mù này nghe. Hắn không bao giờ ngờ họ không hiểu và cũng không tin bất cứ điều gì hắn kể. Thậm chí họ cũng không hiểu cả nhiều từ-ngữ hắn dùng. Họ đã mù từ mười bốn đời nay và không còn dây-dưa gì với thế-giới của những kẻ sáng mắt, tên những vật nhìn thấy được đã phai-mờ và biến-đổi, những chuyện ở thế-giới bên ngoài nhạt dần, hóa thành chuyện cổ-tích cho trẻ con nghe. Họ hết quan-tâm đến những gì xẩy ra ở bên kia những tảng đá, phía trên bức tường thành. Các nhà bác học uyên-thâm mù đã đặt câu hỏi về những mẩu tín-ngưỡng hay tập-tục còn sót lại từ ngày người dân xứ này còn nhìn được và coi đó chỉ là những chuyện hoang-đường, rồi đưa ra những lý-giải mới mẻ và lành mạnh hơn. Óc tưởng-tượng của họ phần lớn cũng teo lại theo đôi mắt. Họ lập ra những thuyết mới thích-hợp với đôi tai thính và những ngón tay linh-mẫn của họ. Dần dần Nunez hiểu rằng không thể trông mong họ ngạc-nhiên hay thán-phục nguồn gốc hắn, còn nói gì đến ấn-chứng tài-năng hắn ! Sau lần thất-bại thảm-hại khi hắn định giải-thích cho họ " nhìn " là gì và bị gạt phăng đi như là những lời nói lăng-nhăng của một con người mới thành nhân dạng, tả lại những ảo-giác đẹp-đẽ, những hình ảnh hỗn-loạn đã nhìn thấy, hắn chịu khuất-phục, dẫu hơi cụt-hứng, lắng nghe những giáo-điều của họ. Người già nhất trong bọn giảng cho hắn ý nghĩa của cuộc đời, của tôn giáo, của triết học, rằng thế-giới (nghĩa là cái thung-lũng của họ) lúc đầu chỉ là một khu lòng chảo trống rỗng giữa những tảng đá, sau đó xuất-hiện trước tiên là những bất-động-vật không biết cử động, rồi đến những động vật, thú vật như loài đà-mã chưa có đủ trí khôn, sau nữa đến người, và cuối cùng là những thiên-thần mà ta có thể nghe thấy tiếng hát và tiếng vỗ cánh nhưng không ai có thể sờ mó được. Thoạt nghe Nunez bỡ-ngỡ, ngẩn người ra, mãi sau mới vỡ lẽ họ tả những con chim.
Vị trưởng lão tiếp-tục giảng dậy Nunez rằng thời-gian chia làm hai, khi thì nóng, khi thì lạnh, tức là ngày và đêm của chúng ta, và tốt nhất nên ngủ khi tiết trời ấm-áp, làm việc khi trời lạnh-giá, cho nên nếu không tại hắn thì giờ phút này tất cả mọi người ở đây đều đã ngon giấc. Ông nhất định Nunez được tạo ra để học hỏi và phục-vụ cho những sự hiểu biết khôn-ngoan của họ, và mặc dầu hắn ăn nói chẳng đâu vào đâu, lại hay vấp ngã, nhưng hắn phải tỏ ra có can-đảm và phải dốc lòng, gắng sức học hỏi không được chểnh-mảng. Tới đây tất cả những người đứng lố-nhố ở cửa đều lẩm-nhẩm khuyến-khích. Ông già lại nói rằng đêm - đối với họ, ngày chính là đêm - đã khuya lắm rồi, ai nấy nên quay về đi ngủ. Ông hỏi Nunez có biết đi ngủ không, Nunez đáp có biết nhưng trước khi đi ngủ hắn muốn có cái gì ăn.
Họ đem thức ăn đến ? một bát sữa đà-mã cùng với bánh mì thô-sơ ? rồi dẫn đến một chỗ vắng vẻ cho ăn để khỏi nghe thấy hắn lục-đục, và sau đó thì ngủ một mạch cho tới khi khí lạnh buổi chiều miền núi đánh thức họ dậy để bắt đầu một ngày mới. Nhưng Nunez không hề chợp mắt.
Hắn ngồi ở chỗ họ dẫn đến, duỗi chân nghỉ và suy đi nghĩ lại những trường-hợp bất ngờ đã đưa hắn đến đây. Thỉnh-thoảng hắn bật cười, khi thì vui thú, lúc lại tức giận :
" Đầu óc chưa thành hình ! Chưa có đầy đủ trí-giác ! Họ không biết là họ đã sỉ-nhục đấng quân vương, vị chúa tể mà Trời vừa ban cho họ. Ta cần phải dậy cho họ biết đạo lý, biết lẽ phải. Để nghĩ xem ? nghĩ xem. "
Hắn vẫn còn ngồi trầm-tư khi mặt trời lặn hẳn. Nunez là người biết thưởng-ngoạn những vẻ đẹp ở đời, cảnh rực-rỡ của những thửa ruộng tuyết phủ, con sông băng đóng mé trên thung-lũng. Mắt hắn lướt từ khung cảnh huy-hoàng của trời chiều đến cái làng và những thửa ruộng được chăm bón đang chìm rất nhanh vào bóng tối. Đột-nhiên hắn thầm cảm ơn Hóa-công đã ban cho hắn đôi mắt còn nguyên lành.
Có tiếng người réo gọi từ phía cái làng.
" Bogota ! Lại đây. "
Nunez mỉm cười đứng lên. Hắn sẽ dậy cho họ thủng nghĩa thế nào là một người nhìn được. Họ sẽ phải đi tìm hắn và sẽ không tìm thấy.
" Này Bogota, đừng đi càn bậy đấy nhé ! " giọng nói lại cất lên.
Nunez cười lặng-lẽ, rón-rén bước hai bước ra khỏi con đường nhỏ.
" Bogota ! Đừng giẫm bừa-bãi lên cỏ, cấm tuyệt đấy. "
Rõ ràng Nunez không nghe thấy tiếng chân mình di-động. Hắn sửng-sốt đứng lại.
Người vừa lên tiếng chạy xăm-xăm về phía hắn trên con đường lót đá đen trắng loang-lổ. Hắn vội lùi về con đường nhỏ và lên tiếng :
" Tôi ở đây này. "
" Tại sao ngươi không lên tiếng khi nghe ta gọi ? " người mù vặn hỏi " Ngươi muốn ta dắt đi như dắt đứa trẻ con hay sao ? Ngươi không nghe thấy tiếng chân mình đi trên đường à ? "
Nunez cười : " Tôi nhìn thấy đường mà. "
" Không có chữ gì là nhìn cả " người mù gạt đi sau một lúc yên-lặng. " Từ giờ trở đi đừng ăn nói quàng-xiên như thế nữa. Hãy cố mà đi theo tiếng bước chân của ta. "
Nunez bước theo, hơi khó chịu.
" Rồi sẽ có ngày tới phiên tôi cho mà xem " Nunez nói.
" Rồi ngươi sẽ học được. Còn khối thứ ngươi phải gia-tâm học hỏi " người mù đáp.
" Thế không ai nói cho ông biết cái câu ?Trong Xứ Mù Thằng Chột làm Vua? à ? "
" Mù là cái gì ? " người mù lơ-đãng hỏi qua vai.

ThichNuDiuHien
05-07-2006, 15:16
Bốn ngày trôi qua. Đến ngày thứ năm, thủy chung Đức Vua của cái Xứ Người Mù vẫn không ma nào biết đến, vẫn chỉ là một kẻ xa lạ, vụng-về, vô-tích-sự giữa đám thần dân của mình.
Nunez nhận ra tự xưng là Vua khó hơn hắn tưởng và trong lúc hắn mưu đồ một cuộc đảo-chính thì hắn đành cắn răng tuân theo mệnh-lệnh của họ, học phong-cách, tập-tục của Xứ Người Mù. Hắn thấy phải làm việc và di-chuyển ban đêm là một chuyện chán ngán nên quyết-định đó sẽ là điều hắn thay đổi trước nhất.
Họ có một cuộc sống giản-dị, cần-mẫn với đầy đủ yếu-tố đạo-đức và hạnh-phúc theo mức hiểu biết của loài người. Họ làm việc nhưng không làm quần-quật, họ có dư giả thực-phẩm và quần áo, họ có ngày nghỉ và mùa nghỉ, họ ưa đàn hát và cũng biết yêu đương, sinh con đẻ cái.
Đáng phục là họ di-chuyển cứ thoăn-thoắt trong cái thế-giới ngăn-nắp của họ một cách đầy tự tín và chuẩn-đích. Vật gì ở đây cũng được sắp đặt theo nhu-cầu của họ, mỗi con đường rẽ ngang đều bẻ góc giống hệt nhau và có một cái hình khía riêng ở vỉa hè để đánh dấu. Tất cả mọi chướng-ngại-vật hay những chỗ gồ-ghề trên lối đi, trên bãi cỏ đã được dẹp đi, san bằng từ lâu. Tất cả những phương-pháp bố-trí tất nhiên đều để đáp ứng nhu-cầu đặc-biệt của họ. Giác-quan họ đã trở nên linh-mẫn tuyệt-vời, họ có thể nghe và xác định được từ cái cất tay nhẹ của một người đứng cách xa hàng chục thước, có thể nghe được cả tiếng tim người kia đập. Với họ, đã từ lâu, lời nói thay thế cho nét mặt, hay cử chỉ, giáng-điệu. Họ có thể sử dụng cái cuốc, cái mai, cái chĩa một cách thuần-thục như bất cứ một người làm vườn nào. Khứu-giác họ bén-nhậy tuyệt-trần, họ có thể phân-biệt hơi người y như loài chó. Họ biết chăn nuôi những con đà-mã trên núi xuống kiếm thức ăn hay chỗ trú ngụ ở chân tường dễ như chơi, không hề ngập-ngừng. Mãi đến khi Nunez có ý định bắt họ phục oai mình hắn mới khám-phá ra những hành-động của họ chuẩn-đích và đầy tự tín đến bậc nào.
Hắn chỉ nổi loạn sau khi thử thuyết-phục họ không xong. Thoạt đầu, hắn muốn dậy cho họ hiểu thế nào là nhìn được : " Bà con hãy nghe đây, có nhiều điều bà con không hiểu tôi đâu " hắn nói đi nói lại nhiều lần.
Đôi khi, có vài người chịu khó để tai nghe. Họ ngồi, mặt cúi xuống, tai khôn khéo hướng về phía hắn và hắn cố sức giảng cho họ nhìn được là cái gì. Trong số những người nghe hắn có một cô gái mà hai mi mắt ít đỏ và không sâu-hoắm như những người khác, khiến ta có cảm tưởng cô đang nhắm lại giấu hai con mắt đi, và cô là người hắn đặc-biệt muốn thuyết-phục. Hắn tả những cái đẹp mà mắt nhìn thấy như những ngọn núi, vòm trời, cảnh bình-minh và họ lắng nghe hắn nói, thoạt đầu thấy ngộ-nghĩnh vui vui nhưng không tin, cuối cùng thì lên án. Họ bảo cho hắn biết thật sự không có cái gì gọi là núi cả và chỗ tận cùng của những tảng đá mà loài đà-mã thường gậm cỏ cũng là tận cùng của thế-giới. Ở chỗ ấy bắt đầu có cái mái khum-khum của vũ-trụ, sương và thác đổ xuống từ đấy. Khi hắn cãi rằng vũ-trụ không có chỗ tận cùng và cũng không có cái mái khum-khum như họ tưởng thì họ tuyên-bố những suy-luận của hắn là tội lỗi. Cho tới nay, nghe hắn tả những cảnh trời mây, trăng sao, họ chỉ thấy đó là một cõi rỗng không, xấu-xí, ghê-rợn, thay thế cho cái mái khum-khum nhẵn thín mà họ tin tưởng ? họ thành-khẩn tin rằng cái mái khum-khum hoàn-toàn nhẵn nhụi. Hắn nhận ra phần nào những điều hắn nói khiến họ trái tai nên bỏ qua khía cạnh này và thử cho họ thấy giá-trị thực-tế của đôi mắt sáng, còn biết nhìn. Một buổi sáng hắn trông thấy Pedro đang đi trên con đường số 17, tiến về phía những ngôi nhà ở trung-tâm, nhưng cũng còn khá xa để họ có thể nghe hay đánh hơi thấy. Hắn liền báo trước : " Tị nữa Pedro sẽ tới đây ". Một ông già cãi : " Pedro không có việc gì để đi trên con đường số 17 " và như để chứng-minh, khi đến gần, Pedro liền rẽ quặt sang đường số 10, quay gót hướng về phía bức tường vây. Họ bèn chế-nhạo Nunez khi không thấy Pedro đến. Sau đó, hắn vặn hỏi Pedro cho ra nhẽ thì anh này chối bay, sừng-sộ và từ đó trở đi hằn-học với hắn.
Lại có lần hắn dỗ họ để hắn leo qua sườn đồi cỏ đến chân bức tường vây với một người nào tình-nguyện đi theo, hắn hứa sẽ tả cho người ấy tất cả những gì xẩy ra từ các ngôi nhà trong làng. Hắn trông rõ họ đi đi lại lại, nhưng những sự việc đáng kể đối với họ thì lại xẩy ra ở bên trong hoặc đằng sau những ngôi nhà không có cửa sổ thành thử hắn không thể trông thấy hay tả ra được ? và họ thì chỉ có thể phê-phán hắn qua những sự việc này. Sau lần thất-bại ấy hắn bị nhạo-báng quá bèn dùng đến vũ lực. Hắn định nắm lấy một cái mai rồi bất ngờ quật ngã một vài tên trong bọn để cho họ thấy, trong một cuộc chiến-đấu công-bằng, có đôi mắt sáng vẫn hơn. Hắn quả đã chộp lấy một cái mai nhưng phát-hiện liền đó một điều mới lạ trong hắn, hắn không thể nhẫn-tâm đánh dập một kẻ mù lòa.
Hắn lưỡng-lự, nhận ra họ đều biết hắn đã giật được một cái mai. Họ đứng thủ thế, đầu nghiêng một bên, tai vểnh lên hướng về phía hắn, dò động tĩnh.
" Buông cái mai xuống " một người ra lệnh, và hắn cảm thấy một nỗi kinh-hoàng bất lực. Hắn đã sắp sửa bó tay chịu khuất-phục.
Đột-nhiên, hắn đẩy một người bắn lùi về phía cái vách nhà, lướt vèo qua mặt người này, thoát ra khỏi làng.
Hắn chạy ngang đồng cỏ, để lại dấu chân giẫm bừa bãi trên cỏ, rồi ngồi xuống bên lề đường. Hắn thấy hào-khí bừng-bừng trong lòng như những người trước khi xuất trận, nhưng phức-tạp hơn. Hắn bắt đầu nhận ra người ta không thể sẵn lòng đối địch với những kẻ mà tâm cơ khác hẳn mình. Hắn trông rõ đằng xa một bọn người mang thuổng cuốc, gậy-gộc chạy ra dàn thành hàng chữ nhất trên những con đường đi về phía hắn. Họ bước từ từ, chốc chốc châu đầu bàn tán với nhau, thỉnh-thoảng cả đoàn dừng lại lắng tai và đánh hơi.
Lần đầu tiên thấy thế Nunez phì cười. Sau đó hắn không cười được nữa.
Một người tìm thấy vết chân hắn trên cỏ, lom-khom cuối xuống dò-dẫm tìm đường.
Trong năm phút, Nunez ngắm hàng người chầm-chậm tiến lên rồi ý nghĩ lờ-mờ phải ra tay ứng phó kịp thời trở nên cấp-bách. Hắn đứng dậy bước vài bước về phía bức tường thành rồi xoay mình trở gót đi ngược lại. Họ đứng dàn theo hình cánh cung, yên lặng lắng tai.
Hắn cũng đứng yên, hai tay lăm-lăm nắm chặt cán mai. Có nên nện cho họ một trận không ? Mạch máu trong tai hắn đập lùng-bùng theo điệu " Trong Xứ Mù Thằng Chột làm Vua ! "
Có nên đánh ẩu họ không ?
Hắn quay nhìn bức tường thẳng tắp sau lưng, trát vữa nhẵn-nhụi trừ những nơi có đục cửa ra vào nhỏ, rồi lại nhìn hàng người truy-nã hắn đang nhích lại gần. Đằng sau họ, vô số những người khác đang bước ra khỏi con đường cái. Có nên quật cho họ một trận nên thân không ?
" Bogota ! Bogota ! ngươi ở đâu thế ? " một người cao giọng hỏi.
Hắn khư-khư nắm cái mai chặt hơn, đi lần xuống đồng cỏ đến khu vực có người ở. Hắn vừa di động tức thì họ đổ dồn về phía hắn. " Nếu bọn nó mà động vào ta là ta quyết sẽ giết sạch cả lũ ! Thề với Trời là ta sẽ đập chúng tan xương ra ". Rồi hắn gào :
" Này, các người khôn hồn thì hãy nghe tôi nói. Ở cái thung-lũng này, tôi chỉ làm những cái gì tôi thích. Đã nghe chửa ? Tôi chỉ làm cái gì tôi thích và đi đến chỗ nào tôi muốn. "
Họ sấn lại vây quanh hắn rất nhanh, quờ-quạng thế mà thần-tốc đáo để, gần như ta chơi trò bịt mắt bắt dê, chỉ khác ở đây tất cả đều bịt mắt trừ một người.
" Túm lấy nó ! " một người hét to. Hắn thấy mình bị lọt vào vòng vây. Đột nhiên, hắn thấy cần phải cương-quyết ra tay.
" Các người không biết là các người đã bị mù còn tôi là kẻ sáng mắt. Hãy để cho tôi yên thân ". Hắn gầm lên, giọng cố tỏ ra dõng-dạc nhưng kỳ thực thì lắp-bắp.
" Bogota ! muốn sống thì bỏ cái mai xuống và lập tức bước ra khỏi cỏ ! "
Cái mệnh lệnh kẻ cả này làm hắn sôi giận : " Tôi sẽ đập cho các người một mẻ ". Hắn vừa nói vừa khóc. " Tôi thề là tôi sẽ đập các người một trận tơi-bời cho mà xem ! Hãy kệ xác tôi ! "
Hắn bắt đầu bỏ chạy, nhưng không biết phải chạy đi đâu. Hắn lánh xa chỗ người mù gần nhất bởi hắn không nỡ đánh đập người này. Hắn dừng lại rồi vọt mình, tìm cách thoát khỏi vòng vây đang thu hẹp dần. Thấy chỗ nào có lỗ hổng là hắn lướt đến, những người đui đứng hai bên vừa nghe tiếng chân hắn lập tức hè nhau đổ xô lại chặn lối nhanh như chớp, va đụng phải nhau. Hắn nhẩy bổ ra đằng trước, thấy bí lối, liền giáng cái mai đánh phập xuống. Hắn cảm thấy cái mai đánh trúng tay ai mềm mềm, rồi người ấy ngã xuống kêu lên đau đớn. Thế là hắn thoát hiểm.
Thoát ! Bây giờ hắn quay lại gần con đường cái hai bên có nhà. Đám người mù múa may những cái mai, cái cọc, chạy đi chạy lại khá nhanh.
Hắn vừa kịp nghe tiếng bước chân ở sau lưng thì một người cao cao sấn-sổ chạy đến nghe thấy tiếng hắn liền hết sức bình sinh phang xuống một đòn. Hắn mất bình-tĩnh, lao mạnh cái mai về phía đối-thủ, lia một vòng rồi bỏ chạy, cuống quýt gào lên khi phải tránh một người mù khác.
Hắn hốt-hoảng, chạy xuôi chạy ngược đùng đùng, tránh né khi không cần phải tránh né ai, và vì quá kinh-mang, muốn nhìn cả bốn phía cùng một lúc, nên loạng-choạng vấp, ngã lăn chiêng, và họ nghe thấy tiếng hắn ngã huỵch xuống. Tít-tắp đằng xa, nơi bức tường thành có một cái cửa nhỏ trông chẳng khác cảnh thiên-đường, thế là hắn chạy thục mạng về phía ấy, không buồn quay lại nhìn những người đuổi theo đằng sau mãi tới khi yên trí đã bỏ rơi họ một quãng xa. Hắn lảo-đảo vượt cái cầu, leo lên núi đá khiến một con đà-mã nhỏ kinh-ngạc và sợ-hãi nhẩy vọt ra xa rồi nằm xuống phập-phồng thở dốc.
Thế là kết-thúc cuộc đảo-chính của hắn.
Hắn lẩn trốn ngoài bức tường vây thung-lũng hai ngày hai đêm giòng-giã, không ăn uống cũng không nơi trú ẩn, nghiền-ngẫm những cái bất trắc ở đời. Trong lúc suy-nghĩ miên-man hắn hay nhắc đi nhắc lại một cách hết sức hài-hước câu ngạn-ngữ trớ-trêu " Trong Xứ Mù Thằng Chột làm Vua ! "
Hắn nhẩm tính thiên phương nghìn kế để chế-ngự những người mù nhưng nhận thấy rõ ràng hắn thúc thủ trên thực-tế. Hắn không có vũ khí và muốn có vũ khí lúc này mới thật gian-nan.
Ảnh-hưởng tai hại của văn-minh đã theo hắn từ Bogota, hắn chẳng thể táng tận lương-tâm đang tay gia hại một kẻ mù lòa. Dĩ nhiên nếu nhẫn-tâm được thì hắn có thể uy-hiếp họ, ra điều-kiện, hạ sát những ai không tuân theo hắn. Thế nhưng chẳng chóng thì chầy hắn còn phải ngủ !?
Hắn đến rặng thông xục-xạo kiếm thức ăn và ẩn thân dưới vòm cây khi sương giá ban đêm đổ xuống và ? với không mấy tin-tưởng ? thử bắt một con đà-mã, lấy đá đập chết nó chẳng hạn, để ăn thịt. Nhưng loài đà-mã nghi kỵ hắn, nhìn hắn với cặp mắt nâu e-dè, phun phì-phì mỗi lần hắn mon-men lại gần. Đến ngày thứ nhì, hắn bắt đầu sợ và run lẩy-bẩy, rùng mình từng chập. Cuối cùng, hắn đành bò lết xuống bức tường thành, tìm cách thương-lượng. Hắn men theo bờ suối, cất tiếng gọi to cho tới khi có hai người mù bước ra khỏi cổng tiếp chuyện.
" Tôi hành-động như một thằng rồ, nhưng tôi chỉ là một kẻ khờ dại mới có nhân dạng " hắn nói.
Họ trả lời là hắn đã biết điều hơn. Hắn nhìn nhận bây giờ hắn đã chín-chắn, khôn-ngoan hơn trước và hối-hận vì đã làm những điều xằng-bậy, không nên không phải.
Rồi hắn khóc, nước mắt ràn-rụa mặc dầu không cố ý ? vì hắn quá đuối sức, đầu óc choáng-váng, tối tăm mặt mũi ? họ cho đấy là một triệu chứng tốt.
Họ gạn hỏi hắn có còn nghĩ hắn vẫn nhìn được không ?
" Không. Nói như thế là ngông cuồng. Chữ nhìn không có nghĩa gì cả, hoàn toàn vô-nghĩa-lý. "
Họ lại hỏi trên cao có gì ?
" Trên cao chừng mười đầu người có một cái mái khum-khum bằng đá nhẵn thín, che phủ khắp thế-giới ". Hắn bật khóc hu hu. " Trước khi hạch hỏi tôi, hãy cho tôi ăn cái gì. Tôi đói lả rồi ! "
Hắn tưởng mình sẽ bị nghiêm-trừng, song những người mù tỏ ra biết khoan-hồng. Họ cho cuộc nổi loạn của hắn là thêm một bằng chứng hắn ngu-đần, thấp kém. Sau khi phạt trượng, họ giao cho hắn những công việc đơn-giản, nặng-nề, xốc vác nhất và hắn thấy không còn đường nào khác, túng thế, đành dằn lòng cúi đầu nhất nhất tuân theo.
Hắn ốm nằm bẹp mất mấy ngày và họ săn-sóc hắn tử tế. Điều này càng khiến hắn ngoan-ngoãn phục-tùng hơn. Nhưng họ nhất định bắt hắn nằm trong bóng tối làm hắn khổ-sở vô cùng. Thế rồi các nhà hiền-triết mù lò-dò đến thăm hắn, trịnh- trọng giảng cho hắn hiểu óc hắn còn non nớt, nông-nổi, và cực lực thống-trách hắn táo gan dám không tin có cái vung bằng đá che khắp thế-gian như lòng chảo của họ. Hắn đã bắt đầu nao-núng, tự hỏi có phải hắn là nạn nhân của ảo-tưởng khi không nhìn thấy cái vung bên trên.
Thế là Nunez nghiễm-nhiên trở nên thần dân của cái Xứ Người Mù. Những người này đối với hắn bây giờ không còn là người mù nói chung chung nữa, hắn bắt đầu biết phân-biệt từng người, trong khi cái thế-giới bên kia rặng núi càng ngày càng thấy xa-xôi và trở nên viễn ảnh. Ở đây có Yacob, chủ hắn, là một người tốt khi nào ông ta không bực mình khó chịu. Lại còn Pedro, cháu ông và Medina-saroté, con gái út ông. Trong cái thế-giới của người mù cô không mấy được ưa chuộng vì cô có một khuôn mặt sắc-sảo, bén nhọn thiếu những nét tròn-trĩnh mà người mù coi là sắc đẹp lý tưởng, nhưng Nunez thấy cô đẹp ngay từ phút đầu và bây giờ cho là cô đẹp nhất đời. Cặp mắt cô nhắm lại, lép chứ không sâu-hoắm cũng không đỏ ửng bằng mắt những người khác, tựa hồ như cô sắp-sửa mở choàng mắt ra bất cứ lúc nào. Hàng lông mi dài của cô bị coi là khuyết-điểm khiến mặt cô dị-dạng, thanh âm rành-rọt của cô không vừa đôi tai thính của những chàng nông dân quê mùa cục-mịch, thành thử cô không có người yêu.
Đã có lúc Nunez nghĩ quý hồ chinh-phục được Medina-saroté thì hắn sẽ cam tâm lưu lại cái thung-lũng này suốt đời.
Hắn đã có tình-ý nên theo dõi, chờ đợi những cơ hội giúp đỡ nàng đôi chút và giờ thì hắn biết nàng cũng để ý quan-sát hắn. Một hôm, trong buổi hội họp vào ngày nghỉ, hai người ngồi sát cạnh nhau dưới ánh sao mờ, bên tai lại có tiếng đàn dìu-dặt. Hắn đặt tay lên tay nàng và cả gan nắm lấy. Thế rồi nàng âu-yếm, nhè-nhẹ bóp trả lại. Lại có một lần, khi ăn cơm trong bóng tối, hắn thấy nàng đưa tay nhẹ-nhàng tìm kiếm hắn, tình cờ ngọn lửa lóe sáng lúc ấy , hắn trông rõ nét mặt thương yêu của nàng.
Hắn lân-la tìm cách bắt chuyện với nàng. Một hôm hắn đến gập nàng khi nàng đang ngồi quay tơ, dưới ánh trăng vằng-vặc nàng chói ngời như bạc và huyền-ảo vô cùng. Hắn ngồi xuống mé chân nàng và tỏ tình, ca tụng sắc đẹp của nàng. Giọng lưỡi hắn là giọng lưỡi của một kẻ si-tình, một lòng thành-khẩn gần như tôn thờ nàng, mà nàng thì chưa bao giờ được nghe những lời đường mật. Nàng không trả lời dứt khoát nhưng rõ ràng những lời hắn thốt làm xiêu lòng nàng.
Từ đó, hễ có dịp là Nunez lại mon-men trò chuyện với nàng. Cái thung-lũng này đã trở nên thế-giới của hắn, còn cái thế-giới bên kia dẫy núi, nơi mà mọi người đều hoạt-động dưới ánh dương-quang đối với hắn bây giờ chẳng khác gì một chuyện thần tiên mà hắn sẽ kể cho nàng nghe một ngày kia. Dần dà, hắn thủ-thỉ với nàng về đôi mắt sáng nhìn được.
Nhưng đối với nàng, dường như nhìn được là một ảo-tưởng vô cùng thơ mộng. Nàng lắng nghe hắn tả các vì sao, những ngọn núi, và sắc đẹp sáng ngời của chính nàng dưới ánh trăng, coi như là một hành-vi khoan-dung nhưng tội lỗi. Nàng không tin và cũng chỉ hiểu lờ-mờ độ một nửa, song nàng bị mê-hoặc và hắn tưởng như nàng đã thấu hiểu tất cả.
Tình yêu của hắn bớt vẻ tôn sùng, trở nên bạo dạn hơn. Hắn quyết-định xin phép Yacob và các bô lão cho hắn kết tóc xe tơ với nàng nhưng nàng sợ-sệt xin trì-hoãn. Chính là một cô chị nàng đã mách với Yacob rằng Nunez và Medina-saroté yêu nhau.

ThichNuDiuHien
05-07-2006, 15:18
Ngay từ đầu, cuộc hôn-nhân này đã gập trở ngại rất lớn chẳng phải vì họ đánh giá nàng cao mà thực sự vì họ coi Nunez người chẳng ra người, ngợm chẳng ra ngợm, đã ngu-độn lại bất tài, dưới mức trung-bình. Các chị nàng cay cú, hết sức chống đối, cho thế là làm giảm giá, ê mặt họ và ngay Yacob, mặc dầu cũng có đôi chút thiện-cảm với người gia-nhân vụng dại nhưng phục-tùng của lão, cũng phải lắc đầu nói là không được. Các chàng thanh-niên giận-dữ khi nghĩ đến dòng giống họ bị pha trộn và một người còn đi đến chỗ thóa-mạ và đánh đập Nunez. Hắn quật lại thẳng tay. Đây là lần đầu hắn thấy sự lợi hại của đôi mắt nguyên lành, dẫu chỉ là nhìn ở một chỗ tranh tối tranh sáng. Sau trận xung-đột ấy, họ có ý gờm không còn ai dám sinh sự, khiêu-khích với Nunez. Nhưng họ vẫn khăng-khăng không chấp-nhận hôn sự của hai người.
Yacob rất yêu cô con gái út nên buồn-bã khi nàng ủ-rũ gục vào vai lão khóc thút-thít.
" Con thấy không, nó chỉ là một thằng đần-độn. Nó có những ảo-tưởng và sẽ chẳng làm nên trò trống gì đâu con ạ. "
" Con cũng biết thế " Medina-saroté thổn-thức " nhưng chàng đã khá hơn trước nhiều. Rồi chàng sẽ khôn dần ra. Chàng lại khỏe mạnh và có tâm-địa tốt nữa cha ạ, khỏe mạnh và tốt hơn tất cả những chàng trai khác trên thế-giới này. Với lại chàng thực lòng tha-thiết yêu con và cha ơi, con cũng đem dạ quyến-luyến chàng. "
Yacob thấy con gái khóc sướt-mướt thì buồn ruời-rượi ? buồn hơn nữa là chính lão cũng mến Nunez ở nhiều điểm. Thế là lão mò đến căn nghị-sảnh không cửa sổ, nơi các vị cao niên, chức sắc hội họp, để nghe ngóng chiều hướng câu chuyện và đợi dịp xen vào.
" Thằng bé ấy bây giờ đã khá hơn trước nhiều. Chắc rằng một ngày kia nó cũng có thể trở nên lành mạnh, bình-thường như tất cả chúng ta thôi. "
Thế rồi sau đó, có một trưởng lão uyên-bác đưa ra một đề-nghị. Ông đường đường là một danh y nức tiếng, quán thông triết-học, lại giầu sáng-kiến. Ông thích chữa cái quái tật của Nunez. Một hôm, trước mặt Yacob, ông gợi lại chuyện trị bệnh cho Nunez.
" Tôi đã xem xét căn bệnh của Bogota. Bây giờ tôi đã hiểu rõ hơn. Tôi cho là rất có thể chữa cho nó khỏi được. "
" Đấy chính là điều tôi mơ ước xưa nay " Yacob đáp.
" Óc của nó mang bệnh " vị bác-sĩ mù nói.
Các trưởng lão lẩm-nhẩm gật đầu đồng ý.
" Nhưng cái gì khiến cho óc nó mang bệnh mới được chứ ? "
Yacob " à " một tiếng.
" Nó chính là " bác-sĩ tự trả lời câu hỏi của mình đặt ra. " Nó là cái vật kỳ cục ta gọi là đôi mắt. Thật ra mắt chỉ là hai chỗ mềm-mại hơi lõm xuống để trang điểm cho khuôn mặt. Trong trường-hợp của Bogota, đôi mắt ấy có tật và ảnh-hưởng lây đến bộ não của nó. Mắt nó lúc nào cũng căng phồng, mi mắt và lông mi lại rung động được, vì thế óc nó thường xuyên ở vào tình-trạng bị kích-thích, bị hủy-hoại. "
" Thế thì phải làm gì ? phải làm thế nào ? Yacob hỏi.
" Tôi nghĩ, chắc tôi không đến nỗi lầm khi tin rằng muốn cho nó khỏi hẳn chúng ta chỉ việc làm một cuộc giải-phẫu nhỏ, nghĩa là khoét hai cái vật khó chịu ấy đi. "
" Chỉ thế là nó lành bệnh được hay sao ? "
" Thế là nó sẽ khỏi hẳn và trở nên một công dân tài giỏi tuyệt-vời. "
" Tạ ơn Thượng-đế đã tạo ra khoa-học. " Yacob thốt rồi lập tức chạy bay đi kiếm Nunez để báo tin mừng. Nhưng cung cách lạnh-nhạt của hắn khi tiếp nhận tin vui khiến Yacob tiu-nghỉu, cụt hứng, và lên tiếng trách :
" Cứ nghe giọng lưỡi của anh thì ra anh chẳng màng gì đến con gái ta cả ! "
Phải chính nàng mới uyển-chuyển khuyên nổi cho Nunez chịu đi giải-phẫu.
" Chẳng lẽ em lại muốn cho anh không nhìn thấy gì nữa ? " hắn hỏi. Medina-saroté lắc đầu.
" Thế-giới của anh là thế-giới của những người sáng mắt " nàng cúi đầu thấp hơn nữa.
" Có những vẻ đẹp trong trời đất, những vẻ đẹp nho nhỏ như bông hoa nở, cụm rêu xanh trên tảng đá, đám lông tơ phơ-phất mịn êm, áng mây trôi tận chân trời xa, cảnh hoàng-hôn, những vì sao, và cả em nữa. Chỉ riêng vì em anh cũng nên có đôi mắt sáng để chiêm-ngưỡng khuôn mặt từ-hòa, bình-yên của em, đôi môi dịu-hiền, đôi tay đẹp đẽ của em chắp lại?Chính mắt anh đã bị em chinh-phục, mắt anh giữ lại hình bóng em, thế mà những kẻ ngu-xuẩn kia lại toan hủy-diệt chúng đi ? Như thế từ nay muốn tìm em anh sẽ phải sờ-soạng, lắng nghe, nhưng không bao giờ còn trông thấy em được nữa. Anh sẽ phải đến dưới cái mái khum-khum bằng đá tối-tăm, cái mái khủng-khiếp mà những người ở đây cúi mình khuất-phục. Không, chẳng lẽ em lại muốn anh làm như thế ? "
Một thoáng nghi-ngờ buồn-bực dấy trong lòng Nunez. Hắn bỏ lửng câu chuyện.
" Em mong rằng đôi khi " nàng ngừng lại.
" Em mong gì ? " hắn hơi lo-ngại hỏi.
" Đôi khi em mong anh đừng nói như thế. "
" Như thế là thế nào ? "
" Em biết anh nói hay lắm, nhưng đấy chỉ là do óc anh tưởng-tượng ra. Em thích nó, nhưng bây giờ thì?
" Bây giờ ? " Nunez rùng mình hỏi lại se-sẽ.
Nàng ngồi yên-lặng, không nói năng gì thêm.
" Có phải em định nói, em nghĩ rằng có lẽ anh nên ?tốt hơn hết anh nên? "
Hắn nhận định thật nhanh, cảm thấy giận-dữ, giận cho cái số kiếp hẩm-hiu, nhưng cũng thông-cảm cho sự thiếu hiểu biết của nàng, gần như thương-hại nàng.
" Em yêu " hắn nói và nhìn thấy mặt nàng trắng bệch đối trước những điều nàng không thể thốt nên lời.
Hắn ôm nàng vào lòng, hôn lên tai nàng, rồi cả hai ngồi yên một lúc.
" Nếu mà anh ưng thuận thì sao ? " hắn cất giọng hết sức êm-dịu hỏi.
Nàng ôm chầm lấy hắn, nước mắt lã-chã : " Nếu như anh chịu ưng thuận? Nếu anh chịu ? " nàng nghẹn-ngào thốt.
Một tuần lễ trước cuộc giải-phẫu để được nâng từ thân phận nô bộc lên giai-cấp công dân mù, Nunez trằn-trọc không sao chợp mắt được. Suốt những giờ phút có ánh nắng ấm-áp và trong lúc mọi người say ngủ ngon lành thì hắn bó gối ngồi tư-lự, hay đi dạo thơ-thẩn, đắn đo trước vấn-đề tiến thoái lưỡng nan. Hắn đã trả lời ưng thuận nhưng hắn chưa thật biết mình đích thực muốn gì. Khi giờ làm việc đã mãn, mặt trời huy-hoàng nhô lên trên đỉnh núi nhuốm vàng, ngày cuối cùng còn lành mắt của Nunez bắt đầu. Hắn gập Medina-saroté mấy phút trước khi nàng đi ngủ.
" Ngày mai anh sẽ không còn nhìn thấy gì nữa " hắn thốt.
" Anh yêu " nàng nói và nắm thật chặt hai tay hắn.
" Anh sẽ không đau lắm đâu và anh vui lòng chịu đau vì em, chỉ vì em?Anh ơi, nếu quả tim và cả cuộc đời em có thể đền bù, em sẽ đền cho anh. Anh yêu dấu, người anh có giọng nói thật dịu-dàng ơi, em sẽ đền bù để tạ lòng anh. "
Hắn chạnh lòng xót-xa cho chính mình và cả cho nàng. Hắn ôm nàng trong tay, hôn lên môi, nhìn vào khuôn mặt yêu mến của nàng một lần cuối và nói : " Giã biệt em ! Biệt em ! "
Rồi lẳng-lặng quay gót. Nàng nghe rõ tiếng chân hắn xa dần, có cái gì trong nhịp chân bước của hắn khiến nàng bật khóc nức-nở.
Hắn vốn định tìm một nơi thanh vắng, có cỏ xanh biếc và hoa thủy-tiên trắng muốt, để ngồi chờ giờ hành-quyết, nhưng khi cất bước, mắt ngước nhìn lên trời thấy ánh bình-minh, bình-minh như một thiên-thần khoác áo giáp vàng chói-lọi đang đi dần xuống vực sâu?
Hắn có cảm tưởng đối trước cảnh huy-hoàng này, hắn cùng cái xứ mù trong thung-lũng, và cả tình yêu của hắn, nghĩ cho cùng cũng chẳng hơn gì một cái hố tội lỗi.
Nunez không rẽ ngang như đã định lại tiếp tục đi thẳng, qua bức tường vây đến chỗ những tảng đá, mắt không rời cảnh băng tuyết rực-rỡ dưới ánh nắng. Hắn ngây-ngất trước vẻ đẹp vô-tận, óc vụt chuyển sang những cảnh vật mà từ nay hắn cam lòng vĩnh-viễn lìa bỏ.
Hắn nghĩ đến cái thế-giới tự-do bao-la hắn đã ly-khai, cái thế-giới của hắn, rồi thấy thấp-thoáng hiện ra những sườn núi xa xa, hết lớp này đến lớp khác, với Bogota cùng trăm vẻ đẹp quyến-rũ, tráng-lệ, nguy-nga ban ngày, long-lanh, huyền-ảo ban đêm, với những đền đài, dinh thự, nước phun, tượng đá, những ngôi nhà sơn trắng tinh đẹp đẽ phơi mình ở quãng giữa. Chỉ mất độ một ngày là có thể xuôi những sơn đạo, tiến dần đến gần khu phố phường nhộn-nhịp của nó. Hắn nghĩ đến cuộc du-ngoạn trên sông, ngày qua ngày, từ Bogota rộng lớn đến cái thế-giới còn rộng bao-la hơn ở xa nữa, xuyên qua những làng mạc và thị-trấn, rừng núi và sa-mạc, dòng sông chẩy xiết ngày này qua ngày khác tới khi hai bờ xói mòn phải lùi vào trong, và những chiếc tầu thủy đồ-sộ phun khói đi qua, nước văng tung-tóe, thế là ra đến biển ? cái biển bất tận với hàng ngàn hải đảo, và những con tầu xa xa mờ nhạt, xuôi ngược du hành vòng quanh cái thế-giới rộng lớn ấy. Và ở đấy không bị núi non che khuất, ta nhìn rõ vòm trời, không giống cái đĩa như nhìn thấy ở đây ? nhưng là một vòm trời xanh thăm-thẳm vô cùng tận trên đó có những ngôi sao đang trôi.
Hắn đưa mắt quan-sát tỉ-mỉ rặng núi trùng-trùng điệp-điệp.
Giá dụ, nếu ta leo ngược cái rãnh tới cái khe núi kia thì có thể đến chỗ rừng thông cổ-thụ ở trên cao, bao quanh thạch-bàn, càng lúc càng lên cao tít tận mé trên khe núi. Thế rồi sao nữa ? Con dốc có thể vượt được. Từ đó trèo lên cái vách đá dưới vùng tuyết phủ, và nếu khe núi ấy không xuyên qua được thì một cái khác ở xa hơn về phía đông có thể giúp hắn đạt mục-đích. Thế là có thể đến được khu vực tuyết ửng nắng hồng ở lưng chừng những đỉnh hoang-sơn diễm-lệ kia.
Hắn ngoái cổ nhìn lại cái làng, xoay hẳn người lại nhìn nó đăm-đăm. Hắn nghĩ đến Medina-saroté, nàng đã trở nên bé nhỏ và xa-xăm.
Hắn lại quay nhìn vách núi, ánh sáng ban ngày từ trên đó chiếu xuống.
Rồi hắn thận trọng bắt đầu leo.
Khi vừng thái-dương lặn, hắn đã ngừng leo. Hắn vượt được một quãng xa và đang ở trên cao chót-vót. Đã có lần hắn còn leo cao hơn nữa nhưng bây giờ kể ra cũng đã cao ngất rồi. Quần áo hắn rách tả-tơi, chân tay xây-xước, rướm máu, nhiều chỗ thâm tím. Hắn nằm vật xuống ra chiều khoan-khoái, một nụ cười điểm trên môi.
Từ chỗ hắn nằm, tưởng chừng cái thung-lũng đang ở dưới đáy vực sâu cả dậm. Trời bắt đầu nhá-nhem vì sương và bóng tối mặc dầu những đỉnh núi xung quanh rực ánh sáng và lửa. Những đỉnh núi xung quanh rực ánh lửa và chi-tiết tinh-vi của những phiến đá gần đấy tràn-ngập một vẻ đẹp tế-nhị ? một vân đá xanh lục nổi bật trên mầu xám, đó đây lấp-lánh ánh sáng phản chiếu như những mảnh kính vỡ, và một cọng rêu nhỏ li-ti mầu da cam tuyệt đẹp sát ngay mặt hắn. Trong hẻm núi, bóng đêm sâu-thẳm, huyền-bí, từ mầu xanh sẫm chuyển sang mầu hồng tía, chói ngời trong đêm tối. Và trên cao là cả một bầu trời bát-ngát mênh-mông. Nhưng hắn không còn quan-tâm đến những điều này. Hắn nằm yên bất động, mỉm cười như rất thỏa-mãn chỉ vì đã thoát-ly được cái thung-lũng của Người Mù mà đã có lần hắn đinh-ninh mình được làm Vua.
Ánh tịch-dương huy-hoàng vụt tắt, màn đêm chụp xuống, hắn vẫn nằm, lòng lâng-lâng thư-thái dưới ánh sao lạnh.


H.G.WELLS,
" The Country of The Blind ",
Selected Short Stories
Dịch xong tháng 12, 1994
Chân Quỳnh
http://img119.imageshack.us/img119/2409/blind0qz.jpg

mo dung phuc
06-07-2006, 17:09
chậc, post truyện thế này thì đọc mệt lắm
mình thích Hồn bướm mơ tiên nhưng nó có phải là thể loại
truyện ngắn không nhỉ ???
chỉ biết đọc nó kết thúc mình cứ thấy lòng hụt hẫng sao đó, tiếc cho đôi trẻ quá, chuyện tình rất thi vị, đẹp đẽ, nhưng lại không thể đến với nhau, vì cái gì chứ, đó chỉ là quan điểm sống thời đó chăng, mình thật cũng không hiểu, chỉ thấy thật tiếc và thật buồn :(

ThichNuDiuHien
09-08-2006, 10:30
NHẤT QUỶ NHÌ MA THỨ BA...

Lê Sơn - dịch

Nghe thấy tiếng kính vỡ kêu loảng xoảng, bà Dixbon vội vàng chạy lại chỗ cửa sổ. Bà đã hiểu rõ chuyện gì xảy ra rồi. Trên tấm kính toang hoác một lỗ thủng kích thước vừa bằng quả bóng đá đang nằm lăn lóc ở chân tường đối diện.
- Lại cái trò đá bóng! - Bà ta rên rỉ - Không biết đến bao giờ cái bọn lưu manh ấy mới đi học!
Vào những ngày nghỉ hè, những trái bóng thường xuyên rơi vào bếp của bà Dixbon, bởi lẽ bãi đá bóng nằm ngay dưới cửa sổ của nhà bà.
Thông thường sau khi xạc cho những kẻ có lỗi một trận ra trò, bà Dixbon vẫn trả lại bóng cho chúng. Nhưng lần này bà không thể chịu đựng được nữa. Bà quyết tâm trị cho chúng một phen để chúng không bao giờ dám bén mảng đến gần cửa sổ nhà bà chứ đừng nói đến chuyện đá bóng đá biếc. Ngồi bên cửa sổ bà Dixbon với vẻ mặt hầm hầm kiên tâm chờ đợi. ít phút sau có tiếng chuông gọi cửa.
Đứng ngoài thềm là một chú bé chừng mười hai tuổi, có mái tóc trắng nhợt. Nó mặc một chiếc quần soóc đã bạc màu, một chiếc may ô có những hình vẽ ngồ ngộ, chân đi đôi giày đá bóng. Nó khụt khịt mũi và nói lí nhí:
- Cháu xin lỗi bác. Từ rầy chúng cháu sẽ không...
- Thì ra mày là thằng lưu manh đánh vỡ kính của tao phải không? - Bà Dixbon giận dữ nói.
- Không, không phải cháu. Nhưng lũ bạn cháu bảo rằng đội trưởng phải đi lấy bóng về. Mà cháu là đội trưởng. Vì thế cho nên cháu đến đây. Bác cho cháu xin lại quả bóng ạ!
- Cái gì? Để chúng mày lại đánh vỡ cửa kính nhà tao nữa à?
- Cháu xin hứa sẽ không đá bóng ở đây nữa, chúng cháu sẽ rời đến chỗ cuối phố kia. Cháu nói thật đấy ạ!
Nhưng bà Dixbon vẫn còn nghi ngại, thấy vậy chú bé liền nói thêm:
- Còn về chuyện tấm kính vỡ thì bác khỏi lo. Tối nay bố cháu sẽ đến lắp kính mới cho bác. Cháu sẽ kể cho bố cháu nghe tất cả. Còn tiền thì bố cháu sẽ trừ vào tiền quà của cháu.
Bà Dixbon lẽ cố nhiên không tin một lời nào của thằng nhóc, nhưng rồi vẫn trả cho nó quả bóng.
- Mày phải giữ lời hứa đấy. Lần sau mà còn thế nữa thì đừng có mà trách.
Chú bé nói nhanh câu cám ơn rồi như một mũi tên chạy vụt ra ngoài phố.
Bà Dixbon dĩ nhiên không chờ đợi bố chú bé tới. Và bà quả tình rất ngạc nhiên khi xẩm tối có một người tay cắp tấm kính đến bấm chuông nhà bà. Đi ngang qua người đàn bà hãy còn sững sờ, ông ta nhanh nhẹn thay tấm kính vỡ rồi rút từ trong túi ra một mảnh giấy.
Nỗi kinh ngạc của bà Dixbon dâng lên tới đỉnh điểm khi người đàn ông nọ mỉm cười lịch thiệp và đưa cho bà mảnh giấy nọ. Thì ra đó là tờ biên lai.
- Có chuyện gì thế? - Bà lúng túng hỏi.
- Thưa bà, đây là biên lai thanh toán tiền lắp kính - Người đàn ông nói.
- Vâng... nhưng... thằng nhỏ ấy... chẳng nhẽ nó không nói gì với ông à?
Người đàn ông vui vẻ đáp:
- Có chứ. Nó nói rằng cần phải lắp miếng kính ở trong bếp, còn biên lai thì mẹ cháu sẽ thanh toán. Chẳng nhẽ bà không phải là mẹ nó sao?



Nghịch


http://img104.imageshack.us/img104/4435/treconqg2.jpg

http://img218.imageshack.us/img218/7966/trecon1uk8.jpg

forIt
13-09-2006, 19:02
Hehe đúng là quá đã.... cám ơn các bác nhiều

swan
14-09-2006, 10:47
Hàng năm, ban hát cung đình tuyển chọn những đào kép đang độ tài danh trong nước. Chàng là một trong những kép hát được vinh dự đó.

Những ngày đầu sống giữa đất kinh kỳ thật thú vị đối với chàng. Cái gì cũng đồ sộ, lộng lẫy. Ở đấy, chàng gặp các bậc thầy trong nghề, cùng họ tập luyện, phân vai…

Với giọng hát trữ tình thiên phú, chàng nhanh chóng chiếm lĩnh lòng hâm mộ của khán giả cung đình.

Những ngày vui ấy qua mau. Có lẽ từ khi chàng được phân vai mới. Nói mới là đối với ban hát cung đình. Chàng đã sắm vai này những ngày còn lưu diễn trong dân gian. Và có thể cho rằng đó là một trong những vai chàng đắc ý nhất.

Thế nhưng lần này chàng hoang mang cực độ, không tài nào nhập được vai.

Vở diễn kể lại một tích xưa. Tên cận thần phản nghịch soán đoạt ngai vàng, giết vua, giam hoàng hậu vào lãnh cung. Khi biết nhà vui còn để lại một thái tử lên hai, tên phản nghịch ngấm ngầm lo sợ. Nhổ cỏ nhổ tận gốc. Hắn lập kế giết nốt thái tử.

Mưu ấy lọt vào tai viên giám mục trung nghĩa. Ông bàn với vợ, quyết hy sinh đứa con trai vừa lên hai để cứu ấu chúa. Nửa đêm, giám mục lén vào lãnh cung tráo con đổi thái tử.

Oái oăm thay, đêm sau, tân vương lệnh cho chính viên giám mục cùng tên thị vệ thân tín của y đem “thái tử” ném xuống hồ sen trong vườn thượng uyển.

Đau đớn thay cho tình cảnh trái ngang của người trung nghĩa! Viên giám mục tan nát cõi lòng, phân thân giữa tình cha con máu mủ và nghĩa vua tôi cao cả. Ông dùng dằng không nỡ ra tay giết con nhưng lại sợ cơ mưu bại lộ, gây họa cho thái tử. Hết đưa đứa bé lên cao toan ném xuống hồ ông lại bồi hồi đau đớn hạ xuống nhìn cho rõ mặt con yêu lần cuối. Cứ thế, viên giám mục lần lữa mãi, mặc cho tên thị vệ đứng bên thúc giục. Đứa bé sợ hãi khóc thét khi bị đưa lên cao lại toét miệng cười khi được hạ xuống, trông thấy mặt cha…

Chàng đã từng nhiều lần sắm vai viên giám mục trung nghĩa khốn khổ ấy và giọng hát trữ tình của chàng đã gây xúc động cho biết bao khán giả.

Thế tại sao lần này chàng không nhập được vai?

Ấy bởi viên chánh ca, người chỉ huy ban hát cung đình quyết định sửa đổi một vài chi tiết nhỏ của vở diễn mong được lòng nhà vua. Ông ta muốn đứa bé cười hân hoan khi được đưa lên cao chờ ném xuống hồ. Nó mừng sắp được vì đế nghiệp liều mình. Và ông ta muốn đứa bé khóc hờn dỗi khi bị hạ xuống. Nó sợ người cha coi trọng tình riêng không làm tròn nghĩa vụ với thái tử!

Thuyết phục viên chánh ca giữ nguyên tinh thần vở diễn không được, chàng đành uống chén dầu lạc tự hủy giọng hát trữ tình thiên phú của mình.

Mấy hôm sau, người ta thải chàng ra khỏi ban hát cung đình chẳng khác gì xua đuổi một phế nhân.

DONNA_DONNA
20-09-2006, 23:14
Câu chuyện này mình đọc được trên báo An ninh Thế giới cuối tháng. Đọc xong ngẫm ra được nhiều điều. Copy lại từ http://antgct.cand.com.vn/vi-vn/chuyenkhotin/2006/8/51334.cand sang đây và chỉnh lại 1 chút cho dễ nhìn cho mọi người cùng đọc :yes:


Tình yêu, hạnh phúc và đau đớn của mẹ tôi

Mẹ tôi đã không đi bước nữa như mọi người vẫn nghĩ. Không phải mẹ tôi không chọn được người mình yêu thương mà ngược lại, người đàn ông mẹ tôi vô cùng yêu thương và cũng vô cùng yêu thương mẹ tôi lại chính là chú ruột tôi...

Kính gửi Tòa soạn,

Cho phép tôi được giấu tên trong lá thư này. Mặc dù câu chuyện tôi kể trong lá thư là một câu chuyện vô cùng xúc động và đáng suy nghĩ. Tôi cũng sẽ để lại điện thoại của tôi để Tòa soạn có muốn hỏi thêm gì ngoài những điều tôi kể trong thư thì xin gọi cho tôi. Tuy giấu tên nhưng tôi hiểu rằng những người trong gia đình, họ hàng và những người quen đều nhận ra những người trong câu chuyện này. Tôi tin tất cả sẽ không phản đối khi tôi kể câu chuyện của gia đình tôi.

Khi tôi 10 tuổi thì bố tôi mắc bệnh ung thư dạ dày và mất. Không gì có thể kể xiết được sự đau buồn của mẹ con tôi. Bố tôi mất khi mẹ tôi còn trẻ và để lại cho mẹ tôi hai đứa con: chị gái tôi và tôi.

Sau ba năm đoạn tang bố tôi, gia đình bên nội tôi đã nghĩ đến chuyện rồi mẹ tôi sẽ đi bước nữa. Mọi người nghĩ thế là rất đúng và rất thực tế vì mẹ tôi còn trẻ và rất đẹp. Tôi là con gái nhưng cũng còn phải thừa nhận mẹ tôi là một người đàn bà đẹp và thật dịu hiền. Nhiều lúc, tôi ngồi ngắm mẹ đến ngẩn ngơ. Chính ông bà nội tôi đã nhiều lần nói chuyện với mẹ tôi về tương lai của mẹ. Ông bà nội tôi sẽ vô cùng tiếc nếu mẹ tôi đi bước nữa mặc dù ông bà nội tôi hiểu rằng để mẹ tôi đi bước nữa là một việc làm có đức. Bởi mẹ tôi không những đẹp mà còn là một người con dâu vô cùng hiếu thảo.

Ông bà nội tôi thường nói với hai chị em tôi là ăn ở như mẹ các cháu thì chẳng ai có thể ghét được. Nhưng mẹ tôi đã không đi bước nữa. Không phải mẹ tôi không chọn được người mình yêu thương mà ngược lại, người đàn ông mẹ tôi vô cùng yêu thương và cũng vô cùng yêu thương mẹ tôi lại chính là chú ruột tôi.

Khi bố tôi còn sống, chú tôi rất kính trọng và yêu mến chị dâu. Chú tôi là giáo viên dạy toán ở một trường phổ thông trung học của thành phố. Chú tôi thực sự là một giáo viên rất giỏi chuyên môn và vô cùng nhân ái. Từ các thầy cô cùng trường đến học sinh và phụ huynh đều yêu quý và kính trọng chú tôi. Chưa bao giờ chú tôi có một hành động nào không phải với mẹ tôi.

Sau khi bố tôi mất được gần hai năm thì tình yêu với mẹ tôi đã nảy nở trong trái tim của chú tôi. Khi biết được điều này, mẹ tôi vô cùng sợ hãi. Nhưng rồi chính trái tim mẹ tôi cũng đã nảy nở tình yêu với chú tôi. Chỉ khi đến 17 tuổi, tôi mới nhận ra tình yêu của mẹ tôi và chú tôi một cách rõ ràng.

Chú tôi sống trong ngôi nhà cùng ông bà nội và mẹ con tôi. Chú tôi vẫn giữ đúng thái độ của một người em chồng với chị dâu nhưng nhiều lúc tôi thấy mẹ tôi và chú nhìn nhau thật yêu thương và cũng thật buồn. Rồi mọi chuyện phải đến như nó phải đến.

Chú tôi đã viết một lá thư dài gửi cho mẹ tôi. Lá thư ấy sau này mẹ tôi đã cho tôi đọc. Tôi đã đọc lá thư đó và khóc suốt đêm. Tôi khóc vì tôi thương mẹ tôi và thương chú tôi. Tôi khóc vì thực sự thấy đó là một tình yêu vô cùng mãnh liệt và chân chính. Tôi đã hỏi mẹ tôi là có yêu chú tôi không. Mẹ tôi ôm lấy tôi và nghẹn ngào khóc.

Trong đời tôi thấy mẹ tôi khóc hai lần đau đớn. Lần thứ nhất mẹ tôi khóc khi bố tôi bỏ mẹ con tôi ra đi vĩnh viễn. Lần thứ hai là khi tôi hỏi về chuyện tình yêu giữa mẹ và chú tôi.

Nhiều ngày sau khi đọc lá thư đó, tôi thương cả hai người, nhưng lòng tôi cũng hoang mang không biết phải làm gì. Rồi sau nhiều ngày suy nghĩ, tôi đã gặp chú tôi và nói với chú tôi rằng mẹ tôi cũng yêu chú như chú yêu mẹ tôi. Tôi nói với chú tôi hãy yêu thương mẹ tôi và hãy giành lấy mẹ tôi.

Cho đến bây giờ tôi cũng không hiểu được vì sao một đứa con gái trẻ như tôi ngày ấy lại có thể làm được một điều như thế. Tình yêu của mẹ tôi và chú tôi càng ngày càng trở lên sâu sắc ngỡ không gì cản nổi. Nhiều đêm, tôi thấy chú tôi và mẹ tôi ngồi nhìn nhau im lặng cho đến nửa đêm. Mẹ tôi trẻ ra và đẹp lên rất nhiều.

Tôi biết hai người không thể nào thiếu nhau được nữa. Những bữa ăn ngon tôi biết mẹ tôi nấu cho chú tôi. Những lọ hoa đẹp tôi biết mẹ tôi cắm cho chú tôi. Nhưng có nhiều đêm tôi bắt gặp mẹ tôi gục đầu trước ban thờ có ảnh của bố tôi. Những lúc như thế, mẹ tôi như một người xa lạ không còn hồn vía nào nữa. Những đêm như thế, mẹ tôi thức cho tới sáng.

Tôi vô cùng thương mẹ. Chính vì thế mà một buổi tối tôi đã nói rằng mẹ tôi và chú tôi phải sống cùng nhau, phải làm lễ cưới. Mẹ tôi bước đến trước tôi và bất ngờ tát mạnh vào mặt tôi. Tôi choáng váng. Nhưng lý trí trong tôi đã mách tôi rằng hành động đó của mẹ tôi là sự minh chứng tình yêu quá hạnh phúc và cũng quá đau đớn của mẹ tôi dành cho chú tôi. Tôi ôm lấy mẹ tôi, oà khóc và nói: Mẹ ơi, con thương mẹ quá. Mẹ tôi cũng oà khóc theo.

Mẹ tôi bảo với tôi là mẹ tôi phải đi khỏi ngôi nhà của chúng tôi. Tôi nói với mẹ là nếu mẹ tôi đi thì ai chăm sóc ông bà nội đã già yếu. Sau ngày ấy, tôi đã gặp ông bà nội tôi. Tôi đã cố gắng hết sức tìm cách để nói với ông bà tôi hiểu tình yêu giữa mẹ và chú tôi. Tôi đã kể lại cho ông bà biết mọi chuyện giữa mẹ và chú tôi. Tôi van xin ông bà nội hãy tha thứ cho mẹ và chú tôi và hãy nghĩ đến tình yêu chân thành và sâu sắc của hai người.

Nghe xong câu chuyện của tôi, cả ông bà tôi đều giàn giụa nước mắt.

Ông tôi im lặng một hồi lâu rồi nói: "Ông bà lâu nay cũng cảm thấy chuyện đó. Nhưng ông bà không dám hỏi. Ông bà thầm mong mẹ cháu và chú cháu hạnh phúc".

Kính thưa Tòa soạn, có lẽ tôi sẽ không bao giờ được nghe những lời diệu kỳ như thế trong cuộc đời tôi. Tôi không thể tả nổi tôi hạnh phúc đến nhường nào. Lúc đó, tôi hoàn toàn tin vào suy nghĩ của một cô gái trẻ là tôi. Tôi đã tin tình yêu giữa mẹ và chú tôi là hoàn toàn chính đáng và rất đẹp. Lòng tin đó trở nên bền vững hơn bao giờ hết khi tôi được nghe lời của ông nội tôi. Tôi đã cầu xin ông bà nội tôi hãy tác thành đôi lứa cho mẹ và chú tôi.

Ông bà đã mời mẹ tôi, chú tôi và hai chị em tôi để nói lên lòng mình. Chú tôi đã khóc trong hạnh phúc. Nhưng khi ông bà nội tôi hỏi ý kiến của mẹ tôi.

Mẹ tôi cũng khóc và thưa: “Bố mẹ đối với con hơn cả con đẻ. Con sống làm dâu hai lần trong gia đình này cũng không trả hết ơn của bố mẹ. Nhưng chuyện này con không thể trả lời bố mẹ bây giờ được. Xin bố mẹ hãy cho con một thời gian suy nghĩ. Sau ngày giỗ chồng con năm nay con xin trả lời bố mẹ”.

Lúc đó, tôi tin chuyện trăm năm của mẹ và chú tôi sẽ có ngày đơm hoa kết trái.

Ngày giỗ bố tôi năm đó thật xúc động. Mẹ tôi chuẩn bị cỗ bàn vô cùng chu đáo. Mẹ tôi mua rất nhiều hoa tươi. Ngày hôm đó mẹ tôi thực sự hạnh phúc. Cả gia đình tôi rất xúc động và vui. Tôi hoàn toàn tin mẹ tôi đã có quyết định đi đến chuyện trăm năm với chú tôi. Đêm ấy, mẹ tôi đã ngồi nói chuyện với chú tôi rất lâu. Tôi thấy lòng hạnh phúc. Tôi yêu cả hai con người ấy vô cùng và tôi cầu mong những điều tốt đẹp đến với họ.

Nhưng cuối cùng điều tôi mong đợi đã không đến. Dù tất cả những người trong gia đình tôi ủng hộ tình yêu của mẹ và chú tôi, nhưng mẹ tôi đã từ chối chuyện trăm năm với chú tôi. Khi biết không thể nào lay chuyển được quyết định của mẹ tôi, chú tôi đã âm thầm xin chuyển công tác vào một tỉnh phía Nam.

Mấy ngày trước khi chú tôi lên đường, trước mặt ông bà nội và chúng tôi, mẹ tôi vẫn gắng tươi cười và giữ vẻ tự nhiên. Nhưng khi bước vào phòng riêng của mình thì mẹ tôi đổ gục xuống và nghiến răng kìm tiếng khóc. Mẹ tôi như người mất hồn và đôi lúc như không còn biết gì nữa. Tôi biết mẹ tôi đã quá yêu chú tôi. Bởi thế mà mẹ tôi phải chịu đựng đau đớn đến nhường nào.

Một tháng sau khi chú tôi đi, mẹ tôi đổ bệnh. Mẹ tôi già đi không thể nào tưởng tượng được. Bệnh tình của mẹ tôi cũng không rõ ràng. Mẹ tôi buồn u uẩn và càng ngày càng ít nói hơn. Tóc mẹ tôi bạc nhanh như có ai nhuộm. Tôi đau đớn mỗi khi nhìn thấy mẹ tôi. Vì thế tôi quyết định viết thư để cầu xin chú tôi hãy trở về. Tôi nói với chú tôi là chỉ có chú mới cứu được mẹ tôi. Chú tôi viết thư cho tôi thật đau đớn. Chú tôi viết nếu chú trở về thì chính chú không làm sao chịu nổi khi cứ phải xa cách người mình yêu thương đến thế.

Kính thưa Tòa soạn, cuối cùng chú tôi cũng trở về. Đó là những ngày mà ông bà nội tôi và chị em tôi biết mẹ tôi khó có thể sống thêm được nữa. Tôi không bao giờ quên được hình ảnh khi mẹ tôi đang nằm trên giường thì chú tôi bước vào. Tôi thấy đôi mắt mẹ tôi bừng sáng.

Chú tôi bước đến, ngồi xuống bên mép giường và cầm lấy tay mẹ tôi.

Mẹ tôi ngước nhìn chú tôi với đôi mắt đau đớn và nói: "Anh đừng đi nữa. Đừng bỏ em".


Ba ngày sau mẹ tôi mất. Hình ảnh đó mãi mãi và mãi mãi chìm sâu trong máu thịt tôi. Tôi hiểu tình yêu của mẹ và chú tôi và tôi cũng hiểu vì sao mẹ tôi không đi tới hạnh phúc của mình.

Kính thưa Toà soạn, câu chuyện là vậy. Tôi có quyền kể ra câu chuyện đẹp và đau đớn này cho chính tôi và cho mọi người.

Xin chân thành cảm ơn Tòa soạn.

NG.TH.B

Phụ nữ Việt Nam là vậy: chung thuỷ, nghĩa tình, đã yêu ai là yêu cho đến chết, dù không còn tình yêu chỉ còn tình thương nhưng vẫn sẵn sàng hy sinh :bawling: , chấp nhận từ bỏ sở thích và kể cả là hạnh phúc của mình miễn là làm cho người mình thương cảm thấy hạnh phúc, vui vẻ :wub: Những phụ nữ này thường gặp bất hạnh khi người chồng sống ích kỷ, ko biết quan tâm đến những điều nhỏ nhặt trong cuộc sống gia đình và sở thích đôi khi là nhỏ nhoi của vợ (giống như chuyện Nếu muốn ly hôn, hãy bế em ra khỏi cuộc đời anh vậy )

swan
21-09-2006, 09:35
Uhm, cái này không phải là truyện ngắn, mà là độc giả của báo kể lại những câu chuyện cảm động có thực mà mình biết.

Những phụ nữ này thường gặp bất hạnh khi người chồng sống ích kỷ, ko biết quan tâm đến những điều nhỏ nhặt trong cuộc sống gia đình và sở thích đôi khi là nhỏ nhoi của vợ (giống như chuyện Nếu muốn ly hôn, hãy bế em ra khỏi cuộc đời anh vậy )
Nếu hy sinh cho những người như vậy thì ngốc quá, bị khổ cũng phải chịu thôi!

nguoimoi
21-09-2006, 11:34
Nếu hy sinh cho những người như vậy thì ngốc quá, bị khổ cũng phải chịu thôi!

- Có những người với họ sự hy sinh, chịu khổ vì ai đó sẽ không phải là một nỗi khổ, mà là một niềm vui, nếu không muuốn nói là hạnh phúc.

swan
21-09-2006, 12:07
- Có những người với họ sự hy sinh, chịu khổ vì ai đó sẽ không phải là một nỗi khổ, mà là một niềm vui, nếu không muuốn nói là hạnh phúc.
Bác nguoimoi này, bác có trích dẫn thì nên trích dẫn cho đủ chứ. Tôi đâu có chê gì những người phụ nữ biết hy sinh bản thân mình vì người khác, khâm phục còn ko kịp kìa.

Những phụ nữ này thường gặp bất hạnh khi người chồng sống ích kỷ, ko biết quan tâm đến những điều nhỏ nhặt trong cuộc sống gia đình và sở thích đôi khi là nhỏ nhoi của vợ (giống như chuyện Nếu muốn ly hôn, hãy bế em ra khỏi cuộc đời anh vậy )

Nếu hy sinh cho những người như vậy thì ngốc quá, bị khổ cũng phải chịu thôi!
Không biết tôi nhấn mạnh vậy bác đã hiểu được ý kiến của tôi chưa?

thagnv
12-10-2006, 11:12
Nguyễn nhật Ánh

Con mèo của con mèo

Ở đời đôi khi sự túng thiếu cũng đem lại cho con người ta may mắn. Đó là trường hợp tôi. Một buổi chiều thứ bảy đẹp trời, tôi đến bưu điện để gửi mấy cuốn sách giáo khoa cho người bạn. Sau khi tuồn mấy cuốn sách đã được bọc giấy cẩn thận qua ô cửa vuông cho cô nhân viên ngồi đằng sau tấm lưới sắt, tôi đứng ngó bâng quơ ngoài trời, tôi gõ lên bục đá, miệng huýt sáo một điệu nhạc vui.
- Anh cho một đồng?
Tiếng cô gái vang lên. Tôi quay lại:
- Cô nói sao?
- Cước phí một đồng!
Tôi móc túi. Còn đúng năm mươi xu. Tôi sục sạo túi áo: Chết cha! Rồi túi quần: Toàn giấy lộn? Mồ hôi bắt dầu lấm tấm trên mặt. Tôi lục hết túi trước túi sau, những ngón tay như muốn chọc thủng các lớp vải, với hy vọng một tờ năm mươi xu còn sót lại ở một xó xỉnh nào đó giữa các nếp gấp sẽ giải vây cho tôi. Nhưng mồ hôi lúc này đã nhỏ thành giọt mà phép nhiệm mầu nhất quyết không chịu xảy ra. Người con gái nãy giờ vẫn yên lặng quan sát những điệu bộ hỗn loạn của tôi. Cuối cùng thấy tôi có vẻ sắp sửa giật tung tất cả các thứ mặc trên người, nàng vội vã can thiệp.
- Có chuyện gì vậy anh?
Tôi lập tức ngừng tay, ngó lên, mặt đỏ bừng:
- À, tôi đang tìm.
- Cái gì? - Cô gái tròn xoe mắt.
- Tôi đang tìm năm mươi xu.
Cô gái bật cười. Trời ơi, má lúm đồng tiền. Bây giờ tôi mới nhìn kỹ. Mắt sáng, nhiều màu đen, hơi lém lỉnh. Trán rộng có vẻ thông minh. Nhưng tuyệt vời nhất là đôi bím tóc. Mỗi khi nàng nói chuyện, nó cứ lúc la lúc lắc như muốn đánh vào tim người đối diện! Nhưng lúc này tôi không còn đủ sức để chiêm ngưỡng bất cứ một thiên thần nào nữa. Người tôi thoạt nóng thoạt lạnh như lên cơn sốt rét. Nhưng cô gái rất thông minh - Tôi đã bảo rồi mà - Nàng hỏi.
- Anh thiếu tiền hả?
- Ừa. - Tôi ngượng nghịu.
- Thôi để hôm khác gửi.
- Ấy, ấy không được đâu? Anh bạn tôi đang cần gấp mà. - Tôi giẫy nẩy.
- Vậy thì đóng một đồng. Không còn cách nào khác.
Cô gái hình như muốn chọc quê tôi. Và tôi quê thực tình. Bởi vì đúng là không còn cách nào khác. Tôi chìa tay ra, giọng ỉu xìu:
- Thôi, được rồi, cô cho tôi xin lại.
Dáng điệu thảm não của tôi hình như đủ sức bắt đá phải xúc động. Cho nên tôi thấy nàng tỏ vẻ thương hại:
- Nói vậy chớ anh để đó, tôi gửi cho. Coi như tôi cho anh vay năm mươi xu. Mai anh ghé trả tôi.
Tôi thở phào một cái nhẹ nhõm và lập tức giở giọng nịnh nọt:
- Trời, cô tốt quá. Biết cảm ơn cô như thế nào!
- Tôi tên My,
- Thì cảm ơn My.
Trước khi tôi hiên ngang ra về, My còn nhắc:
- Anh nhớ nhé?
- Tôi sẽ luôn nhớ tới My. - Tôi ba hoa.
- Cái đó không cần lắm! Chỉ cần anh nhớ mai ghé lại trả tiền cho tôi là đủ rồi.
- À à
Tôi ấp a ấp úng vài ba tiếng rồi co giò chạy như bị ma đuổi. Khỉ thật.



Tôi quen My từ hôm đó. Và cái bưu điện cổ kính kia chẳng bao lâu đã trở thành một vùng thánh địa đối với tôi. Tôi đến đó mỗi ngày, siêng năng như một con chiên ngoan đạo đi lễ nhà thờ. Chỉ khác một điều cơ bản: Con chiên đến với chúa, còn tôi thì đến với My. .
My là Thanh niên Xung phong chuyển ngành. Một thời gian sau, tôi phát hiện ra điều đó. Nhưng cũng không có gì là quan trọng. Bởi tôi không cần biết Thanh niên Xung phong là thứ quái quỷ gì, chỉ mang máng là dân moi đất đào kinh chi đó. Chắc đại khái cũng như mấy ông chú tôi làm ruộng ở dưới quê. Có điều là nó có đội ngũ hơn - kiểu như bộ đội - và lao động cực khổ hơn - chắc là chốn đày ải gì đó rồi, thành ra tôi cũng không quan tâm đến nó lắm. Điều mà hiện giờ tôi đang tập trung sức lực và trí tuệ của mình là chuyện tình cảm của "chúng tôi''.
Tôi đã đi chơi với My bao nhiêu lần, đã đến nhà My bao nhiêu lần - mà nhà My thì tuyệt diệu: bố mẹ thường xuyên đi vắng, My lại là con một, thường chỉ có hai đứa tôi - thế mà mấy tháng trời ròng rã, tôi vẫn chưa nói được với My ba tiếng ''Anh yêu em'' đơn giản mà bất kỳ người con trai bình thường nào cũng đều làm được.
Tôi tự khất với mình một lần, hai lần, mười lần, rồi cả trăm lần. Tới lần thứ một trăm lẻ một, tôi đến nhà My với một quyết tâm sắt đá.
My đón tôi với tất cả sự mừng rỡ:
- A, anh Hảo đến chơi.
- Trời, hôm nay My đẹp lạ lùng!
Không biết trời xui đất khiến như thế nào mà thỉnh thoảng tôi cũng nói một câu nghe được. Nhập đề vậy thì nhất rồi! Tôi thấy My cười, tươi như một đóa hoa:
- Chà, hôm nay anh ăn nói có duyên tệ!
- Anh sẽ ăn nói có duyên hơn nữa cơ! - Tôi tiếp tục triển khai phần thân bài sau khi đã ngồi xuống ghế.
My nhìn tôi, nghịch ngợm:
- Thì anh cứ nói em nghe thử nào.
Tới đây, sự tự nhiên và sự tỉnh khô của My làm tôi đâm lúng túng - Điều gần như đã thành tiền lệ, tôi co vòi:
- Khoan, từ từ...
Và cứ như thế, trong suốt câu chuyện, tôi ''khoan, từ từ'' đến gần hai tiếng đồng hồ vàng ngọc. Phải đợi đến khi kim đồng hồ chỉ 11 giờ kém 15, nghĩa là ba My sắp về, thì tôi mới hốt hoảng nuốt nước bọt đánh ực một cái rồi thu hết can đảm, lắp bắp:
- M...y...?
- Gì anh?
- Anh định nói với em... - Trái tim tôi đang đập điệu xì lô lập tức chuyển qua điệu phốc.
Đôi mắt My mở lớn nhìn tôi chờ đợi. Ác hại thay, My không hề biết rằng cứ mỗi lần đôi mắt nàng xoáy vào tôi thì y như là bao nhiêu nhuệ khí của tôi tức khắc biến thành hơi, chui qua lỗ chân lông, bay mất. Lần này cũng thế, những lời lẽ trữ tình mà tôi đã hoài công chọn lựa và sắp xếp tự dưng biến dạng thành những câu nói vô duyên, rỗng tuếch và ngu ngốc nhất trên đời:
- Anh định nói với em... cho anh mượn mấy cuốn sách...
My nguýt tôi một cái:
- Có thế mà anh cũng làm ra vẻ quan trọng.
Lời trách của My khiến tôi vừa thẹn vừa tức. Thật là đồ chết nhát. Tôi đâm ra khinh mình thậm tệ. Cứ như thế này thì biết cơ hội nào mới đến với tôi đây?
Nhưng ngay lúc đó, may mắn làm sao, cơ hội đã đến với tôi từ dưới gầm bàn. Tôi suýt tắt thở khi phát giác ra rằng My đang nhẹ nhàng đạp lên chân tôi. Trời ơi, cái cảm giác tê mê khi hai làn da tiếp xúc nhau khiến tôi xao xuyến khôn tả. Tôi lén nhìn My và bắt gặp ánh mắt dò hỏi của nàng. Nàng hỏi:
- Bộ anh trúng gió hả? .
Trời ơi, coi tỉnh chưa kìa? Tôi chưa thấy ai xuất sắc trong vai ngờ nghệch như My. Nhưng tôi vẫn trả lời, ỡm ờ:
- Hình như... mà không phải... .
Trong khi đó, chân tôi cố tình thúc nhẹ chân My, thăm dò phản ứng. Lập tức, bàn chân ấm áp, mềm mại kia đè mạnh chân tôi xuống. Trong lòng tôi lúc này sung sướng vô kể và tôi cứ để chân mình như thế, cầu mong nó mãi mãi như thế. Và tôi dám cá với tất cả mọi người rằng trong giờ phút thiêng liêng đó, hàng tỷ người trên trái đất bao la này, không có ai hạnh phúc hơn tôi cả. Hạnh phúc nhất là My ''giả vờ'' trêu tôi:
- Hay là anh bị cảm?
- Ừ, cảm nặng rồi, - Tôi lim dim mắt tình tứ.
My ''giả vờ'' lo lắng:
- Em đi lấy nước anh uống nhé!
Tôi như bơi trong ánh sáng của tình yêu, giọng nũng nịu:
- Ừ, anh muốn khô cả giọng đây.
Nhưng khi My đứng dậy đi vào trong nhà thì cũng là lúc tôi té thê thảm từ trên mây xuống mặt đất. Cái gì nữa đây, trời ơi? Tóc trên đầu tôi dựng đứng cả lên. My đi rồi mà sao chân nàng còn đạp lên chân tôi, ấm áp? My ơi, em định giết chết anh sao? Tôi cúi xuống gầm bàn. Mấy đó sao đồ khốn nạn? Tôi hét lên lồng lộn và thò tay thộp cổ con mèo ăn hại đang nằm hiền lành trên chân tôi. Trong cơn giận điếng người đó, tôi tặng cho con mèo yêu quí của My một cú đá như trời giáng. Con vật bắn tung vào tường và kêu lên thảm thiết.
My bước ra, tay đang cầm ly nước, thấy vậy kêu lên:
- Trời ơi sao anh đánh nó?
My đặt ly nước xuống bàn, rồi chạy lại ôm con mèo vào lòng và vuốt ve bộ lông mềm mại của nó, vỗ về như dỗ một đứa bé:
- Miu Miu có đau không, hở Miu Miu?
Trong khi đó tôi đứng ì một chỗ, lúng ta lúng túng và tự xỉ vả thậm tệ về hành động ngớ ngẩn, vũ phu và ngoài kế hoạch của mình.
Đôi mắt My ngước nhìn tôi, đầy nghiêm khắc. Khi tôi còn nhỏ, mẹ tôi cũng hay nhìn tôi như thế mỗi khi tôi làm điều gì quấy. Cảm giác đó khiến tôi bất giác đưa tay lên gãi đầu, miệng ấp úng phân trần:
- Lỗi tại nó... !
- Nó làm gì anh? - Đôi mắt My vẫn dán chặt vào tôi.
- Ai bảo nó nằm lên chân anh.
- Thì có sao đâu!
- Nhưng nó làm anh tưởng lầm! - Tôi nhăn nhó.
- Sao? Anh nói gì?
- Anh tưởng lầm...
- Tưởng lầm sao?
- Tưởng lầm...
- Nhưng mà lầm sao? My gằn giọng.
Tôi cắn môi muốn bật máu:
- Anh tưởng lầm là... không phải nó!
Giọng My gay gắt hơn:
- Có thế mà anh đánh nó?
- Anh đâu có đánh, anh đá, đá nhẹ thôi mà!
- Xì, nhẹ mà nó bắn tung vào tường và kêu la om sòm .
Những câu chất vấn, tra hỏi, hoạnh họe trút xuống tới tấp khiến tôi nổi nóng, bản tính rụt rè bay vèo đâu mất đâu mất, tôi đâm sẵng giọng: ..
- Cũng đáng đời!
Lập tức My buông con mèo ra, chồm tới:
- Anh nói đáng đời ai?
Tôi lùi lại một bước, phòng thủ, nhưng giọng cố giữ vẻ du côn:
- Con mèo chết tiệt đó chứ ai?
- A, anh dám rủa con mèo của em là con mèo chết tiệt hả?
- Ừ đó, ai bảo! - Tôi vẫn không nhượng bộ.
- Ai bảo sao?
Tôi nín thở. Lần này thì cơ hội - một cơ hội thật sự - đã đến sát nách tôi và nhe ràng cười, khuyến khích. Phải làm gì đây? Thôi cứ liều thứ một lần đỏ đen xem sao. Tôi nhủ thầm và nghiến răng đặt quân bài xuống:
- Ai bảo nó làm anh mừng hụt!
Nhưng nói xong câu đó, tự dưng tim tôi đập thình thịch, cái tính nhút nhát lại trở về mức độ không sao trấn an nổi. Tôi tự cấu xé mình không tiếc lời. Trời, ngu ơi là ngu, dại ơi là dại! Nhưng đã lỡ rồi, tôi đành nhắm mắt lại, hai tay nắm chặt chờ sấm sét nổ ra.
Một giây trôi qua. Không có gì báo hiệu bão đang nổi lên. Hình như thời tiết không có vẻ gì là xấu đi. Hình như trời vẫn quang, mây vẫn tạnh. Hình như... Tôi mở mắt ra và thấy My cười. Và từ trong những chiếc răng trắng đều như hạt bắp của My, vị thần may mắn đang lò dò bước ra và gõ chiếc đũa thần lên trán tôi:
- Anh không mừng hụt đâu.
Đến lúc đó, cái thằng ngớ ngẩn nhứt trần đời là tôi mới hiểu là từ nãy đến giờ My giả vờ đóng kịch để dọa tôi. Và cũng từ lúc đó, tôi bắt đầu cởi bỏ chiếc áo tự do của mình. Mái tóc, ánh mắt, nụ cười, tiếng nói... tất cả mọi thứ của My đã tan thành những mắt lưới bền chắc trói gô tôi lại như trói một con gà.



Ai từng yêu chắc cũng đồng ý rằng trong đó, bên cạnh nhưng ngày rạng rỡ cũng có những ngày ảm đạm. Một lần đến thăm My, tôi bắt gặp một người con trai lạ đang ngồi nói chuyện với My ở phòng khách. Nhìn thoáng qua tôi biết ngay gã là Thanh niên Xung phong, vì gã mặc một bộ đồ xanh màu lá cây bằng vải dày, chân đi dép râu, da ngăm đen, tóc cháy nắng, có nhiều sợi quăn queo. Gã ngồi cạnh My, cách nhau khoảng một thân người. Không biết là có phải hai người đang ngồi sát nhau, thấy tôi vào liền xích ra hay không! Hừ, có thể lắm! Tôi cố gắng nuốt cục phẫn nộ đang trồi lên ngang cuống họng và bước qua ngưỡng cửa, chân cố tình gõ mạnh lên cái sàn nhà vô tội.
Thấy tôi vào, My reo lên:
- A, anh Hảo! Hôm nay không ôn bài sao đến đây?
Ý My hỏi chuyện ôn thi vào đại học của tôi. Giọng My vồn vã mừng rỡ như thường lệ. Nhưng lần này... Hừ, đừng làm bộ, thằng này không dễ cho vào xiếc đâu Tôi lạnh lùng:
- Ừ, đến chơi. Nếu em bận thì anh về.
Tôi thấy vẻ ngạc nhiên thoáng hiện trên mặt My. Dòng âm thanh liến thoắng tự nhiên không lại như cây đàn bị đứt dây.
Tuy nhiên My vẫn trả lời, giọng bình tĩnh:
- Không, anh ở lại chơi, em có bận gì đâu. Đây là anh Khoát, bạn cùng đơn vị cũ - My xoay qua người khách lạ, giới thiệu - Hôm nay về phép, ảnh đến thăm em. Còn đây - My chỉ tôi - là anh Hảo, bạn thân của em đó anh Khoát. Hai người làm quen với nhau đi.
Khoát đứng dậy chìa tay ra:
- Chào anh!
Dù không muốn nhưng vì phép lịch sự tôi phải cầm lấy tay gã, bàn tay cứng ngắt, chan sần:
- Xin chào! '
Sau khi làm xong thủ tục xã giao, tôi gieo mình xuống ghế như một cục đá và cố ý biến mình thành một cục đá thực sự. Nghĩa là, từ khi đó, tôi ngồi bất động, im thin thít, hai cặp môi như dược dán vào nhau bằng một thứ keo thượng hảo hạng. Phái khó khăn lắm mới nhúc nhích được một tí để trả lời một cách nhát gừng những câu hỏi của ''bọn họ''. Mà ''bọn họ'' thì đúng là lắm mồm.
- Hai bác đằng nhà khỏe không anh? - My hỏi tôi.
- Không.
- Ủa, sao vậy anh?
- Bịnh.
- Bịnh gì thế?
- Cảm.
- Hai bác có uống thuốc gì chưa?
- Rồi.
- Để mai em đến thăm nhé?
- Ừ
Hết My thì đến gã kia. À, xa luân chiến!
- Anh định thi vào đại học gì vậy anh?
- Y.
- Chà, thi vào đại học y chắc khó lắm anh hả?
- Đương nhiên.
- Ở đó học mấy năm mới tốt nghiệp anh?
- Bảy.
- Chà, lâu dữ!
- Đương nhiên.
Gã con trai cụt hứng, bèn xoay qua trò chuyện với My. Hai người hỏi thăm nhau đủ thứ. Bao nhiêu kỷ niệm hồi trước ở hiện trường hiện lớp gì đó được lôi ra hâm nóng lại. Nào là hồi đó vui ghê. Mình đào kinh ban đêm. Mình tải gạo dưới trăng. Mình đốn lồ ô. Mình cấy lúa. Mình trồng mì. Mình, mình, mình... Mình là ai? Mình là một người, nhiều người hay chỉ có hai người? Thôi đừng có xạo. Tôi lầm bầm trong bụng và có cảm giác mình bị bỏ rơi, bị ném vào thùng rác, bị loại khỏi vòng chiến một cách thảm hại. Nhưng điều khiến tôi bực nhất là con mèo của My từ nãy đến giờ cứ nằm yên trong lòng gã, miệng kêu grừ grừ ra vẻ hạnh phúc lắm. Điều này dứt khoát không thể chấp nhận được. Bởi vì con mèo mắc dịch kia từ lần đó đến nay chẳng khi nào nó chịu lại gần tôi chứ đừng nói là ngồi lên đùi. Gã kia vừa nói chuyện vừa vuốt ve Con mèo một cách âu yếm. Hừ, gã phải thân thiết với cái nhà này lắm thì con Miu Miu mới đối xử với gã tử tế như vậy. Vậy mà My giấu tôi. Tảng đá bắt đầu cau mặt, hơi động đậy và ho lên một tiếng.
Giọng ho của tôi quả là chất lượng. Gã lập tức đứng dậy cáo từ. Tôi ậm ừ đáp lại lời chào của gã, mép hơi nhích một tí ti. My đứng dậy tiễn gã ra tận cửa - Chà, tình cảm quá nhỉ - Trước khi về, gã còn ngoái đầu lại dặn dò:
- Khi nào rảnh My ghé xuống đơn vị chơi nhé?
My đáp, mặt rạng rỡ, coi như không có tôi trên cõi đời này:
- Ừ, em sẽ ghé!
Đợi My quay vào, tôi đứng bật dậy khỏi ghế như một cái lò xo và dang chân giữa nhà, hai tay chống nạnh, mắt nhìn thẳng vào mặt My tóe lửa, giọng sắc như chém:
- Cô xong việc chưa?
- Anh sao vậy? - My kêu lên.
- Thôi đừng làm bộ! Cô vừa nói chuyện với thằng nào? Trả lời ngay! - Tôi phán như một quan tòa.
My nhăn mặt:
- Anh không được gọi người ta là thằng!
- Thằng! - Tôi quát.
- Không được.
- Cứ thằng!
- Thế thì em không nói chuyện với anh.
Giọng My kiên quyết khiến tôi muốn ói máu. Nhưng chưa đến nỗi mất hết sáng suốt, tôi đành nhượng bộ:
- Anh ta là ai?
Em đã giới thiệu với anh rồi. Ảnh là bạn. Hồi trước ảnh là đại đội trưởng của em.
- Hà, hèn chi? Cô Thanh niên Xung phong yêu anh đại đội trưởng thì dúng quá!
- Anh đừng nói tầm bậy
- Tầm bậy gì' Mấy thằng cha Thanh niên Xung phong tán gái thì phải biết. Cái gì mà tụi nó không xung phong.
- Anh không dược gọi các anh ấy là tụi nó! - Một lần nữa, My kê tủ đứng vào miệng tôi. Tôi tức sôi lên:
- Anh ta đến đây thường xuyên phái không?
- Lại đoán mò! Hai ba tháng ánh mới ghé thăm em một lần.
Tôi khoát tay:
- Thôi đừng có giấu! Nhìn con mèo của cô là tôi biết ngay.
My trố mắt.
- Cái gì?
- Chà, - Tôi nhếch môi, giọng đắc thắng như một tên được bạc - Nó âu yếm anh ta lắm mà! Hừ, người lạ thì đừng hòng! Còn chối nữa không
My bật cười:
- Thôi, bỏ cái giọng chát nghét đó đi! Miu miu là của ảnh nuôi. Ảnh cho em. Con vật nào lại không nhớ chủ~ Anh là chúa nói liều!
Mặt tôi đỏ rần tới mang tai. Nhưng tôi vẫn không chịu thua một cách dễ dàng như thế. tôi ra lệnh: .
- Cô mang trả con mèo cho anh ta đi?
- Anh vô lý quá? Sao lại trả? - My cự nự.
Tôi hét lên:
- Trả, trá ngay. Không thể có con mèo nào của anh ta ở cái nhà này cà. Tôi không mốn anh ta đến đây để thăm mèo!
- Lại nói bậy nữa! Nhưng thôi được: em sẽ làm cho ra con mèo nào là con mèo của anh, con mèo nào là của ảnh.
Nói xong, My bế con Miu Miu đặt vào tay tôi: .
- Đây, con mèo của anh đây.
Trong một thoáng. tôi lên cơn sốt và thấy trái đất quay một cách cụ thề. Tôi lùi lại, rơi phịch xuống ghế và phát âm bằng một giọng chiến bại hoàn toàn:
- Thật thế sao em?
My bước lại đối diện với gương mặt sắp chết đuối của tôi và giơ tay cốc nhẹ tôi một cái vào trán, miệng nhấn mạnh từng chữ một:
- Nếu anh còn ăn nói như thế.
Tôi hối hả chộp lấy chiếc phao My vừa quăng ra, ngoi lên và thở. Sau khi đã hồi sức, tôi liếc nhìn My một cái, mặt lấm lét như tên trộm. Thấy điệu bộ của tôi, My phá lên cười.
- Ai bảo chọc tức chi? - Tôi nói trống không.
- Ai chọc tức ai?
- Em chọc tức anh. Cứ mồm năm miệng mười bênh cái thằng... ờ, ờ, bênh cái anh kia chằm chặp.
- Bênh gì đâu nào?
- Đó mà không bênh! - Tôi rụt vai - Gớm, người gì mà đen thui
- Con trai da đen mới đẹp
- Tóc khét nghẹt - Tôi tiếp tục bưới móc.
- Đó là hương đồng nội - My đáp tỉnh bơ.
Tôi chợt nhớ đến cái bắt tay vừa rồi:
- Tay đầy sẹo.
- Đó là những huy chương
Tôi nổi nóng:
- Đôi dép trông quái gở!
- Đẹp nghìn lần dép da - My tiếp tục đổ thêm dầu.
Tôi bắt đầu mất bình tĩnh:
- Người hôi rình
My chỉ tay vào người tôi:
- Thôi ngừng lại được rồi! Anh sắp sửa ăn nói vô duyên rồi đấy?
- Cô về phe nó hả? - Tôi nói, giọng cay đắng - Cái gì của nó cô cũng cho là tốt là đẹp hết. Cô nói thử, nó hơn gì tôi nào!
- Lại gọi là nó nữa. Hơn ở chỗ anh ta không nói bậy.
Tôi không còn đường nào chối cãi bởi vì dù sao tôi cũng còn đủ trí khôn để biết rằng từ nãy đến giờ, sự ghen tức và cơn nóng giận đã dắt tôi đi quá xa. Nhưng tôi vẫn không nén nổi tính tự ái:
- Còn gì nữa?
- Anh ta lao động tốt?
- Hừ, tưởng gì! Cô ở đó chống mắt lên xem tôi lao động như thế nào!
Tôi phóng như bay xuống nhà dưới, suýt đâm đầu vào cái tủ kê sát lối đi. Tôi sục vào xó bếp và lôi ra cái búa cùng một đống củi to tướng. Tôi bê tất cả ra ngoài hè và cong lưng trút cơn phẫn nộ lên đầu những thân củi vô tri. Gân xanh gân đỏ nổi vằn trên người, tôi mím môi quật mạnh những nhát búa hằn học. Nhưng mới chẻ được một hai cây, thì My đã chạy ra nắm áo tôi kéo vào nhà:
- Thôi đi, đừng có điên!
- Thế nào! - Tôi hất hàm, sau khi đâ ngồi yên trong chiếc ghế bành to tướng trên nhà - Vậy được chưa. Cô còn muốn gì ở tôi nữa? - Tôi khoa tay một vòng, giọng kiêu lãnh - Trong nhà này, cô xem lại các thứ, tủ, giường, bàn, ghế, quạt, đèn, ly, tách, ấm, chén... có thứ nào đui què mẻ sứt cô bê hết ra đây, tôi chữa cho! Để cô thấy tôi lao động tốt hay không?
My thu chân trên ghế hệt như con Miu Miu. Và con Miu Miu bắn mũi tên tẩm thuốc độc vào tim tôi:
- Lao động tốt không hắn là như vậy!
- Trời ơi! - Tôi vò đầu - Cô còn muốn hành hạ tôi gì nữa đây?
Giọng My vẫn điềm nhiên:
- Lao động tốt là có thái độ lao động đúng đắn cũng như phải hiểu rõ ý nghĩa, mục đích của nó và thực hiện nó một cách tự giác chứ đâu như anh...
- Như cái thằng... như cái anh đại đội trưởng của cô chứ gì?
Tôi cướp lời.
- Đúng? - My đấm bồi thêm một quả, bất chấp cái thân xác gầy gò của tôi.
Lập tức, tôi đứng phắt dậy, hét vang, mắt trợn trắng:
- A, được rồi. Nếu cô muốn thế tôi sẽ đi Thanh niên Xung phong cho cô xem
Nói xong, tôi nghe lạnh toát sống lưng và chợt nhận ra mình vừa nói một câu dại dột nhất trên đời. Lạy Chúa, chắc My sẽ cản tôi. Lạy Chúa, con ở hiền, hãy cho con gặp lành! Nhưng hình như hôm nay Chúa đi vắng. My cho tôi một cú ''nốc ao'':
- Anh muốn đi thì đi!
Trong thoáng mắt, tôi đâm ra bất chấp tất cá. Tôi thu nắm tay lại dứ dứ trước mặt My:
- À, à, cô đố tôi phải không?
- Em không đố, anh học tiếp cũng tốt, mà muốn đi Thanh niên xung phong thì em cũng không cản.
- Cô xúi tôi vào chỗ chết phải không? - Tôi nổi cơn điên.
- Đó không phải là chỗ chết' Em vừa từ nơi đó trở về.
- Cô muốn tôi suốt đời không được bước chân vào trường đại học chứ gì?
- Đừng vu khống Anh sẽ về học tiếp!
- Nhưng lúc đó tôi già rồi.
My bật cười:
- Anh mới hăm hai tuổi.
- Tôi tàn phai nhan sắc
- Em vẫn yêu anh!
- Chân tay tôi nứt nẻ
- Em thích chân tay ấy!
- Tôi sẽ xa cô - Tôi giở đòn tình cảm.
- Em sẽ đi thăm anh.
Thế này thì hỏng bét! Tôi giăng chiếc bẫy cuối cùng:
- Tóm lại, cô nhất định bắt buộc tôi đi phái không?
Nhưng My như một con chồn tinh, tránh xa chiếc bẫy:
- Em không bắt buộc. Nhưng nếu anh đi. em không phán đối.
- Được - Cuối cùng tôi nói, giọng sắp khóc - Vì cô, ngày mai tôi
đăng ký!
- Sao lại vì em?
- Vì cô, một trăm lần vì cô! Thôi đừng cãi nữa?
Thế là hết. Không còn ai có thể cứu vớt tôi được nửa... My ơi! Em còn yêu anh không?

thagnv
12-10-2006, 11:15
Vì một nguyên nhân không giống ai ấy mà tôi đâm đầu vào Thanh niên Xung phong. Khi chiếc xe buýt chở quân đổ tôi xuống một vùng đất xa lạ, đầy nắng gió, đầy bụi cát ở Tam Tân thì tôi không nén nối tiếng thở dài thườn thượt và tôi đã đưa tay lên cốc đầu mình mấy cái,
Thế nhưng, cái thuở ban đầu nào rồi cũng qua đi. Từng giờ, từng ngày cuộc sống mới đã làm vỡ ra trong nhiều điều. Và mỗi
khi nhớ lại những suy nghĩ của mình trước đây tôi ngượng nghịu vô kể. Và ngượng nghịu nhất là mỗi khi My lên thăm, lần nào nàng cũng hỏi câu mào đầu: ''Sao, ở chỗ chết này anh cũng sống được đấy chứ? Tôi chỉ biết cười giả lả: Em nhạo anh hoài.
Một năm sau, tôi chuyển về Lê Minh Xuân và được đề bạt lên tiểu đội trưởng. Buổi tập họp đại đội đầu tiên. tôi ngạc nhiên vô cùng khi nhận ra người đại đội trưởng đang nói chuyện trước hàng quân là Khoát. Từ cuộc ''đối đầu lịch sử'' đó đến nay, tôi chưa gặp lại anh ta lần nào. Không ngờ bây giờ lại đụng độ ớ đây. Khoát có lẽ chưa nhận ra tôi. Anh ta vẫn say sưa nói về ý nghĩa và tầm quan trọng của đợt thi đua thao tác ngày mai. Trông cách điều động đại đội, phân công công tác nhanh lẹ đâu vào đấy của Khoát, tôi biết ngay anh là tay cầm quân nhà nghề. Nét mặt rắn rỏi, giọng nói chắc nịch của Khoát thu hút tôi ngay từ đầu.
Tôi khều người đứng bên cạnh:
- Nè cậu, đại đội trưởng mình có người yêu chưa nhỉ?
Anh bạn quay qua:
- Chưa? Ủa anh mới đến hả? Anh không biết chứ, ông ấy nghiêm lắm.
- Sao nghe nói ông ấy với cô My nào ở Sài Gòn ấy mà!
- My nào? À, Hoàng My ấy hả? Làm gì có! Cô My hồi trước là y tá ớ đại đội mình đó, giờ chuyển ngành về bưu điện rồi. Ông coi Hoàng Mỵ như em. Mà nghe nói Hoàng My có người yêu rồi, hình như anh chàng học sinh nào đó.
- Không phải đâu? Tôi biết! Anh ta cùng cánh với bọn mình đấy? Là Thanh niên Xung phong!
Mắt anh bạn sáng lên.
- Vậy há? Thế thì vui quá!
Tôi nhủ thầm trong bụng: Thái Sơn trước mặt mà chú mày đâu có biết! Và tôi bật cười một mình, thích thú.
Tối đó, tôi đi dự buổi họp giao ban với trăm ngàn cảm giác khác nhau. Trong phòng Ban chỉ huy, người ngồi chật ních. Trên cái bàn ghép bằng lồ ô, đỏ lù mù một ngọn đèn dầu. Khoát ngồi chính giữa. Bên cạnh là đại đội phó chính trị và đại đội phó thi công. Các tiểu đội trưởng ngồi hai bên trên dãy ghế kê dọc sát vách. Tôi chọn chỗ tối nhất. Trong khi các tiểu đội trưởng khác báo cáo, tôi cứ suy nghĩ viễn vông.
- Tới tiểu đội 7 - Tiếng một người nào đó.
Tôi nhô đầu ra chưa kịp nói gì thì Khoát đã lên tiếng;
- À, người bạn mới. Xin giới thiệu với các đồng chí, anh Hảo. Chúng mình sẽ làm quen với nhau. Nào. bây giờ thì báo cáo đi'
Không nhận ra. Tôi thở phào như trút một gánh nặng và sửa lại thế ngồi. Hôm nay, tiểu đội 7 đánh được 30m3, gò mối chỗ K51 hơi lớn. Đồng chí Ba năng suất cao nhất... Tôi báo cáo kết quả công tác trong ngày một cách trơn tru. Không có gì xảy ra. Thế mà mình cứ sợ anh ta nhận ra mình. Hơn một năm trời còn gì. Nhất là với những sự việc không quan trọng. Thời gian như một cái rìu bén, nó sẽ đẽo khỏi đầu óc con người những hình ảnh không cần thiết của quá khứ. Thế mà cứ lo hão.
Đến phần ý kiến linh tinh.
- Có tiểu đội nào đề nghị gì không? - Khoát nhìn lướt qua hai dãy ghế.
- Tiểu đội 7 - Tôi nói và thấy Khoát gật đầu - Hiện nay tiểu đội tôi chỉ có bảy đồng chí, không đủ quân số, không đảm bảo được chỉ tiêu năng suất. Đề nghị cho bố sung thêm quân.
Khoát gục gục đầu:
- Đương nhiên!
Tôi giật thót và cảm thấy mặt mình tái đi. Tôi nhìn người đại đội trưởng vẫn ngồi đó, khuôn mặt cương nghị của anh ta vẫn rạng rỡ đằng sau ngọn đèn dầu không có gì thay đổi. Chắc là tình cờ thôi, tại mình có ấn tượng nên cảm giác như thế. Tôi nhủ thầm và tiếp tục:
- Vậy bao giờ thì đồng chí bổ sung cho chúng tôi?
- Mai! - giọng Khoát cụt ngủn.
- Thêm một điều nữa, hiện giờ tiểu đội tôi bảy người mà chỉ có năm cái mùng không đảm báo sức khỏe cho anh em. Đề nghị cấp thêm hai cái
- Đương nhiên!
Lần này thì tôi quan sát kỹ từng milimét vuông trên mặt Khoát. Câu trả lời gọn lỏn của anh ta hình như có kèm theo một cái nhếch ờ mép, nửa cười, nửa nghiêm, trông thâm hiểm không thể tả. Thôi đúng rồi! Lần này tôi không giật mình nữa mà lạnh cả người, Khoát đã nhận ra. Thế mà giả bộ không biết, để rồi tìm cách ''chơi'' ngầm mình. Nếu thế thì chỉ có trời mới biết. Bởi lẽ không ai có thể lần ra sợi dây liên hệ giữa tôi và Khoát. Mà tôi thì không thể nào hở môi được rồi. Còn Khoát, anh ta càng im lặng. Một đòn thâm độc. Các tiểu đội khác tiếp tục đề nghị. Nhưng tôi, từ lúc đó, không còn nghe thấy gì nữa, ngoài cảm giác: Hình như chiếc ghế tôi ngồi đang đưa qua đưa lại. Và tôi mang theo cảm giác chông chênh đó về tới sam, sau khi buổi họp kết thúc.
Điều khiến tôi xót xa nhất không phải là sợ Khoát ''úm" dù Khoát là thú trưởng trực tiếp; Chỉ cần khôn khéo, tinh ranh một chút, anh ta sẽ thừa cơ hội để "chơi'' bất cứ ai dưới quyền một cách kín đáo, một cách không thể nào bắt bẻ được. Và điều đó rất có thể xảy ra với tôi. Tuy nhiên, hơn một năm sống trong tập thể, tôi biết cách coi thường những hiểm họa qua con đường đó.
Tôi chỉ buồn là Khoát, người đại đội trưởng mà tôi có cảm tình ngay từ buổi đầu gặp mặt giữa hàng quân, đã làm tôi thất vọng. Người đại đội trưởng ấy ngoài tài cầm quân, ngoài sự xốc vác trong công tác, đáng lẽ - tôi nghĩ - phải có một tấm lòng phóng khoáng, một thái độ đúng với đồng đội, cũng như với cuộc đời. Thế mà trên gương mặt rắn rỏi kia lại ẩn náu một nụ cười tinh ma và trong giọng nói cương quyết, đầy sức mạnh ấy còn giấu giếm bao nhiêu là cạm bẫy.
Tòi nằm vắt tay lên trán, nghĩ mông lung. Đèn trong sam đã tắt. Cả doanh trại chìm sâu vào bóng tối. Anh em trong tiểu đội đã ngủ say. Còn tôi thì trằn trọc với bao nhiêu tình cảm trái ngược trong lòng, mắt mớ thao láo nhìn lên đỉnh mùng tối mịt.
Có tiếng động lịch kịch. Hình như ai mới bước vào sam. Tôi
nằm yên, chờ đợi. Kẻ đó đứng yên một lát, rồi gọi nhỏ:
- Háo đâu?
Tôi nhận ra tiếng Khoát, nhưng không động đậy.
- Hảo nằm đâu? Ngủ rồi hả? - Khoát gọi một lần nữa, giọng cao hơn. Cuối cùng tôi cất tiếng:
- Đây!
Khoát dò dẫm bước lại chỗ tôi và sờ lên mép giường:
- Đây hả?
- Ừa.
Khoát vén mùng lên và chui vào nằm xuống cạnh tôi. Tôi hơi nhích vào, không ừ hữ một tiếng nào. Khoát cũng nín thinh. Bầu không khí yên lặng bao trùm căn lán nhỏ đến nỗi chúng tôi nghe rõ từng hơi thở của nhau.
Chợt Khoát huých nhẹ vào hông tôi:
- Bộ cậu giận mình hả?
Tôi im lặng. Không biết trả lời thế nào.
- Lúc nãy mình đùa cậu đó thôi. Mình nhận ra cậu ngay từ ban sáng kia. Nhưng mình để xem cậu có nhận ra mình không. Té ra chúng ta không quên nhau.
Khoát huých tôi một cái nữa, khiến tôi phá lên cười, bao nhiêu nỗi bực dọc bay vèo đâu mất. Tôi xoay người ôm vai Khoát:
- Thế mà mình cứ tướng cậu chơi mình!
Khoát cười:
- Cậu thấy mình đóng kịch tài đấy chứ. Mà này, cậu đi Thanh niên xung phong từ bao giờ thế?
Thế là tôi bắt đầu kế cho Khoát nghe đầu đuôi câu chuyện và hai đứa cười hích hích trong bóng tối.
- Thế nào, cô Hoàng My của cậu vẫn khoẻ đấy chứ - Khoát hỏi.
- Nhờ trời, vẫn như thường.
- Còn con mèo của mình?
- Con Miu Miu! - Tôi chữa lại.
- Ừ thì con Miu Miu, cậu khó tính quá! - Khoát bẹo tai tôi một cái đau điếng.
- Nó vẫn khỏe không thua gì cô chú. - Tôi trả lời, miệng xuýt xoa.
Đang nói chuyện, thình lình Khoát lồm cồm ngồi dậy.
- Gì đó?
- Thôi mình lên Văn phòng, mai nói chuyện tiếp.
- Ngủ luôn ở đây đi!
- Không được! Phải đi kiểm tra các tiểu đội nữa.
Khoát chui ra khỏi mùng. Khua chân tìm đôi dép rồi nhón gót bước thật nhẹ. Tới cứa sam, Khoát dừng lại bật diêm châm một điếu thuốc và nói vọng vào, không quay đầu lại:
- Có một điều mà cho đến bây giờ, cậu vẫn quên cảm ơn mình, đó là nếu không có con mèo của mình thì chưa chắc đã có con mèo của cậu?
Khoát cười nhẹ một tiếng rồi bước ra ngoài trời.
Khoát đi khỏi nhưng câu nói đùa của anh thì ở lại và dựng tôi ngồi dậy. Cái điều Khoát nói thật tình chưa bao giờ tôi nghĩ tới. Ừ nhỉ, tôi lẩm bẩm và tức tốc leo xuống giường, chạy ra khỏi sam. Gió lạnh. Còn trời thì tối đen như mực. Tôi gọi, và nghe rõ tiếng mình vọng đi trong đêm:
- Khoát ơi!
Có tiếng ''ơi!" đáp lại từ phía bờ kinh dọc doanh trại Tôi định hướng và lần đi trong đêm tới bên bãi cỏ rộng. Một bóng người lờ mờ đứng bất động, chỉ có đóm đỏ đầu điếu thuốc cháy trên môi.
Nhanh như cắt, tôi nhảy xổ vào Khoát, ôm ngang người vật anh ta ngã xuống. Tay Khoát níu tay áo tôi ghì lại. Hai đứa lăn lộn trên bãi cỏ, miệng thở hổn hển. Cuối cùng tôi đè được lên người Khoát, hai tay tôi chộp lấy cổ áo Khoát xiết chặt, còn miệng thì ghé sát vào tai anh dõng dạc ra lệnh:
- Trưa mai, cậu phải đến trình diện mình ở... - Và tôi hạ giọng thì thầm - Căng tin!

1980

thagnv
03-11-2006, 11:31
CÁI NHÌN KHẮC KHOẢI

TÁC GIẢ: NGUYỄN NGỌC TƯ

Khoa điện thoại cho tôi từ phòng lab:
- Hình xong rồi, đã lắm. Mày kiếm đâu ra ông già ngon vậy?
Tôi cười, gác máy rồi xách xe chạy lại chỗ Khoa. Những tấm ảnh đen trắng treo trên dây còn đọng nước, giọt rất tròn và trĩu. Khoa nghiêng đầu ngắm:
- Mày coi, hình như, trong mắt ông già này có nước.
- Mày cận bao nhiêu độ rồi?
Khoa mắc cở tháo cặp kính ra, đôi mắt đờ đẫn.
- Hôm trước ba rưỡi, bây giờ chắc ba tám rồi.
- Mắt mày cũng còn ngon lắm.
Khoa lại hỏi tôi cái câu ban nãy, "mày kiếm ông này ở đâu mà thần thái vậy?". Tôi không trả lời, ngước mắt nhìn về những bức ảnh của tôi. Trong mảng tối sáng trong vắt, khuôn mặt một người đàn ông hiện lên, trầm lặng mà sâu sắc.
Và tôi lại thấy mình ở trong một căn chòi chăn vịt cất dựa mé kinh Chiếc. Căn chòi đầy khói. Cái mẻ un ám khói chất đầy giỏ dừa khô. Khói ngùn ngụt khói. Ngồi trên cái sạp ghe đóng thưa bằng tre chẻ thẻ, một người đàn ông ngồi nhìn ra cửa. Cô độc. Gió vụt vụt vô chòi. Ông làm nghề nuôi vịt đẻ chạy đồng. Hôm nay ở đồng Rạch Mũi, ngày mai ở Nhà Phấn Ngọn, xa nữa lại dạt đến Cái Bát không chừng. Ông đậu ghe, dựng lều, lùa vịt lên những cánh đồng vừa mới gặt xong, ngó chừng chừng sang những cánh đồng lúa vừa mới chín tới và suy nghĩ về một vạt đồng khác lúa vừa no đòng đòng. Đời của ông là một cuộc đời lang bạt. Một cuộc sống trên đồng khơi. Chòi cặm ở đâu cũng được, miễn có chỗ khô ráo cho ông nằm. Buổi sáng, ông lùa bầy vịt ra đồng, tay cầm cây trúc không róc đọt, bù xù. Bầy vịt ngàn hai trăm con, ngoi quẫy, vẫy vùng, rúc vào những nùi rạ mới, nhặt từng hột lúa. Con vịt xiêm tên Cộc cũng ào ra cùng bọn chúng, những lúc đó, không phải vì bụng đói, mà vì mùi rạ thơm quá, ngọt quá, ngụp mỏ vào thấy sướng người. Ông ngồi bệt trên bờ mẫu, khăn sọc cũ quấn đầu, nón vải nâu lốm đốm mủ chuối. Ông ngó lũ vịt và vấn điếu thuốc châm lửa, phà khói lên trời. Và trời rất xa xanh, trong. Ông kêu :
- Cộc, biểu!
Con Cộc chạy lại, vẫy nước và cọ đầu vào bắp đùi đen bóng của ông.
Buổi tối buồn lắm. Đêm nào cũng như đêm nấy, lùa vịt vô chuồng, tắm táp qua loa, ông khom lưng thổi phù phù vô cái bếp un cho căn chòi đầy khói rồi nằm đưa võng. Gió vụt vụt vô chòi. Con Cộc lò mò ra đống rơm dập dềnh dưới mé kinh, vùi mình vào đó ngủ một giấc. Nó tưởng lâu vậy, dài vậy mà lúc ngó lên vẫn thấy chao chát ngọn đèn đỏ lòm. Ông kêu:
- Cộc, giận gì mà xuống đó vậy mậy?
Cộc lạch bạch đi lên. Nó ghé ngang cái lưới bao rào vịt, thò mỏ vào mổ một con vịt ta khác. Gây chuyện chơi cho vui. Nó là con vịt chúa gây chuyện. Ngoài những lúc này, nó khá cộc cằn, tư lự. Mấy người bạn lang bạt của ông chụm lại nhậu lần nào cũng nhằn: "Cha nội sống như vầy rầu thấy mẹ, mai mốt con vịt xiêm đó chết rồi, cha sống với ai". Ông cười, "còn thằng con tao". Nó ở chợ. Lâu lắm mới về thăm ông một lần, về tới, ngoài việc kêu ông bán bầy vịt ra ngoải sống với nó, còn chuyện ông cưới vợ, nó nói, nó con trai, biết cô đơn là cái gì rồi, khổ lắm, buồn lắm. Nó giục ông từ năm nó mười hai tuổi. Ông ngạc nhiên lắm. Nhưng rồi ông biết rằng, nó đã học được ông cái tánh rộng lòng đồng khơi, như trời cao. Ông vò đầu nói với nó, cũng khó khăn thiệt, nhưng ông quen rồi. Nghề nuôi vịt mà, nghèo, lang thang, đeo mang người nữa, không đành.
Tháng Tám. Ông trở về kinh Mười Hai, quê ruột của ông. Chèo gần tới nhà ông thấy một người phụ nữ ngồi dưới bực cỏ đợi tàu. Chiều rồi, tàu cuối chạy lúc ba giờ rưỡi đi qua đã lâu lắm. Dưới ghe ngó lên, mặt người phụ nữ buồn so, buồn như sắp đâm đầu xuống sông mà chết. Ông chèo lựng khựng cho ghe đi tới. Qua khỏi đám lá, ông quạt chèo trở lại. Ông hỏi chị nọ đi đâu, chị khóc như mưa bấc, "Tôi cũng không biết mình đi đâu". Lãng xẹt vậy đó. Ông ngại ngần ngó những tia nắng đỏ cuối cùng đậu phía dưới đám dừa nước:
- Cô có sao không?
Người phụ nữ lắc đầu. Ông biểu chị xuống ghe cho quá giang. Chị vẫn khóc.
- Tôi biết đi đâu mà quá giang bây giờ. Hay ... làm ơn cho tôi theo anh đêm nay nghen.
Ông suy nghĩ rất lâu và trả lời một câu nhỏ xíu trong khi tụi vịt đạp đầu chen nhau dưới sạp ghe bằng tre đóng thưa thớt rộ lên lạc cạc inh ỏi. Đôi chân đàn bà dè dặt bỏ xuống đầu ghe, con Cộc cuối đầu không nói không rằng lùi lụi lại tính mổ một cái vô chân chị mừng chơi nhưng ông la: "Cộc! Bị đòn nghe mậy". Nó dừng lại, đủng đỉnh qua đi. Chị khịt mũi cái sột, lau nước mắt kêu: "Trời, vịt gì mà khôn quá vậy?". Con vịt ngoắc ngoắc cái đầu lại, ý nói, Vịt Xiêm chứ vịt gì, thiệt tình.
Qua thêm ba đám lá dày nữa là về tới nhà ông. Nhà vắng, vườn hoang, lúc chạng vạng buồn hiu hắt. Ông đi năm ba tháng về một lần, về đúng vạt đồng sau vừa chín. Hồi đi, con tắc kè ễnh bụng kêu è è, hồi về đã thấy đeo trên cột nhà mấy con tắc kè con, da chưa bông chưa hoa, mốc cời, đầu chờ vờ như cá lóc gặp nước mặn. Ông đẩy cửa bước vô trước, tay quơ mớ váng nhện lùng nhùng, đốt cái đèn, thổi lù lù mớ củi ướt. Chị ôm cặp đồ ngồi gá nhẹ mép ván, ngó quanh. Ông lượng xượng, "Nhà bỏ lâu, bê bối quá chừng". Rồi khói bay lên, ấm áp.
Ở căn nhà lá cũ mèm này, ông có nhiều kỷ niệm. Mỗi khi trở về nó lại chảy thành dòng dịu ngọt trong ông, nó chảy khẽ giửa những mạch máu. Những ngày thơ ông có ba má, những ngày trẻ ông có người chăn gối cùng. Có cây lụa bên hè làm chứng, mỗi lần nhà đổ bánh xèo, vợ ông ra hái đọt lụa, đứng tần ngần, "phải ảnh có nhà để ăn". Chiến tranh, ông đi biền biệt. Ngày về, chỉ còn đứa con trai. Nó khóc, kể, "Bửa đó cúng đình, có cải lương, má rũ con đi. Tuồng Thoại Khanh Châu Tuấn đó ba. Hát chưa xong khúc Thoại Khanh ngồi đờn cho công chúa Châu Tuấn nghe, thì pháo đằng đồn Chẹt bắn lại, má con chết luôn". Mùa đó lụa ra lá từng chùm trắng xanh, non nhuốt. Ông bắt thèm ứa nước mắt. Cũng thằng con ông, sau này nó nhằn: "Chuyện buồn mà ba nhớ làm chi cho tới già vậy không biết. Ông bảo ông có nhớ gì đâu. Thiệt đó, thằng nhóc, có nhớ gì đâu. Thằng con chép miệng, "Khổ quá!"
Người phụ nữ ông lượm chiều đó còn khổ hơn. Chị quê Cây Khô, lỡ thời, thương thằng (xin lỗi!) thợ gặt miệt Bình An đổ xuống. Không biết gốc gác, cội nguồn người ta mà thương gì ác nhơn vậy không biết. Làm vợ thợ gặt, sống đời thợ gặt. Chị ngồi vấn vạt áo: "Ai cũng nói em ngu, cực cỡ nào em cũng chịu, miễn là mình thương người ta". Vậy mà thằng đó (xin lỗi!) tệ thiệt, làm ít, nhậu nhiều. Tới đây, nhậu nhẹt, nợ nần, chị ra gánh trả. Nợ nhiều quá, mấy cái quán tạp hóa đòi lấy xuồng, nửa đêm chồng chị trốn đi, bỏ chị lại. Không biết quê chồng, không về được quê mình, chị ra bờ sông ngồi khóc.
- Cô Út không ngại, cứ ở lại đây, chừng nào có hướng đi đâu, mần ăn gì thì đi, nghen.
Nghe xong câu chuyện của chị, ông bập một hơi thuốc lá, nói một câu, bập hơi nữa thì hết điếu.
Chị chịu ở lại. Buổi sáng, chị thức dậy bắc ấm nước lên bếp cho ông uống trà, xong lùa vịt ra đồng. Thả vịt ruộng gần, chị đem cơm ra tới chỗ, dọn trên bờ mẫu, ngồi nhìn trời, nhìn đất, nhìn vịt, chờ ông ăn xong mới đi vô. Ruộng xa, chị thức dậy từ ba giờ sáng nấu cơm dỡ cho ông xách theo. Thuốc gò, giấy quyến mới vơi một ít, chị bỏ lại cho đầy để ông bỏ túi, "Nửa chừng mà hết thuốc chịu không thấu anh Hai à, giửa đồng mông quạnh, buồn chết, hồi đó ảnh ...", chị bỏ câu nói nửa chừng. Mờ mờ trời, chị lụi hụi vô chuồng lấy hột vịt, rồ chở ra chợ xã bán, chị tính:
- Chịu khó ra ngoài đó một chút, bán giá cao hơn anh Hai à. Sẵn hái ít đọt lụa bán luôn, thứ này người ta khoái lắm.
- Nhưng phiền cô quá....
- Có gì đâu.
Chị làm cỏ ngoài sân, trồng lên dấp cá với húng lủi. Chị súc lu đợi trời mưa hứng nước. Chị giặt mùng mền phơi cho thơm nắng. Ông cằn nhằn:
- Cô làm gi như người ở đợ cho tôi vậy?
- Có gì đâu, anh Hai, được ở lại đây là em mừng rồi.
Ông ngoái lại, nói:
- Thiệt tình, cô ở lại để chờ người ta phải hôn cô?
Chị không trả lời, chị cuối đầu đi thẳng. Chị không đẹp lắm, nhưng lúc thổi lửa có duyên. Chị không có duyên lắm nhưng lúc bậm môi bửa củi thấy đẹp. Ông chắc không để ý chuyện này, ông bận đốn so đũa cặm cột, dừng lá dừa nước làm cái nhà tắm cho chị. Ông vừa mài cây búa vừa nói nhỏ nhỏ với con Cộc:
- Mình đàn ông gì cũng được, giờ có thêm người... Ông ngừng lại, vuốt cánh con vịt -vậy hen Cộc?
Cộc không trả lời, kêu cóc cóc, há mỏ đớp vô mắt cá chân ông. Thì vậy chứ còn sao nữa, ý nó muốn nói vậy. Rồi nó đủng đỉnh đi chơi, dạo dạo bậy bạ kiếm trùn đất ăn. Ông nghĩ trong bụng hoài, "Làm vịt như mầy coi bộ sướng. Cộc à, làm người, hỏng làm thì thôi, làm phải cho ngon, thiệt khó".
Thằng con ông đi công tác qua nhà thấy có người lạ nó ngỡ ngàng. Ngỡ ngàng xong thì mừng. Nó nói: "Ba lúc này ngon rồi nghen". Ông gạt phăng phăng, "Mày chỉ giỏi bậy bạ". Ông không nói với nó vẫn thường thấy chị ôm cái áo người cũ ngồi khóc, chị thường hay kho cá bỏ me, ông vốn không thích. Hễ hổng đi chợ thì thôi, đi về y như rằng mua chai rượu, ông có uống gì nhiều đâu. Thằng con không biết. Thằng con đi dài dài xóm, ai cũng xầm xì chuyện của ba nó với người đàn bà gặt mướn. Cô Ba nó nói: "Tao thấy con mẻ không xứng với ba mày đâu, bỏ nhà theo trai, bị trai bỏ, giờ mới bám víu vô đàn vịt của ổng, đàn bà đàng hoàng, ai ở lại dễ dãi vậy". Thằng con cười, "Sao cũng được, cô Ba à, trước là trước, bây giờ là bây giờ, tốt xấu gì ba con biết, miễn sao ba vui là được rồi". Cô Ba chẩng hẩng.
Nhưng thằng con hơi thất vọng. Hễ chạng vạng, nhốt vịt, tắm rửa xong, ông kêu con Cộc đi dài xóm chơi. Con vịt thì chạy xà quần rượt cắn đám con nít, ông chơi lai rai với bè bạn, họ hàng. Chờ khi khuya mới về. Về ngủ nhà xuồng cặp mé kinh. Nhà mục rồi, đêm nằm nghe mối ăn trẹo trẹo, sợ chị ngại, ông nói: "tánh tôi ở đồng quen rồi, ngủ có gió mới ngon". Không lẽ nói trắng ra, nằm trong nhà, bên này nằm nghe bên kia thở nghe sao được. Những lúc nửa đêm, con Cộc cắm đầu cắm cổ chạy, ông cũng cuốn mùng chạy. Chị mở cửa năn nỉ ông vô nhà, để lạnh chết. Cực chẳng đã ông mới vô, ngồi chí mí ván, chong chong nhìn ra cửa chờ tạnh hột. Chị cảm động ứa nước mắt.
Chị vẫn thuờng đón ghe hàng bông hỏi thăm tin tức cánh thợ gặt An Bình. Tin tức ngày càng xa. Ở đây, trăm ngả sông nuớc, làm sao mà kiếm. Tin tức ngày càng vắng. Lúc rày, mua nắng thất thuờng. Nắng một hơi năm bảy ngày, mưa một hơi năm bảy ngày, bà con nông dân gặt ngay mưa, phơi lúa không được rầu muốn chết. Chị đi chuyên nuớc vô lu, đôi dép Lào cu mỏng dính, trợt một cái trật gân. Tội nghiệp quá chừng. Ông về nạt nộ một hơi, đã nói mà, cô có chịu nghe tôi đâu. Nói vậy thôi, ông di chợ huyện mua thuốc cho chị, sẵn mua đôi dép mới làm chị ngại trong lòng lắm. Ông bảo:
- Đôi dép cô mỏng thiếu điều cạo râu đuợc rồi, tiếc làm chi, để té nữa thì khổ.
Những chiều, lùa bầy vịt no căng luờn từ ngoài ruộng về, ông xúc tô com, ngồi ngoài gốc cây vú sữa đã bị cưa thành cái đôn, vừa ăn vừa nhìn cây chanh núm bắt đầu ra trái. Dưới cầu ao, chị đang lật đít xoong chùi lọ nghẹ, cảnh chiều êm đềm. Cô Ba đi qua, tròn con mắt.
Một bữa, mưa nhiều, lúc ông đội áo đi, chị dặn:
- Mưa lúc này gầm dữ quá, sét nhiều, anh Hai nhớ vô sớm nghen.
Ông gật đầu, day qua dặn lại:
- Cô Út thôi đừng hứng nước mưa nữa, hỏng chừng mai mốt tôi đi, ai mà uống.
Chị chưng hửng hỏi ông đi dâu, ông trả lời giọng rất buồn:
- Thì cho vịt ăn hết đồng này phải lùa đi chổ khác chớ cô. Vịt đang đẻ rất quạo, nhốt một hai ngày là mất sức. Tôi ở nhà cả tháng rồi, cũng buồn.
Nói vậy rồi ông quay lưng đi. Chị vịn tay vào cửa, nhìn theo.
Buổi chiều, ông về sớm, chị giũ áo mưa của ông phơi lên vách, miệng quở ông trời mưa dai thấy sợ. Chị xúc chén lúa đổ cho con Cộc, miệng hỏi lãng như không: "Cộc, mưa lạnh hôn con?". Cộc không trả lời, nó nghinh lên, ý nói vịt mà lạnh gì, ổng lạnh sao không hỏi, thiệt tình. Ăn cơm xong, chị dọn ra xị rượu nướng mấy con khô cá chạch:
- Anh Hai lai rai cho ấm bụng, mưa quá, nhâm nhi đỡ buồn.
Chị ngồi lắc võng, may hai cái bìa khăn mới mua cho ông, vừa may vừa nói:
- Bây giờ người ta làm khăn mỏng dính, hỏng may xổ chỉ ra nùi nùi hết trơn.
Ông không nói gì, đi xúc chén lúa lại đổ cho đầy mẻ, biểu "Cộc, lại ăn nè". Con vịt không chạy lại cái mẻ mà lạch bạch đi tới chỗ bộ ván ngựa sần sùi nó chui xuống gầm. Cái thau nhôm hôm nắng ông lấy nấu chai trét chiếc ghe giờ được làm mẻ un đang phì phì khói. Ông ngồi trước chai đế trầm ngâm. Chị dè dặt lên tiếng:
- Anh Hai tính chừng nào đi?
- Hai ba bữa nữa. Đi chuyến này qua tới miệt Khánh Hà, chắc đi lâu mới về.
Người đàn bà cuối xuống cắn chỉ, che cái thở dài.
- Cô Út à, tôi... có chuyện muốn nói với cô.
Chị làm rối chỉ:
- Gì vậy anh Hai?
- Sáng nay tôi gặp thằng bạn, nó mới chạy bầy vịt từ nông trường qua. Tôi hỏi, nghe nói có thợ gặt An Bình ở đó.
- Anh Hai!
Ông bước xuống đẩy mớ vỏ dừa vô mẻ un. Xơ dừa mịn, cháy rực, rồi tắt ngắm.
- Ảnh tên Sinh phải hôn cô Út? Ờ, Sinh, ảnh... cũng đang gặt bên đó, cô Út à.
- Anh Hai!
Chị buông cái khăn xuống kêu bàng hoàng.
- Tàu từ chạy nông trường lúc năm giờ, ngang đây, chắc cỡ sáu giờ rưỡi. Cô ráng đón chuyến đó. Để lỡ tới bữa sau, sợ mấy ảnh lại chuyển đồng, kiếm cực lắm. Tính vậy nghen cô Út.
Con Cộc lại hì hụi đi ra, ngỏng cổ lên nhìn ông. Khuôn mặt ông mờ mờ sau làn khói. Khói mắt dịch, làm cay con mắt muốn chết. Cái võng chị ngồi sau lưng ông, chị khom xuống cắn mớ chỉ rối mà buồn. Ông rót ly rượu uống mà buồn.
- Anh Hai à, sao anh tính vậy?
- Tôi biết cô còn nặng lòng cùng ảnh. Qua bển hỏi đầu đuôi gốc ngọn ra làm sao. Nói có tình, mình ở lại, biết đâu người ta có nỗi khổ gì...
Chị bật khóc. Con Cộc điềm đạm lại cái mẻ lúa, nó ăn chậm rãi. Ý nói làm sao mà tôi tội nghiệp hai người quá đi, làm người mà khổ vậy, làm vịt còn sướng hơn. Đêm đó, ngoài nhà xuồng, nó nghe ông thở nhẹ mà rất dài. Ai biểu...
Sáng sau ông lùa vịt ra đồng khi trời còn tối mịt tối mò. Ông đuổi vịt đi xa thiệt xa nhưng vẫn nghe tàu bè ghé bến nào rất gần. Ông ngồi bệt bên bờ mẫu, khăn cũ, nón cũ, kêu: "Cộc, biểu!" mà không thèm để ý nó có lại hay không. Kêu chơi vậy thôi. Nhưng Cộc là con vịt có nguyên tắc. Nó vẫn chạy lại, gác đầu lên đùi ông, cọ cọ an ủi. Rồi bất ngờ, ông lùa vịt cắt vạt đồng hối hả trở vô. Ông bỏ quên bịch thuốc trong nhà, thèm quá. Tới liếp tràm bông vàng trong vườn, ông ngồi lại, lũ vịt tràn xuống ao rau muống tắm táp. Ở đây, bỏ ba liếp chuối nữa là tới nhà. Ở nhà, không biết có còn ai...? Ngồi đây thôi, bước vô đó lỡ không còn ai... Hồi lâu, ông nói như chỉ nói với mình:
- Mai mốt mình đi nữa hen Cộc?
Con vịt cạp mắt cá ông, đi thì đi chớ gì.
- Mày đi hoài, mầy mệt không?
Nó há mỏm đóm đen cạp ngón cái chân ông, thì mệt chớ.
- Tao đốn tràm, làm nhà lại, ở luôn nghen.
Con Cộc mổ vô ống quyển ông, rồi nhóng cần cổ dòm ông lom lom, có phải ông chờ bà đó quay lại không? Ông nhìn lên ngọn tràm và thấy mấy cái bông vàng như mấy con sâu rọm đang dịu dàng rơi xuống. Có phải chỉ cần nhìn lại một chút, ông sẽ thấy ngọn khói bay lên không? Gió lùa lá chuối khô giống hệt bước chân ai vậy. Ông mắc ngoái nhìn. Và tôi đã chụp được chân dung ông trong ngoái nhìn khắc khoải đó.
Tôi bảo Khoa:
- Những người như ông già này có rất nhiều ở xứ mình, Khoa à, tao đâu có kiếm gì đâu.
Khoa nhìn tôi và nhìn lại những tấm ảnh, nó ngờ ngợ, "Mầy đang kể về ba mầy, phải không?"./.

thagnv
07-11-2006, 20:10
Hồ Anh Thái


Bến Ôsin

Cô đầu tiên xin cứ gọi là cô Nhất, mốt phim truyền hình Trung Quốc nhiều tập thì cả nhà gọi cô là Lâm Nhất Nhất. Nhất vừa mới đến một buổi sáng đã nghe huỳnh huỵch bôm bốp từ phòng ăn sang phòng khách, vợ và con gái anh tái xanh tái mét chạy dúi vào phòng ngủ.

Nhất theo vào ngay, miệng cười đắc thắng, tay giơ cao đuôi con chuột vừa bị cô đánh hộc máu ra đằng mõm chìa cả răng. Phải xua mãi Nhất mới chịu ra. Lát sau nhác thấy một con chuột chạy men theo chân tường, cô lại đuổi nó tơi bời chạy ra khỏi bếp men theo lan can lên cầu thang. Lại bài cũ, cô rút phắt cái dép cầm tay ném một phát ăn ngay. Con chuột quay lơ ngất xỉu. Con thứ ba bị cô đá một phát không còn biết trời đất là gì ngay trong phòng khách. Một buổi sáng đi tong ba mạng chuột. Rồi Nhất vừa nấu cơm vừa kể ngày bé đi chăn trâu cô nổi tiếng là tay sát chuột. Hun được một ổ chuột đồng, vơ một ít rơm rạ cỏ khô nổi lửa lên là được bữa thơm lừng ấm bụng. Nhưng đây là chuột thành phố, chuột thành phố độc hại không ăn được, một ổ dịch hạch đấy. Cô rành rẽ thế.

Đến được vài ngày, cô dặn cả nhà hễ bạn cô gọi đến thì phải nói đây là Xí nghiệp bánh kẹo Hà Nội. Cô đã nói với mọi người rằng lên Hà Nội làm công nhân. Một hôm đi chợ, cô gặp một con bé người làng mang gà lên bán đang tỉ tê trò chuyện với mấy bà hàng ngày vẫn bán rau cho cô. Cô bảo mày về làng mà nói thấy tao đi chợ thế này, tao cấu đầu rút ruột mày vứt vào nồi canh. Báu bở gì cái nghề đi ở.

Bà nội cô ngày trước cũng ở cho nhà anh. Lúc bà bằng tuổi cô bây giờ. Làm quản gia tay hòm chìa khóa, được tin cẩn như người nhà. Toàn quốc kháng chiến, ông bà cha mẹ anh đưa nhau ra vùng Việt Bắc kháng chiến, còn một hộp đồ nữ trang và những đồ quý sót lại trong nhà, bà cho vào thúng gánh về quê, về sau hòa bình bà gánh lên hoàn chủ, không suy chuyển mảy may. Nhất kể lại. Kể xong cô bình, cũng là một thứ trung thành theo kiểu nô bộc nô tài.

Hôm khác lại bảo cách mạng đưa bà cháu từ thân phận thằng ở con sen lên địa vị làm chủ, có thời bà cháu còn làm đội trưởng sản xuất. Thế mà hôm cháu đi bà cháu lại mừng. Ra đây có cô chú chăm nom bà cháu yên tâm lắm, chứ ở nhà làm cái mảnh ruộng bằng viên gạch, lấy gì mà đút mồm.

Tình nghĩa cũ hai nhà. Anh chị định nuôi Nhất dăm ba năm rồi cho cô đi học may có cái nghề mà lấy chồng. Làm Ôsin mới được vài tháng cô đòi đổi ngược quy trình: học may trước, vừa học vừa làm. Thế là học may. Về nhà trải báo cũ ra đo đo cắt cắt. Nhưng không quên nấu nướng. Bảo rau gì nấu với thịt gì, cá gì cho gia vị gì, rau thơm gì, cô tiếp thu nhanh làm đúng ngay. Không lẫn. Tuy nhiên thỉnh thoảng cô lại chế tác ra những món cải tiến. Làm phở đã rất ổn, cô lại còn cho thêm những viên mọc vào. Anh đi nhìn ngó thì hóa ra không phải một mình cô nghĩ ra, các cô Ôsin đã cho gần hết cả Hà Nội ăn phở mọc. Rau sống cô mua về, rau muống chẻ là món chính thì ít, rau thơm là món ăn hương ăn hoa thì lại thành món chính, ăn cả cây. Lại đi nhìn ngó thì hóa ra cả Hà Nội thanh lịch bây giờ ăn cả cây rau húng rau kinh giới um tùm sum suê. Ẩm thực Ôsin thịt vịt thịt ngan cưỡi hẳn lên đám giỗ đám cưới. Tự chế mãi, một hôm Nhất xoay ra bảo cô chú mua cho cháu quyển sách dạy nấu đặc sản, cháu làm đặc sản cho cả nhà ăn. Mua sách về. Cho thực hành. Vợ anh khen, con bé này mai ngày về quê lấy chồng không muốn làm ruộng mở quán cơm bụi đắt hàng đấy. Nhất bảo cháu xin thưa lại hai điều: Một, những đứa như cháu đổi đời ra phố rồi, đố mà quay về quê được. Hai, mở hàng cơm củi lửa dầu mỡ nhem nhuốc, không sang. Vợ anh hỏi thế nào thì sang. Nhất chỉ tay lên bức tranh phiên bản treo ở phòng khách: sang là như cô tiểu thư kia kìa.

Một bức danh họa châu Âu. Một cô gái áo váy tươm tất, mái tóc rẽ ngôi còn in đường lược, hai tay nâng cái khay trên có một cốc nước không hề sóng sánh, chân thì đang khoan thai bước đi. Nhất gọi cô gái trong tranh là cô tiểu thư.

Nhất học hết lớp dạy cắt may. Thực hành hết quyển sách dạy nấu ăn. Một hôm cô xin phép ra đi. Người ta nhận cô vào một xí nghiệp may mặc liên doanh. Mấy chị em công nhân thuê chung một chỗ ở. Vợ anh tiếc con bé nấu ăn ngon. Tiếc cái công đào tạo. Anh bảo tiếc gì. Nó như con cháu trong nhà.

Hôm cô đi, cô còn rút dép đập chết được một con chuột nữa.

* * * * *

Cô thứ hai cứ coi như tên Nhị, Khuất Nhị Nhị. Theo mốt phim truyền hình Trung Quốc nhiều tập, bốn cô lần lượt đến đỗ tạm bợ vào cái bến Ôsin này đã và sẽ là Lâm Nhất Nhất, Khuất Nhị Nhị, Lý Tam Tam, Đàm Tứ Tứ, có thể sẽ có một cô thập thò ngấp nghé ở cuối truyện mang tên Ngũ Nương Nương.

Cô Nhị, tiếng Việt nhằng nhịt đại từ nhân xưng phân cấp ngôi thứ thì phải gọi bằng chị, chị Nhị xấp xỉ tứ tuần ở quê mấp mé lên bà ngoại. Chồng chết, ba đứa con gửi lại nhà mình. Nhị đi ở nhà người. Kêu chị nấu canh nhạt, hôm sau nồi canh mặn chát muối iốt cho cả nhà phát triển trí tuệ. Kêu mặn thì hôm sau chị cho ăn nhạt trở lại. Cứ như thế cho đến khi cả nhà đều biết sợ, không kêu nữa. Khen nồi canh cua rau rút khoai sọ ngon, ngon à, Nhị cho ăn canh khoai sọ ba ngày liền đến mức con bé nhìn thấy khoai sọ thì bảo là khoai đầu lâu.

Nhị mê mẩn những bộ váy áo của vợ anh. Con bé đi học về sớm thấy Nhị mở nhạc Thái Lan tưng bừng giậm giật, khoác trên người dăm ba bộ cánh của vợ anh, giày cao gót cũng của vợ anh, đi một vòng lại kéo vạt áo một cái, nghiêng mình như người mẫu trên sàn diễn. Đi qua một vòng Nhị cởi một bộ trút xuống dưới chân. Đi lại một vòng Nhị cởi bộ nữa. Dăm ba lần cởi như lột vỏ hành. Sắp sửa lột đến phần áo tắm thì con bé về. Nhị nhìn mấy bộ xống áo xõa xượi trên nền nhà thở dài với con bé, thật là kẻ ăn không hết người lần chẳng ra.

Lần sau không phải con gái mà là anh bắt gặp. Nhị mặc cái váy ngủ màu kem của vợ anh, nằm trên giường ngủ của vợ chồng anh. Em nằm chờ anh đấy. Anh xem bộ này em mặc dứt khoát đẹp hơn cảnh sát mặc váy của anh. Anh lờ đi như không nghe thấy gì, bỏ ra ngoài. Hôm sau anh khen nhà cửa dọn dẹp trang hoàng đẹp mắt. Nhị lúng liếng đung đưa cặp mắt, em làm được thế là nhờ có tình yêu.

Phải bảo vợ gặp nói chuyện riêng với Nhị. Vâng, em cũng định nói chuyện riêng với chị từ lâu. Chị cầm tù anh ấy làm gì. Chị hãy buông tha cho anh ấy. Cô đã xem cho em rất kỹ, cô bói bài tây, cô giúp em viết sớ gieo quẻ, cô xem tay cho em, xem tướng mặt, vạch cả mắt em ra mà xem, cô bảo chỉ cần em kiên trì là muốn gì được nấy. Bây giờ em chỉ muốn anh ấy mà thôi. Cô điên à? Chị đừng hét lên như thế, em còn có thể hét to hơn chị nhiều.

Hai vợ chồng bảo nhau cho Nhị nghỉ. Chờ thêm vài ngày nữa để tìm một con bé khác. Nhưng ngay ngày hôm sau Nhị chủ động bảo cho em thôi việc, em sang làm cho nhà bác Nhỡ đối diện nhà mình, em sẽ ở đó chờ cho tới ngày anh được chị tha bổng, bao lâu em cũng chờ.

Từ hôm đó, hễ anh chở chị trên cùng một xe, lại thấy ánh mắt hàng phố thương cảm một cặp vợ chồng cầm tù lẫn nhau mà không buông được nhau ra. Thời gian ở với anh chị, Nhị đã kịp lân la truyền tin trong mạng lưới Ôsin khắp dãy phố, mạng lưới Ôsin truyền sang mạng lưới các bà nội trợ, các ông về hưu, truyền vào những bữa cơm gia đình đủ mặt mọi thế hệ.

***

Rút kinh nghiệm. Không đến trung tâm dịch vụ việc làm tìm người nhiều tuổi nữa. Cứ trẻ con mà hay. Cháu của người quen của bạn. Họ về quê đón một xâu ba bốn đứa, chia cho mỗi nhà một đứa.

Lý Tam Tam không còn là trẻ con nữa. Mười bảy tuổi rồi. Ở quê cũng là tuổi đã cuống lên đua đòi chúng bạn lấy chồng. Buổi tối ăn uống rửa bát đĩa xong, không thấy Tam đâu, vợ anh cuống lên sợ nó lạ nước lạ cái bị mẹ mìn bắt sang Trung Quốc. Tất tả đi tìm thì thấy đang đứng nói chuyện với mấy chú thợ ở căn nhà đang xây. Giai trứng cá gái má hồng. Mồm miệng tung hứng đối đáp. Mắt đung đưa. Ngồi xem phim truyền hình nhiều tập hễ thấy trai gái cầm tay kề vai áp má là mắt nhìn đắm đuối mồm xuýt xoa như ăn me ăn sấu.

Mê giai biểu hiện ra tính lú lẫn. Không tập trung được vào một việc gì. Để cháy nồi cá. Vặn nhầm nút điều chỉnh làm cháy cái nồi cơm điện gần hai triệu bạc. Bảo đi mua thịt thì mua ốc. Bảo chạy ra mua gừng luộc ốc thì mua riềng. Nhà cửa cứ lộn xộn rối tinh cả lên vì cái quên quên nhớ nhớ của Tam. Ngày thường đã thế, chủ nhật đòi cho cháu đi thăm người cùng quê. Chủ nhật nào cũng đòi đi. Hôm nào không đi được thì ngồi khóc. Giời ơi, sao cháu khổ thế này. Người ta được đi học đi chơi, cháu phải làm con ở.

Một hôm Tam lại hờ khóc ai oán. Chắc lại không được đi chơi. Anh hỏi vợ, chị bảo chơi cho lắm bây giờ ngồi khóc, cái bụng lùm lùm kia gần bốn tháng rồi, hỏi của đứa nào nhất định không nói. Khó xử. Nhỡ mà hàng xóm biết, một mất mười ngờ. Anh vẫn được tiếng là đẹp giai nhất nhà. Còn lại trong nhà tất cả đều là nữ: vợ, con gái, bà mẹ già thỉnh thoảng đến chơi. Gia súc cũng đều là giống cái: một con chó và một con mèo.

Gọi cho bố Tam ở quê ra. Bố nó bảo bác đi với em nói chuyện với thằng ấy. Chú thợ xây. Bây giờ mày tính thế nào? Chả thế nào cả, mê giai cho lắm thì nó chết. Mày chài nó thì mày phải giải quyết chứ. Chả biết ai chài ai. Chúng mày không định lấy nhau à? Lấy nhau? Tôi ở trong cái nhà đang xây dở với một lũ đàn ông thế này, lấy là lấy thế nào? Mày không sợ tao kiện à, nó là con gái vị thành niên? Tôi cũng vị thành niên đây, còn lâu mới đủ mười tám tuổi, tôi cũng đi kiện.

Bố con nó khăn gói về quê. Tam mếu máo van nài vợ anh, cô xin bố cháu cho cháu ở lại. Về quê đi qua sông bố cháu dìm cháu chết.

***

Con thuyền đi được chứ cái bến không đi được. Có thuyền nào lại tính chuyện ăn đời ở kiếp trung thành với bến nào. Theo thứ tự thì bây giờ là Đàm Tứ Tứ. Không đàn đúm. Không sểnh ra là lẻn khỏi nhà. Không mấy khi mở mồm, có lẽ vì giọng nó nặng quá, lại khê như giọng bà già. Mặt trắng bệch. Mắt mờ sương đơ đơ man man. Bê bát canh từ bếp vào phòng ăn bao giờ cũng bê nghiêng, té xuống đất nửa bát. Nhìn thế biết thần kinh nó có vấn đề.

Vợ anh đã bắt đầu chán cái việc làm thầy Ôsin. Cô nào cũng bảo ban cẩn thận việc nữ công gia chánh, vừa mới hơi tiến bộ thì ra đi. Chán chả buồn nói. Mặc kệ Tứ muốn làm gì thì làm. Thế là ai cũng sợ ăn cơm nhà. Công dung ngôn hạnh phải rèn phải học. Nữ công gia chánh phải học. Ẩm thực không biết ăn thì sao biết làm. Nghề giúp việc châu Âu có hàng trăm năm truyền thống. Nghề giúp việc ở đây có tới nửa thế kỷ đứt đoạn.

Vào bữa Tứ ngồi gắp thức ăn như giả vờ. Gẩy gẩy gót gót. Sơ sài một bát đứng dậy. Cứ sợ nó ăn ít không làm được. Nhưng cơm nguội bữa trưa thừa trong nồi đến bữa tối chả thấy đâu. Nồi thịt đủ ăn ba bữa, mới ăn bữa trưa, bữa tối đã không còn. Mua một bát tào phớ bê vào phải húp một hơi làm phép mà quên mất vệt tào phớ trắng lem nhem quanh mép. Càng thế ngồi vào bàn ăn lại càng như thể không muốn ăn.

Dần dần bắt đầu nhận ra đồ đạc trong nhà hao hụt lạ lùng. Mất lọ nước hoa thỏi son cái gương cái lược. Ba chục cái bát sứ Nhật mua được vài tháng chỉ còn mười hai cái. Mùa đông đến lôi quần áo rét ra mặc thì thiếu hết cả quần cha áo mẹ váy con. Có hôm thấy cả một cuộn tiền giấu dưới gầm tủ lạnh. Hỏi. Tứ trả lời tiền ấy của người cùng quê hôm qua đến gửi mua thuốc.

Vừa may có cô Nhất đến chơi. Cô bây giờ đã ra dáng cô thợ may, áo váy đã biết chọn kiểu dáng, biết chọn màu. Nghe vợ anh than thở mất đồ, Nhất nói để cháu bảo nó.

Cô rút cái dép đi trong nhà ra cầm tay, đảo mắt nghiêng tai nghe ngóng. Thình lình cô chồm tới cúi người đập đánh chát. Mày chết này. Chết thật. Một con chuột quay lơ chân cầu thang. Nhất quay sang quát Tứ, nhặt con chuột lên.

Tứ loay hoay định tìm một tờ báo lót tay. Nhất quát, nhặt bằng tay, đừng có học đòi tiểu thư. Tứ hoảng quá vội dùng tay xách đuôi con chuột lên. Nhất lấy một cái đĩa sạch đặt trên mặt bàn, hất hàm, bỏ nó vào đĩa.

Hai cô ngồi đối mặt. Giữa là con chuột chết trên cái đĩa. Chưa chết hẳn. Cứ một lát nó lại co rúm hai chân trước, cái bụng rụng lông rung bần bật. Nhất quát bây giờ mày khai hết tao nghe. Nhất bắt nó hai tay cầm cái đĩa con chuột chết mà xưng tội. Tứ ồng ộc nôn thốc nôn tháo. Tồng tộc khai bằng hết. Quần bò áo len áo da cho hết vào túi ni lông, sáu giờ chiều xách ra cùng với túi rác. Túi rác bỏ vào thùng rác. Túi đồ thì gửi con bé Ôsin nhà bên. Vài bữa đóng gói một lần ra bưu điện gửi về quê. Thìa đĩa bát mang ra chợ bán rẻ.

Sự thành khẩn quá mức có khi gây xúc động. Nhất giật lấy cái đĩa con chuột chết từ tay Tứ đem đổ sọt rác. Mày ngu lắm, giở trò gian dối với người cho mày nương tựa. Mày thích ở đây nhà cao cửa rộng, mưa không tới mặt nắng không tới đầu, ăn trắng mặc trơn, hay là thích về quê mò cua bắt ốc cấy một sào lúa mỗi năm chỉ đủ gạo ăn ba tháng. Nhất đổi giọng dạy dỗ. Đừng tưởng người thành phố tiền bạc vứt đầy mặt bàn, quần áo lèn chặt tủ là người ta hớ hênh. Bẫy cả đấy. Người ta để đấy mời mọc, thử xem mình thật thà đến mức nào, thực ra người ta tính đếm cả rồi.

Dạy dỗ chán, Nhất hạ giọng thân tình. Thôi vấp ngã thì đứng dậy. Bà nội chị bảo đói thì khó sạch rách thì khó thơm cho nên ngày xưa các cụ mới phải dạy đói cho sạch rách cho thơm. Giấy rách phải giữ lấy lề. Phải đàng hoàng để người thành phố người ta không coi thường mình. Ví dụ, vào bữa thì đừng có hùng hục vục mặt vào mà ăn, ra vẻ khảnh ăn càng tốt. Vắng mặt người ta tha hồ mày ăn nếm ăn thêm. Nếm lúc nấu và thêm sau bữa chính. Lọt sàng xuống nia đi đâu mà thiệt.

Dạy xong được con Tứ, Nhất sang cười đắc thắng với vợ chồng anh. Khen cô dạo này nhanh nhẹn hoạt bát, cô bảo cháu bị đuổi khỏi xí nghiệp may mặc liên doanh rồi. Ông chủ ngoại quốc bắt công nhân làm ngày mười hai tiếng không cho nghỉ thứ bảy chủ nhật, bắt công nhân xếp hàng giữa nắng chào vợ ông ấy, dàn hàng ngang như đội danh dự chào nguyên thủ quốc gia. Mụ này hàng ngày đến nhà máy ăn trưa với ông chủ vào lúc chính ngọ. Cháu vẽ tranh biếm họa dán báo tường nhà máy. Cháu sang các phân xưởng tuyên truyền đấu tranh chống áp bức bất công. Thế là cháu bị đuổi. Nhất giở cái túi du lịch cô mang theo, đem khoe mấy tập giấy, mỗi tập gói trong một cái túi ni lông như gói tiền vàng mã. Đây là tranh biếm họa phô tô cóp pi thành nhiều bản. Đây là tập truyền đơn. Đây là quần áo và đồ dùng của cháu, cô chú cho cháu gửi nhờ cháu đi hoạt động ít hôm. Cháu đã xin được sang một công ty tư nhân. Rồi cháu sẽ quay lại thanh toán lão chủ ngoại quốc.

Vợ anh đùa bảo Nhất cho con Tứ đi theo kiếm việc làm. Nhất lắc đầu, con này cháu dạy là dạy thế thôi, còn u mê chán, không bao giờ giác ngộ được đâu.

Vợ anh khen cô xinh ra. Nhất bảo chưa xinh đâu, bao giờ cháu phải được như cô tiểu thư kia kìa. Tay chỉ vào bức tranh cô gái ở trên tường.

Cô đi rồi. Anh không kịp nói cho cô biết đấy không phải là cô tiểu thư. Đấy là bức tranh Cô đầy tớ. Chân cô đang bước đi mà cái khay trên tay có một cốc nước không hề nghiêng chao. Điều đó chứng tỏ cô thạo việc, ngôn ngữ ngày nay gọi là giỏi chuyên môn. Trang phục tươm tất, mái tóc còn in đường lược. Điều đó chứng tỏ cô có ý thức tự trọng và biết giữ uy tín nghề nghiệp. Một cô đầy tớ thế kỷ mười chín bên châu Âu. Không phải là cô tiểu thư./.

tran_phong
20-11-2006, 14:38
2. Chuyện của nội

Nhận vé máy bay, cả nhà mừng tíu tít... Dường như Nội cũng mừng(14). Từ ngày đi, đến khi sống nơi trời Tây, Nội luôn giữ một gói giấy (29).

Nội ra đi... tay vẫn nắm chặt cái gói. Gỡ tay Nội, một cục đất màu nâu rơi xuống, vỡ tan...

XIn mạn phép DONNA cho mình trích dẫn trọn câu chuyện có tựa đề "Chuyện của Nội" này nhá. Vì đây là truyện ngắn mình tâm đắt nhất nên mình muốn post vào đây đúng y như nội dung của tread.
DONNA này, mình biết những câu chuyện này bạn sưu tầm nơi đâu, mình nghĩ rằng những câu chuyện trong đó rất hay không biết rằng các sếp có cho phép mem này đều đặn post lên cho bà con thưởng thức không nữa. Không biết DONNA có nghĩ như mình không? Mỗi khi đọc những mẫu chuyện này thật tình mình cảm thấy đó là 1 khoảng lặng trong cuộc đời mà đôi khi chúng ta không thấy được. Truyện rất đời thường nhưng nội dung thì không thường tí nào. Nói hơi nhiều mong các mod đừng xoa bài của em tội nghiệp thằng nhỏ này !


Chuyện của Nội.

Nhận vé máy bay, cả nhà mừng tíu tít...
Dường như nội cũng mừng lắm. Nội vào ra, hết sờ cái cột, sửa thân bầu, lại bứt mấy đọt mồng tơi nấu canh. Con cháu cười nội lẩm cẩm...
Từ ngày lên máy bay cho đến khi định cư trời Tây, nội luôn xăm soi một gói giấy, vẻ quý lắm.
Chiều đông ảm đạm, nội ra đi, tay vẫn nắm chặt cái gói nhỏ. Bố nhẹ nhàng gỡ ra, một cục đất màu nâu rơi xuống, vỡ tan...

thagnv
23-11-2006, 09:33
Nguyễn Ngọc Thuần

Ngày Bất Tận
Và Ngân Dài Từ Đó

Đôi khi tôi tự hỏi rằng, những người đàn bà quanh tôi , họ sống vì điều gì . Ngoại tôi , mẹ tôi, chị tôi, người đàn bà láng giềng, và cuối cùng , tôi biết rằng mình chẳng bao giờ biết được điều đó.

Tôi không biết những buổi chiều như thế này, mẹ đang làm gì . Trong thư mẹ viết : " Mẹ nhớ con lắm " . Chỉ viết được bấy nhiêu đó .Có lẽ mẹ đã nhờ ai đó trong xóm dạy cho những con chữ như trẻ con này . Và tôi cũng biết , mẹ đã viết nó sau buổi ra đồng , chờ khi mọi người đi ngủ, mẹ lần mò thắp đèn :" Mẹ nhớ con lắm" . Hàng chục lá thư mẹ gởi cho tôi, nét chữ ngoài bìa thư không bao giờ là của mẹ, của chị, nét chữ đó của cô bưu tá . Mẹ đã len lén đi bốn cây số xuống thị trấn , rồi mẹ đọc cái địa chỉ của tôi cho một người lạ .Mẹ làm điều ấy vì cớ gì, tôi không bao giờ dám hỏi. Tôi sợ mẹ không thể trả lời thư cho tôi ngoài chữ :" Mẹ nhớ con ..." .

Bây giờ đã là cuối đông rồi. Cái lạnh như núi đồi, chúng trải dài khuất lấp tầm mắt tôi . Tôi nhớ mùa xuân 1957, một nỗi nhớ qua một nỗi nhớ của người khác , ngoại tôi. Ngoại đã ôm một đàn con bảy đứa trốn chui trốn nhủi vào nơi này . Ngoại đi trốn món nợ tiền kiếp của đời mình , đó là ông . Ông say, ông uống rượu và ông đánh đập . Ông chỉ vì rượu thôi.Ngoại nói như vậy . Nói mà không một chút giận hờn . Ngày xưa, ông chịu khó làm ăn, nhưng vô phước, ngoại không đẻ được con trai. Thế là ông buồn sinh tật . Ông không kể gì nước sôi , nếu có nước sôi trong tay. Vết bỏng trên tay ngoại , nó đã liền da hai chục năm rồi . Thật kỳ lạ . Người ta có thể nhìn vào một vết bỏng để nhớ về cuộc đời mình. Để chạy trốn từ Bắc chí Nam .

Từ Ban Mê Thuột , ngoại đem bảy đứa con vào Sàl Gòn . Yên ấm một thời gian bỗng dưng ông lù lù xuất hiện .Thế là ngày ngày cung phụng rượu thịt cho ông . Rồi chứng nào tật nấy , ông lại đánh đập . Biên Hòa là cái đất cuối cùng ngoại đến . Ông cũng chẳng tha đâu , nhưng sức lực chẳng còn để mà đánh nữa , già rồi , sự độc đoán cũng bị chi phối theo tuổi già mà tàn lụi đi .Và đó là những năm tháng hạnh phúc nhất của cuộc đời ngoại . Những năm tháng được tính bằng con số ít ỏi , bốn năm . Bà ngâm Kiều thanh thản nơi góc vườn . Và như chiều nay, bà đẩy chiếc xe lăn cho ông nhìn khu vườn , để rồi nghe được một giọng nói khàn đục : " Bà nó ơi ..." . Mái tóc bà bạc trắng , bà đưa ông đi , mái tóc ông cũng bạc trắng như vậy . Tuổi già như một thứ trái chín trên cành , thơm là thơm mùa cuối .

Những buổi chiều như chiều này , một chiếc lá vàng đã rơi vào tay tôi . Thằng con tôi nói, bố ước đi, đến ba điều đó . Tôi đã nói với nó rằng , bố ước gì con có được ba điều ước . Rồi chợt giật mình, hình như tôi chỉ ước toàn những điều cho con tôi , mà con tôi chính là của tôi . Tôi chưa ước điều gì cho mẹ, cho chị, cho tất cả những gì không thuộc về mình .

Buổi sáng , tôi đã uống cà phê quá đà rồi lơ mơ thấy cuộc sống như một vết xe . Chúng đã trợt qua trên chiếc kim đồng hồ của mọi thứ . Vợ tôi giờ này có lẽ vẫn còn nằm ở nhà . Nàng chẳng bao giờ tin, một buổi sáng nhìn ra mặt đường sẽ đem đến cho người ta một ý nghĩ tuyệt vời nào đó . Nàng chỉ tâm niệm mỗi một điều thôi cách giữ chồng khéo nhất là cho chong ăn ngon . Vậy đó . Và đôi lúc nàng không tránh khỏi gieo vào đầu tôi cái ý nghĩ, nàng đang đối xử với tôi như một con heo . Vừa tạp ăn vừa xa xỉ . Một ngày nàng nấu ba bốn món ăn , mỗi món đều có hương vị của thiên đường . Ăn đi mình . Rồi nàng kiên nhẫn chờ tôi nói một lời gì đó. Đôi mắt nàng làm tôi đau . Một cơn đau nhói đâu đó từ phía sau lưng như bị một phát đạn của sự yêu thương . Những yêu thương luôn làm tôi bối rối .

Tôi nhớ chị tôi , năm mười tám thì lấy chồng . Chồng chị chẳng bao giờ trò chuyện vơi gia đình tôi , gặp mặt chỉ cười cười ,thế là đủ . Và chúng tôi phải tập yêu thương anh như yêu thương một cái gì không nói , một cái gì chất chứa câm nín . Một năm.sau bỗng dưng anh trở bệnh và đột ngột mất.Tưởng chị bơ vơ một lúc, hóa ra một đời . Những tình yêu không nói khi mất đi còn lớn hơn những gì đã nói . Nó lớn đến nỗi bủa vây cuộc đời chị . Buổi chiều đi ra cánh đồng tôi thấy chị cuối mặt trên những đường cày như đang tìm những dấu vết . Mà một đời người có để lại nhiều dấu vết đâu.Thi thoảng trên những mảng tường , những hàng cây đang mọc, trên những chiếc hoa be bé trong vườn , cái nào là dấu vết của anh . Để rồi tuổi xuân của chị tôi vùi sâu ở đó, quên lãng và một mình .

Sau bốn năm lặng lẽ sống bên bà , cuối cùng ông tôi cũng ra đi vào một ngày muộn màng .Ông vội vàng đến đỗi tôi chưa kịp hỏi ông lời nào về cuộc sống này . Chỉ còn con vẹt , nhân chứng từng phút cuối , một nhân chứng mơ hồ không có gì khác ngoại trừ một lời nói mà những ngày nhàn rỗi cuối đời ông đã dạy cho nó nói lời của ông . Vừa ho khù khụ , vừa rụt rè, vừa khàn đặc. Nó rống lên : " Vân Tiên cõng mẹ khụ khụ , cõng me, khụ khụ..." . Đó có phải là giọng nói của ông tôi ? Chỉ biết bà đã khóc khi nghe những lời nói đó.Lạ lùng làm sao dấu vết của một đời sống chỉ còn bấy nhiêu, một đời vẫy vùng càn quấy chỉ còn bấy nhiêu trong tiếng vẹt hằng đêm không ngừng réo gọi . Chị tôi sợ lắm bảo thả con vẹt đi , nhưng ngoại tôi không đồng ý . Không có gì kinh khủng hơn những buổi chiều tối trong căn phòng không ánh đèn , ngoại thu lu ngồi nghe con vẹt nhắc lại những âm thanh cũ . Những âm thanh đã chết từ rất lâu , lâu đến nỗi tôi không thể hình dung nếu như không được nghe lại chúng .Tôi vội vàng thắp đèn , rồi bỗng dưng giật mình khi thấy tóc ngoại bạc trắng . Đó là một sắc màu sợ hãi và bí ẩn lớn nhất của cuộc đời mà tôi đã gặp . Tôi không biết ngoại đã nghĩ điều gì trong buổi chiều như vậy, nghĩ gì khi khóc thương những âm thanh kia .

Chiều nay tôi lại nhận được thư mẹ : " Mẹ nhớ con. Khi nào rảnh, con nhớ về " . Mẹ đã viết được thêm một vài con chữ mới . Thật lạ lùng làm sao những con chữ này, chúng như nhảy múa, chúng vật vã vì chứng yêu thương . Chúng là tất cả những gì mà mẹ tôi có thể .
Tôi đã đi dọc suốt chiều dài của buổi chiều hôm nay . Chiếc lá đang rơi nào là điều ước cho mẹ tôi , cho tôi , và cho thêm một ai đó . Chúng đã rơi hàng vạn lần trên con đường này , chúng đã rơi như một thói quen , và tôi cũng đã sống như một thói quen mỗi khi đi qua . Quen cả những điều lạnh lùng hơn một chiếc lá .
Buổi tối tôi nhìn lại hình mẹ trong những tấm ảnh đen trắng vàng úa rồi chợt giật mình , mẹ cũng có một thời thật đẹp đẽ với chiếc áo nhung đen cổ lọ và mẹ thoa son . Nhưng hình như chưa bao giờ thấy mẹ cười dù chỉ một lần trong những tấm ảnh như vậy . Có thể lúc đó mẹ không quen chụp hình , nhưng cũng có thể những điều ấy đã nằm sẳn trong cuộc đời mẹ từ lúc nào rồi .Chúng đã dự báo một điều gì bất an luôn thường trực xảy ra .

Trong ảnh , mẹ đang ẵm tôi. Tôi bận một chiếc áo màu nhạt . Và tôi đang khóc. Tôi đã khóc mãi không cách gì dỗ được nên cuối cùng ông thợ ảnh đành phải ghi lại một " pô" vào thời điểm như vậy . Cái miệng ngoác ra không âm thanh . Nhưng lạ lùng thay tôi như nghe thấy những tiếng động gào thét từ những câm lặng đó . Nó đã thét một lần vang vọng đến bây giờ .

Năm đó mẹ tôi vừa tròn hai mươi . Hai mươi tuổi đã là mẹ của hai đứa con. Nhiều lúc tôi cứ hay suy nghĩ vẩn vơ, mẹ đã hưởng được bao nhiêu năm cái thời con gái của mình . Tất cả như lớp phấn hồng cứ chìm xuống, chìm dần, chúng chìm đến độ tôi quên bẵng một điều mẹ cũng đã từng có một thời cổ lọ với nhung đen .

" Tết này con nhớ về . Mẹ nhớ con lắm " . Lại thêm một lần nét chữ của mẹ . Công này tôi vừa được biết là thuộc về con bé Lan trong xóm . Nó đã dạy cho mẹ tôi, hay nó đã dạy cho tôi một bài học yêu thương là phải như thế này . Tôi đã viển vông thật nhiều , đã bay bổng thật nhiều nhưng chưa hề nghĩ đến một việc cỏn con là cần phải chỉ cho mẹ một tiếng nói để mẹ có thể gói nó lại trong những phong thư, vì mẹ luôn luôn muốn nói một điều gì đó với đứa con bằng phong thư .

Lá thư của mẹ đã nhắc tôi nhớ rằng một mùa xuân đã đến khẽ khàng như tiếng thở dài ở ngoài kia , cùng hàng loạt điều ước của mẹ đã rơi rụng như lá vàng mà tôi đã nhặt . Bảy năm rồi . Chiếc xe đò bì bõm mùi cá mắm . Những khuôn mặt như chật chội vì những lo toan , tất cả ùa về ngầy ngật .

Căn nhà cũ vẫn vậy như năm xưa lúc bố tôi còn sống . Bây giờ còn lại ba người đàn bà mà tôi yêu : ngoại, mẹ và chị . Chị nắm tay tôi run run , không biết nói một lời nào . Tôi luôn sợ một tình cảm không nói như người anh rể trước . Đó là một thứ tình cảm lớn lao mà đời tôi không bao giờ muốn gặp . Như một thứ điềm báo quỉ quái nhất trên cuộc đời này . Cuối cùng thì chị cũng òa lên : " Em về chị mừng lắm " . Mẹ tôi chạy ra rồi cũng như chị rồi khóc rồi cười .

- " Ngoại đâu rồi chị ? " .

- " Ngoại đang đi tìm con vẹt. Dạo này nó già lắm rồi , cứ chạy lung tung trong vườn rồi quên đường vê . "

- " Nó vẫn còn ngâm Lục Vân Tiên chứ? " .

- " Không. Nó chỉ ho khù khù .Hình như nó không còn nhớ nữa" .

Đó là điều tồi tệ của trí nhớ mà tôi vẫn biết qua cuộc đời mình , như cái thùng rỗng, tôi chỉ kêu to một vài lần khi nỗi nhớ thổi qua , và chỉ có thế thôi.

Tối ba mươi mẹ thì thào : " Chị mày dạo này hư lắm , nó uống rượu con à . Hãy lựa lời mà khuyên nó hộ mẹ" .

Hèn gì đã ba hôm nay tôi thấy chị thập thò trong chiếc bàn góc tối . Chị ngồi im một mình khiến đôi lúc tôi chợt nghĩ chị muốn sống một khoảnh khắc cho riêng cuôc đời chị . Chị được quyền làm điều đó chứ . Chị đã hi sinh cả cuộc đời mình có gì riêng cho chị đâu . Tôi đã rót một ly rượu dúi vào tay chị trong cái đêm ba mươi này và chị bật khóc .Chị khóc tức tưởi như một đứa trẻ chợt thấy một ai đó bênh vực mình .

Mùi nhang khói từ ngoài sân ùa vào như một thứ bùa mê , chúng đã phanh phui từng nỗi nhớ một của đời tôi . Từ khu vườn cho đến khúc sân mà ngày xưa bố đã đổ từng giọt mồ hôi trên đó , tôi cứ miên man đi trong sự bận rộn kỳ bí cho đến khi vấp phải một người đàn bà . Đúng vậy, một người đàn bà nhỏ đang ngồi thu lu trong góc vườn , và đang che giấu điều vĩ đại nhất .

- " Ai ? " . Tôi hét lên . Cả nhà đổ ra,

- " Trời ơi con Lan, mày làm cái gì vậy? " .

Hình như tiếng mẹ tôi . Rồi mọi người kéo vụt đi . Bây giờ, trong cái ánh sáng nhập nhòa góc nhà tôi mới kịp nhìn rõ cô gái, độ chừng mười hai tuổi . Cô đang ẵm một đứa trẻ còn đỏ hỏn được quấn trong một chiếc áo mỏng mong manh hơn bao giờ hết .

-" Mày ẵm con ai vậy ? " . Chị tôi gào lên. Cô gái trẻ cúi gằm xuống rồi bỗng dưng òa khóc .

-" Nó là... con... em... em vừa mới sinh nó ngoài đồi cát... Em lạy chị..." .

-" Trời ơi, mày đã trốn ra đồi cát rồi tự sinh một mình à ? Mày có điên không ! " .

-" Em lạy chị , em không muốn vứt nó nữa . " Cô gái khóc ngất trong cánh tay tôi -" Em chỉ xin chị cho con em đêm nay được ở trong một căn nhà . Qua ba ngày tết em sẽ đi..." .

-" Cha nó là thằng nào ? " .Chị gào thét như tát nước vào mặt Lan. Tôi biết điều đó. Chị gào lên vì ganh tị , vì chị là đàn bà, một người đàn bà đã sống gần hết cuộc đời mình với cái bụng rỗng không mà chưa từng được ấp ủ một đứa trẻ nào. Chị đành phải uống rượu , chị tập say . Nhưng rượu không thể đem lại cho chị một cảm giác được làm mẹ . Bây giờ bỗng dưng có người tát vào mặt chị rằng họ đang thừa mứa đứa con của mình . Họ lên đồi cát và tìm cách vứt nó . Họ vô tình phỉ nhổ vào cái điều mà chị đã mong đợi .

Tôi cứ miên man nhìn vào khuôn mặc đứa trẻ ấy , nhìn vào đôi mắt, cái miệng . Lâu rồi, lâu lắm, tôi đã từng mang một hình hài như vậy . Và bây giờ trong mắt mẹ , tôi cũng chỉ mang một hình hài này thôi . Tôi tự hỏi, đêm nay, đứa bé này, nó có phải là vô phước không khi có đến những hai bà mẹ . Chỉ cần một thôi là nó đã đủ sự vĩ đại mà lớn lên . Nó xứng đáng được làm một đứa trẻ giàu có nhất , xứng đáng được sinh ra bằng hai tình thương của hai người đàn bà bị lãng quên này . Tôi cứ miên man nhìn vào đôi mắt nó cho đến hồi chị mang nó đi , chị lặng lẽ đặt nó vào giường , âu yếm giăng mùng cho nó . Chị vội vã xuống bếp mang lên một lò than nhỏ . " Ngủ đi con của mẹ " . Tôi nghe chị nói . Tôi nghe ngàn lần trong cái đêm ba mươi này . Có nán lại thì đồng hồ cũng đã điểm sang một ngày mới.Một ngày mới kỳ lạ của cuộc đời chị tôi , tôi biết thế . Và tôi còn muốn nói rằng , đó là ngày làm mẹ của chi . Ngày - của - mẹ , chỉ có mỗi một ngày của mẹ là ngân dài bất tận trong cuộc đời nàymà thôi . Và mọi thứ đều bắt đầu từ đó .

thagnv
01-01-2007, 14:38
Yêu bằng tai


http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/ImageView.aspx?ThumbnailID=173477
Minh họa: Nguyễn ngọc Thuần

TTCT - Công việc của tôi là kế toán, kiêm văn thư, kiêm luôn việc ký văn bản thay cho chủ tịch hội là anh Thành. Nói kiêm luôn việc ký văn bản, nghĩa là tôi đọc văn bản cho anh Thành nghe, rồi cầm tay anh Thành chỉ vào chỗ cần ký.

Tóm lại, công việc chính của tôi là nhân viên kế toán, công việc phụ là làm đôi mắt cho anh Thành và chị Hậu, phó chủ tịch hội.

Và một vài công việc phụ bất chừng khác nữa. Ví dụ, khi có giao lưu giữa hội của tỉnh này và tỉnh kia, tôi là hướng dẫn viên đưa mọi người đi đây đó. Biểu diễn văn nghệ tôi làm người dẫn chương trình, có khi là làm diễn viên luôn! Cuối tháng lãnh lương, rủ nhau đi ăn, tôi làm công việc tiếp thị cho quán, đọc thực đơn cho mọi người nghe.

Sau lần tôi chọn món gỏi đu đủ, dạ dày của chị Hậu phản ứng dữ dội phải uống thuốc suốt ba tháng, chị Hậu giành luôn phần chọn món. Món của chị thường có cái tên hay hay, ví dụ như “Mỹ nhân ngư”, đến khi biết nó là cái đuôi cá chép chiên, chị cười xòa như bị dụ khị mà lỡ rồi nên đành. Vậy rồi lần sau cũng không khác, chị gọi món có tên “Đừng quên tôi nhé”, là thịt băm trộn bột chiên giòn ăn với món nước chấm vừa chua vừa cay đến xé lưỡi, vừa ăn vừa rùng mình vừa chảy nước mắt. Và cái dạ dày của chị Hậu lại lên cơn mà chị không đổ thừa tại ai khác được. Đúng là không thể quên.

Bao nhiêu lần đụng phải những món ăn không xứng với tên gọi mỹ miều, anh Thành nói:

- Người ta nói phụ nữ yêu bằng tai thật quá đúng.

- Vậy đàn ông yêu bằng gì? - chị Hậu tưng tửng hỏi lại.

Anh Thành cười cười:

- Người ta nói đàn ông yêu bằng mắt. Mà tôi không có mắt nên coi như khỏi bị ai dụ khị. Khỏe. Phải không? - anh hích vai tôi.

Để tránh phải trả lời câu hỏi hai lần nhạy cảm này, tôi chuyển qua đề tài khác:

- Lần sau, không ưu tiên chị Hậu nữa mà sẽ xoay vòng, mỗi người chọn món một lần, nghe anh Thành?

Cái muỗng trên tay chị Hậu rớt xuống, vang tiếng “keng” trên nền. Bàn tay chị xòe ra tỏ vẻ áy náy vì tôi phải cúi lượm giúp chị.

Anh Thành nghiêng mặt nghe ngóng và vội vàng:

- Nói chơi vậy thôi mà. Tôi ăn món nào cũng thấy ngon.

Vậy là tôi biết bí mật của anh Thành rồi - anh tưởng chị Hậu giận bỏ muỗng không ăn nữa, mới có tiếng “keng” đó.

Anh Thành sợ chị Hậu giận! A... phát hiện bất ngờ khiến tôi ẩy vai anh Thành một cái.

Anh Thành vội vàng đưa tay lên môi. Tôi ngậm miệng nín thinh.

Chị Hậu bật hỏi:

- Hai anh em sao im ru vậy?

Câu hỏi được lặp lại lần thứ hai. Và lần này thì chị Hậu giận.

* * *

Chị Hậu là người hay nói, và hay hát nghêu ngao nữa. Nên cơn giận của chị khiến văn phòng hội trầm lắng hẳn.

Anh Thành thành người đãng trí. Lại gặp trúng đợt xét cấp vốn cho hội viên vay học nghề và làm ăn. Mặc kệ tôi mỏi miệng đọc đơn, khi tôi đặt lá đơn trước mặt để anh ký duyệt thì anh như người trên trời rớt xuống:

- Ký cái gì đây? Giấy tờ ở đâu mà hôm nay nhiều vậy?

Đãng trí đã rồi anh đâm cáu. Tối đa được vay năm triệu. Thường thì anh mềm mỏng thuyết phục hội viên, và cười hà hà nếu ai đó càu nhàu “Vay chừng này thì làm được cái gì?”. “Thì làm được cái bằng chừng này là ngon rồi. Còn hơn không có gì”- anh luôn đáp lại vậy. Hôm nay...

Anh la lên:

- Ai cũng đòi vay đúng năm triệu rồi người khác thì sao?

Hơi hướng bực bội trong giọng của anh khiến những càu nhàu nín bặt.

Bất thình lình chị Hậu lên tiếng:

- Đã cho vay thì phải vay được đáng một món để người ta làm ăn có đầu có đuôi. Vay vài trăm ngàn đi học matxa mà không cho vay tiền mở phòng ốc giường chiếu thì lấy khách đâu mà làm trả nợ?

Hội viên được thể nhao nhao. Người nhà đưa hội viên đến đây cũng nhao nhao.

Anh Thành giận dữ:

- Tiền ngân sách có hạn. Tôi cũng là hội viên, tôi cũng muốn vay một món từ đầu tới đuôi. Hậu chịu ký cho tôi không?

Cuối cùng thì tất cả hội viên cũng cười vui vẻ với nhau trước khi cầm tiền ra về.

Còn lại hai vị chủ tịch và phó chủ tịch lạnh băng.

Tôi lãnh đủ.

Thường ngày, đầu giờ, tôi đọc báo, cả hai người cùng nghe. Nay, anh Thành nghe thì chị Hậu kiếm cớ đi ra ngoài (và ngược lại). Không ai khác là tôi phải đọc lại cho người đi ra ngoài trở về nghe. Khổ nhất là những văn bản pháp lệnh dành cho người khuyết tật, đâu phải đọc xong là xong, còn phải tìm hiểu giải thích và tranh luận... Đứng giữa hai người trong tư thế sẵn sàng đối đầu nhau, giải thích gì và tranh luận gì rồi tôi cũng là người... đọc không chính xác.

Thường ngày, tôi pha ấm trà mới, tất cả cùng uống nên lúc nào cũng được uống trà nóng. Nay, hễ tôi mời chị Hậu trước thì anh Thành kiếm cớ đi ra ngoài (và ngược lại). Khi người đi ra ngoài trở về thì trà đã nguội. Và không ai khác là tôi phải súc ấm pha trà mới.

Mệt quá. Phải giải quyết. Tận gốc mới được.

Đợi anh Thành đi ra ngoài, tôi buông tờ báo xuống, nói với chị Hậu:

- Chị biết hôm nọ trong quán ăn, vì sao chị hỏi hai lần mà em không thể trả lời không?

Rõ ràng chị Hậu chỉ đợi tôi nói câu này. Vẻ dửng dưng kia chợt biến mất.

- Vì sao?

- Tại vì em biết anh Thành để ý chị, anh Thành mắc cỡ nên ra hiệu cho em đừng nói.

Màu hồng loang trên má chị Hậu, những chấm tàn nhang đỏ ửng:

- Sao em biết anh Thành để ý chị?

* * *

Chị Hậu lại hát nghêu ngao như chưa từng giận hờn. Tiếng hát khiến anh Thành thôi không kiếm cớ đi ra ngoài một mình nữa, còn nhịp nhịp tay cứ như mặt bàn là mặt trống. Và tôi, bị cuốn vào không khí lâng lâng, cũng bỗng muốn góp phần mình bằng sự nhiệt tình vun vén. Niềm vui khó tả khi chỉ mình mình biết được bí mật của đất trời. Tôi tặng chị Hậu lọ nước hoa, tặng anh Thành cái lược bỏ túi...

Văn phòng tươi mắt hơn vì không chỉ mình tôi ăn mặc diện. Và thơm hơn vì không phải mình tôi xức nước hoa.

Chị Hậu ngồi gõ máy tính lách cách. Anh Thành kéo tôi ra sân, thì thào:

- Em tả chị Hậu cho anh nghe đi.

Tôi nhìn chị Hậu qua cửa sổ, thấy mình trở lại như hồi tiểu học, tập làm văn hãy tả cô giáo của em. Bài tập làm văn tỉ mỉ chi tiết từ chiều cao thân hình tới độ dài mái tóc, chiều cao sóng mũi và chu vi của cái miệng. Và những ngón tay gõ trên bàn phím có móng hình vuông. Và những chấm tàn nhang lấm chấm trên má. À, chị Hậu còn có cái lúm đồng tiền.

- Lúm đồng tiền là cái gì? - Anh Thành nhíu mày.

- Là... là... - Tôi né người, biết trước câu trả lời của mình sẽ nhận một cú thụi ngay hông - là khi nào anh rờ má chị Hậu sẽ biết.

* * *

Bí mật của đất trời giờ đây trở thành niềm vui chung của cả hội. Tíu tít bàn chuyện cưới xin. Đầy những âu lo, tất nhiên, nhưng mà vui. Trước tiên là thiệp mời, tất cả những dòng chữ đều giống những tấm thiệp bình thường, riêng tên cô dâu chú rể và khách mời sẽ được đục chữ nổi.

Ý kiến này được toàn thể hội viên hoan nghênh nhiệt liệt, thể hiện tính độc đáo của tinh thần hòa nhập cộng đồng. Cũng ý kiến này bị toàn thể hai gia đình phản đối kịch liệt vì sẽ có nhiều khách mời không thể đọc tên cô dâu chú rể bằng mắt thường được, và lỡ ra... họ không dự tiệc cưới vì không đọc được tên khách mời luôn!

Vậy thì làm hai loại thiệp! Cái ý kiến dung hòa này... Ai đó đã nói là nếu bạn cố làm vừa ý mọi người, nghĩa là bạn sẽ mất tất cả.

* * *

Mất tất cả. Ý kiến hai loại thiệp là báo trước một điềm rủi... đường đời hai ngả.

Cái dạ dày của chị Hậu... ung thư...

Tang lễ, anh Thành bên quan tài như người ngủ đứng. Tiếng kèn ảo não khiến mấy lần tôi phải đưa ngón tay tới trước mũi anh để chắc chắn anh vẫn là người dương thế.

Tôi thắp nhang rồi lần lượt đặt từng cây nhang vào tay bạn bè, chỉ chỗ cho họ cắm nhang, rồi đưa họ về chỗ ngồi. Cái công việc phụ bất chừng này khiến mắt tôi nhòe nhoẹt, chẳng phân biệt được đâu là vì khói nhang, đâu là vì khóc, và đâu là vì tức giận ông Trời.

* * *

Làm ở văn phòng Hội Người mù được hai năm, tôi chuyển cơ quan khác.

Bây giờ mới đúng là công việc, không có cái đuôi chính, phụ và phụ bất chừng kèm theo. Tôi nhận ra hai năm vừa qua là thời gian tôi được sống tiếp đời sinh viên mơ mộng chân thành và lãng mạn.

Áp lực của công việc mới làm tan thành mây khói lời hứa mỗi cuối tháng lãnh lương tôi sẽ về đón anh Thành cùng tới cái quán từng có mặt ba người.

Một ngày kia, tôi nhận điện thoại của anh Thành. Giọng anh như nài nỉ:

- Tối nay có giao lưu văn nghệ với hội của tỉnh bạn, biết em bận lắm nhưng cố gắng về tham gia với bọn anh cho vui.

Tôi bị trễ vì bận tháp tùng sếp dự chiêu đãi từ chiều. Vừa tới cổng, tôi nghe âm thanh vang dội của một bài hợp ca. Không khác xưa tí nào, cứ mở màn là cả hai bên chủ khách kéo nhau lên sân khấu làm một màn hợp ca hùng hồn bày tỏ tinh thần đoàn kết.

Tôi định là sẽ phóng lên sân khấu đứng cạnh anh Thành và hát to hết cỡ xem anh có nhận ra tôi ngay không. Nhưng chân tôi khựng lại. Kìa... chị Hậu.

Bài tập làm văn ngày nào tả tỉ mỉ chi tiết từ chiều cao thân hình tới độ dài mái tóc, chiều cao sóng mũi và chu vi của cái miệng. Và những chấm tàn nhang lấm tấm trên má.

- Ai vậy bác? - Tôi hỏi ông bảo vệ.

- Cô chủ tịch hội của tỉnh bạn đó mà.

Chợt nhận ra câu hỏi của tôi mang ý nghĩa khác, ông bảo vệ mở to mắt, ho một tiếng:

- Ờ... sao mà giống cô Hậu quá hả?

Giữa màn hợp ca không thể phân biệt ai là ai, khuôn mặt anh Thành hướng về chị với ánh cười lóng lánh.

Ô...

* * *

Tôi mời anh chị đến quán của ba người. Tại sao tôi lại muốn đến đây mà không là quán khác?

Tờ thực đơn mới, ngoài những món mới vẫn còn đó những tên gọi làm thốn lòng người. Tôi tránh đọc những món này, sợ làm anh Thành mất vui. Chuyện cũ đã qua rồi. Cuộc sống là như vậy mà.

Nhưng cô chạy bàn đã nhanh nhảu mời chào:

- Mời anh chị dùng thử Mỹ nhân ngư.

Vai áo anh Thành rùng nhẹ. Khuôn mặt chị sáng nỗi háo hức:

- Mỹ nhân ngư... nghe hay quá há.

Cô chạy bàn bưng ra cái đuôi cá chép chiên, hoa lá cành hơn trước một chút là có phủ lòng trắng trứng gà trộn ruốc thịt làm cho nó xù lên như được khoác lớp áo lông màu tuyết trắng. Nếu chỉ để ngắm, quả cũng đáng gọi Mỹ nhân ngư.

Tôi gắp cá vô chén của chị. Chị nếm thử, rồi bật cười xòa. Tiếng cười của người biết mình bị dụ khị mà đã lỡ rồi. Tôi nhận ra cái lúm đồng tiền thấp thoáng một bên má của chị.

Anh Thành nghiêng tai. Tôi bất giác cũng nghiêng tai...

Tình yêu lay động lòng Diêm chúa? Hay là chị về lại trời. Và lần này là cố tình lỡ tay làm rơi chén ngọc.

Truyện ngắn của NGUYÊN HƯƠNG

Caro20
29-02-2008, 00:30
Sợi dây chuyền kim cương

Tác giả: Guy de Maupassant (http://www.online-literature.com/maupassant/)

Dịch Giả: Trần Viết Minh-Thanh




Cô là một thiếu nữ xinh đẹp, dáng dấp đài các, cao sang, nhưng trớ trêu thay định mệnh lại chọn cho cô vào một gia đình công chức tầm thường. Không của hồi môn, thì làm sao có duyên cơ gặp gỡ đàn ông giàu có, danh giá, để được tìm hiểu, yêu đương rồi đi tới hôn nhân? Thế nên cô chấp nhận về làm vợ của một anh lục sự “thường thường bậc trung” tại bộ thông tin.
Tài chánh không cho phép cô ăn diện, và cô lấy làm phiền lòng vô cùng, như thể mình từ một địa vị cao rơi xuống. Dung nhan diễm lệ, dáng dấp kiêu sa, chẳng là những yếu tố khắc phục thứ bậc, tầng lớp mà số phận đã an bài? Tài năng thiên phú, bản năng nhận thức, một đầu óc thích nghi có phải là đẳng cấp duy nhất? Cũng đúng đấy thôi, nhiều người đàn bà dân dã được sánh ngang hàng với những mệnh phụ danh giá nhờ nhan sắc, trí thông minh và phương cách giao tiếp của họ.

Thế nên cô nàng Mathilde nhà ta luôn buồn đời. Đàn bà đẹp như cô sinh ra là để tận hưởng những cao sang, thanh lịch của cuộc đời. Cảnh nhà nghèo nàn làm cô tủi thân, tường trống không, bàn ghế xục xịch, màn cửa thô thiển. Những gì mà một người đàn bà cùng giai cấp như cô, chẳng mảy may bận lòng, là những mối ưu phiền cho cô. Hình ảnh người đàn bà nội trợ với công việc thường ngày làm cô chán nản, thất vọng, và Mathilde thay bằng những giấc mơ cao vời. Cô hình dung đến những căn phòng yên ắng, tường phủ bằng thảm Ba Tư ấm cúng, cao sang, phản chiếu ánh sáng từ những cột trụ bằng đồng sáng loáng, lại có hai anh hầu quần ống chẽn ngủ gà ngủ gật trong ghế bành lớn vì hơi nóng của lò sưởi. Cô trông thấy những hành lang rộng thênh thang, trang hoàng bằng những dải lụa cổ, các kệ tủ xinh xắn tràn ngập vật dụng xinh đẹp, vô giá. Tiếp chuyện cùng các cô, các bà phải là những căn phòng khách thơm mùi nước hoa, và cũng là nơi mà những đàn ông danh giá, lịch thiệp lui tới, những đấng mày râu mà các cô, các bà nào cũng muốn gặp gỡ, và ao ước được họ lưu ý tới.


Tối tối, ngồi đối diện chồng tại bàn ăn, trải cùng tấm khăn từ ba ngày qua, cô dửng dưng nhìn anh, tay mở liễn, miệng thốt lên sung sướng: “À, món hầm tối nay coi ngon quá, anh nghĩ chẳng có điều gì hấp dẫn hơn.” Lúc ấy cô liên tưởng đến những bữa ăn thịnh soạn, với muỗng, nĩa bạc, tường phủ thảm thêu hình các nhân vật cổ xưa, hoặc những con chim kỳ thú trong ngôi rừng thần thoại, bàn ăn bày biện đủ các thức ngon vật lạ, dọn trên những bát đĩa tuyệt đẹp, thực khách chuyền tai nhau những lời hoa mỹ, và được đáp lại với nụ cười mỉm bí mật, tay gắp miếng cá tươi tắn, hồng hào, hay bỏ vào mồm cánh bồ câu dòn tan.

Áo dạ hội, nữ trang đắt tiền là những món mà cô yêu thích nhất, thế mà cô chẳng có lấy một thứ nào! Phụ nữ đẹp như mình sinh ra là để diện những thứ đó vào người cơ mà, cô nghĩ thế. Cô ước ao được người người chiều chuộng, ganh tị, được đàn ông tán tỉnh, khen thưởng. Cô có một chị bạn gái giàu có, quen thời cùng học nội trú, mà giờ cô chẳng còn muốn gặp nữa, vì mỗi bận ra về cô lại cảm thấy buồn. Có bận cô đã khóc mấy ngày liền vì chán nản, thất vọng.

Bỗng một chiều nọ, anh chồng về nhà, mặt mày rạng rỡ, tay cầm một phong bì lớn.
- Đây, em nè, anh có cái này cho em.

Trong phong bì là một thiệp mời với những giòng chữ:
"Bộ Trưởng bộ Thông Tin và bà Georges Ramponneau hân hạnh đón tiếp ông và bà Loisel tại dinh bộ trưởng tối thứ hai ngày 18 tháng Giêng"

Lẽ ra phải vui mừng, như chồng mong mỏi, cô lại vứt tấm thiếp lên bàn và bảo:
- Anh muốn tôi làm gì với tấm thiếp này chứ?
- Cưng, anh lại tưởng em sẽ vui chứ! Em chẳng bao giờ đi ra ngoài, và đây là một cơ hội em ạ. Anh phải mất nhiều công lao mới được thiệp mời. Ai cũng muốn đi dự buổi tiệc này; họ chọn lựa kỹ lắm, không phải ai cũng có được đâu. Tất cả những ông bà lớn đều có mặt hôm ấy.

Cô nhìn anh với cái nhìn khó chịu, vội cướp lời:
- Vậy thì anh tính em sẽ bận cái gì chứ?

Anh không nghĩ đến điều này. Anh lắp bắp:
- Thì cái áo em hay bận đi coi kịch với anh đó. Áo ấy trông được lắm!

Anh ngưng ngang, chưng hửng, bối rối vì thấy cô vợ đang khóc. Hai dòng nước mắt lặng lẽ rơi từ khóe mắt xuống bờ môi xinh đẹp. Anh lúng túng:
- Gì thế, em sao thế ?

Cố gắng dằn niềm đau khổ, cô trả lời bằng một giọng bình tĩnh sau khi đưa tay lau hai gò má ướt:
- Chẳng có gì cả. Em chẳng có áo đẹp, vì thế em không thể đi dự buổi dạ tiệc được. Anh hãy đưa tấm thiệp mời này cho bạn đồng nghiệp nào ở bộ, mà cô vợ có đủ quần áo hơn em.

Lúng túng, anh vớt vát:
- Nào, nào, Mathilde. Xem nào, một cái áo đẹp, để đi dạ hội, mà em có thể xài vào những dịp khác, một cái áo thường thôi, tốn khoảng bao nhiêu tiền?

Nghĩ ngợi một đôi giây, trong đầu làm vội những con tính, một con số khả dĩ không bị từ chối ngay hay gặp phải phản ứng thảng thốt từ anh chàng lục sự cần kiệm này. Cuối cùng, cô trả lời, giọng ngập ngừng:
- Em cũng không biết rõ, nhưng em nghĩ một cái áo đẹp chắc khoảng bốn trăm francs.

Mặt anh hơi tái đi, vì anh đã để dành đúng khoản tiền như thế để mua một khẩu súng săn, dự định cùng đám bạn đi bắn chim chiền chiện tại đồng bằng Nanterre trong vụ hè tới.
Thế nhưng anh nói:
- Cũng được. Anh sẽ cho em bốn trăm francs. Mà em ráng mua một cái áo đẹp nghen!

Ngày dạ tiệc đến gần kề mà mặt bà Loisel trông vẫn có nét buồn, lo lắng. Áo nàng thì đã may xong. Nhận thấy điều này, một tối anh hỏi:
- Có điều gì không? Ba ngày nay sao anh thấy em có vẻ lạ, không được vui?
Nàng trả lời chồng:
- Phiền một nỗi là em chẳng có một bộ nữ trang nào cả, chẳng có lấy một viên đá để mang lên người. Coi nghèo nàn làm sao! Chẳng thà đừng đi cho rồi!
- Em có thể cài hoa lên tóc, anh chồng đề nghị. Vào mùa này mà cài hoa thì sang lắm em ạ. Thêm mười francs thôi em có thể mua hai, ba hoa hồng thật đẹp!
Lời anh nói không thuyết phục được cô:
- Không, không được. Chẳng có điều gì nhục nhã bằng mình trông nghèo nàn bên cạnh những người đàn bà giàu sang.
- Ồ, sao em dốt thế! Anh chồng bỗng kêu lên: “Em có bà bạn giàu lắm mà, chị Forestier, sao em không mượn nữ trang của chị ấy. Hình như em thân với chị ấy lắm để có thể tới mượn nữ trang được!“
Cô reo lên, mừng rỡ:
- Đúng thế, sao em lại chẳng nghĩ ra.

Ngày hôm sau, cô tới gặp bạn, tâm sự với bạn vấn đề của mình. Bà Forestier tới tủ áo có kiếng, lấy ra một hộp nữ trang lớn, trao cho bà Loisel và nói:
- Chị cứ lựa bất cứ món gì chị thích.

Thoạt tiên cô thấy mấy vòng đeo tay, rồi sợi dây chuyền ngọc trai, tiếp đến dây thánh giá lớn cổ xưa, chạm trổ rất khéo léo với những viên ngọc quý. Cô thử tới thử lui trước gương, ngập ngừng, không thể rời chúng ra, mà cũng chẳng quyết định chọn món nào, và cái nào thì đưa trả lại cho bạn. Cô hỏi:
- Chị có món nào nữa không?
- Có chứ. Chị cứ chọn tiếp đi. Mình chẳng biết chị thích cái nào.

Bỗng cô nhìn thấy một hộp bọc xa-tanh đen, trong có một sợi dây chuyền nhận toàn kim cương tuyệt đẹp, tim cô thắt lại trong niềm ham muốn. Cô cầm sợi dây lên mà tay run run. Cô choàng nó vào cổ cao. Ngắm mình trong gương, cô chìm trong nỗi sung sướng với hình ảnh tuyệt mỹ của chính mình.
Rồi cô hỏi, giọng hoài nghi:
- Chị có thể cho em mượn chuỗi kim cương này được không?
- Được chứ, chị cầm lấy đi!
Cô ôm chầm lấy bạn, hôn lên má bạn như lời cảm ơn chân tình nhất, rồi vội vàng ra về với kho tàng nhỏ trong tay.

Ngày dạ tiệc, bà Loisel thành công rực rỡ. Nàng đẹp hơn hết trong đám phụ nữ, nàng thật kiêu sa, vương giả, cười tươi tắn, dòn tan trong niềm sung sướng. Tất cả những người đàn ông có mặt chiêm ngưỡng nàng, hỏi tên nàng, tìm đến tự giới thiệu. Tất cả những nhân vật lớn trong bộ muốn cùng nàng khiêu vũ. Ngay cả ông bộ trưởng cũng chú ý đến nàng. Nàng khiêu vũ trong mê cuồng, ngất ngây vì vui sướng, đắm chìm trong niềm hãnh diện bởi nhan sắc của mình, nàng như lên chín tầng mây với những lời ngưỡng mộ. Những khát khao từ bấy lâu nay đã được vuốt ve! Thật là một chiến thắng toàn hảo, tuyệt vời, thỏa mãn trái tim người đàn bà.

Cô ra về vào khoảng bốn giờ sáng. Chồng cô đã ngủ được một giấc vào lúc nửa đêm trong một căn phòng bỏ trống với ba người đàn ông khác mà các bà vợ cũng đang rất vui với buổi dạ tiệc. Anh khoác lên vai nàng tấm khăn choàng ngoài, tấm khăn tầm thường của một đời sống bình dị, sự nghèo nàn của nó thật trái biệt với cái áo dạ hội sang trọng, đắt tiền. Cô cảm nhận điều đó và muốn thoát khỏi nó, tránh những cặp mắt so sánh của những người đàn bà khác đang được khoác trên vai những tấm khăn choàng bằng da thú sang trọng.
Anh chồng giữ cô lại, bảo:
- Đợi tí đã nào. Coi chừng bị cảm vì ở ngoài lạnh lắm. Đợi anh gọi xe về.

Nhưng cô không nghe anh, vội vàng bước xuống cầu thang. Khi họ xuống tới đường cái, thì không còn chiếc xe nào cả. Họ lục lọi, tìm kiếm, la lớn vào những chiếc chạy từ tuốt xa trong đêm vắng. Họ đi qua dòng sông Seine, người run lập cập vì lạnh. Cuối cùng trên bến họ tìm được một chiếc xe taxi cổ, cũ kỹ, chỉ thấy ở Paris lúc trời đã tối, như thể chúng cũng biết xấu hổ, không dám chạy vào ban ngày.

Chiếc xe chở họ tới tận cửa, đường Martyrs, và họ mệt nhọc leo vào nhà. Tàn một cuộc vui, cho nàng. Còn anh thì nghĩ, ngày mai lại phải vào bộ lúc mười giờ.
Nàng giở áo choàng ra, nhìn vào gương để ngắm mình lần nữa trong huy hoàng. Bỗng nhiên cô thảng thốt buông ra một tiếng kêu. Cô không có chuỗi kim cương trên cổ!
Anh chồng, đã thay gần hết quần áo, hỏi:
- Gì thế ?

Cô quay lại chồng, la thất thanh:
- Em ... em không có sợi dây chuyền của chị Forestier nữa!
Anh đứng bật dậy, sửng sốt:
- Làm thế nào, làm sao xảy ra được?
Cả hai lục lọi trên các lớp áo của cô, áo khoác ngoài, áo dạ hội, các túi áo, họ tìm kiếm mọi nơi, nhưng vẫn không kiếm ra.
- Em có chắc là em còn đeo nó khi rời khỏi tiệc không? Anh chồng hỏi.
- Có, chắc mà, em có sờ vào nó lúc còn ở dinh ông bộ trưởng mà.
- Nếu em làm rơi nó trên đường, thì chúng mình đã nghe tiếng nó rơi trên hè rồi. Có lẽ nó rơi trong xe.
- Có lẽ thế, anh có lấy số xe không?
- Không, thế em có nhìn số xe không?
- Không.

Hai người nhìn nhau, thảng thốt. Rồi cuối cùng Loisel bận quần áo vào và nói:
- Thôi, tôi phải đi lại khoảng đường mình đi bộ, xem có thể kiếm ra nó không.
Anh đi ra ngoài. Cô ngồi chờ trên ghế trong chiếc áo dạ hội, không còn sức mà leo lên giường, đầu óc chán nản, hết cả sức lực, không một ý nghĩ.

Anh chồng trở về lúc bảy giờ sáng, anh không kiếm được sợi dây chuyền.
Anh tới sở cảnh sát, tới nhà báo đăng rao vặt, hứa một món tiền thưởng, anh đến công ty xe taxi, thật ra anh tới đó trong niềm hy vọng cuối cùng.
Cô chờ anh cả ngày, trong tình trạng lo lắng kinh hoàng, trước một thảm trạng khủng khiếp.
Trời tối mịt, Loisel mới về đến nhà mặt tái xanh, hốc hác. Anh chẳng kiếm ra gì cả.
“Em phải viết cho bạn em”, anh nói: “Bảo em làm sứt cái móc của sợi dây, và đang đợi tiệm sửa, để chúng ta có thì giờ kiếm cách trả lại sợi dây.”
Cô lấy giấy bút ra ghi lại những dòng anh đọc cho cô.

Cuối tuần thì họ hết hy vọng. Loisel, nay trông già thêm năm tuổi, bảo:
-Giờ thì chúng ta phải tìm cách thay thế sợi dây khác rồi.
Ngày hôm sau họ đem cái hộp đựng sợi dây tới tiệm kim hoàn có tên khắc trên hộp. Ông chủ tiệm lục lọi giấy tờ và nói:
- Thưa bà, tôi không bán sợi dây, tôi chỉ bán cái hộp thôi.

Họ đi từ tiệm kim hoàn này sang tiệm khác để kiếm một sợi dây chuyền tương tợ, cố nhớ hình dáng nó, mà lòng cả hai kinh hoàng, thảm não. Cuối cùng, trong tiệm kim hoàng khu Hoàng Cung, có một sợi dây, một chuỗi kim cương, trông giống in như sợi dây họ đã đánh mất. Sợi dây chuyền để giá là bốn mươi ngàn francs, và người ta bớt xuống với giá ba mươi sáu ngàn francs. Hai vợ chồng năn nỉ chủ tiệm xin đợi cho ba ngày, đừng bán cho bất cứ ai. Họ cũng giao điều kiện với chủ tiệm phải mua lại sợi dây với giá ba mươi bốn ngàn francs nếu trong trường hợp họ kiếm ra được sợi dây chuyền đánh mất trước thời định là cuối tháng hai.

Loisel có mười tám ngàn francs, gia tài nhỏ ông bố để lại. Anh phải đi mượn số tiền còn lại. Anh mượn một ngàn đây, năm trăm đó, năm chục người nọ, ba francs người kia. Anh ký giấy nợ, sẵn sàng nhận làm những việc tầm thường nhất, mặc cả với các tay vay lãi, với tất cả mọi loại người trong giới cho vay chợ đen. Anh bằng lòng thỏa hiệp suốt đời mình, ký giấy nợ mà chẳng biết mình có trả được không, trong nỗi lo lắng viễn tượng tương lai đen tối, khổ cực, những thiếu thốn về vật chất và những dày vò về tinh thần mà anh sẽ phải chịu đựng. Trong trạng thái như thế anh đến tiệm kim hoàn, đặt trên quầy ba mươi sáu ngàn francs và lấy về sợi dây chuyền mới.

Ngày bà Loisel đem sợi dây chuyền trả cho bà Forestier, bị bạn ban cho một câu lạnh nhạt:
- Đáng nhẽ chị phải trả tôi sớm hơn, tôi có thể cần nó để đi dạ hội đấy!

Bà bạn không mở hộp ra, như cô đã lo lắng mãi. Nếu chị ta nhận thấy đó là một sợi dây chuyền khác, thì chị ta nghĩ thế nào về mình đây, chị sẽ nói sao? Chị ấy có nghĩ mình là kẻ cắp không chứ.



Từ đó bà Loisel biết thế nào cuộc đời của khổ cực, lao động. Không ngờ nàng đã can đảm gánh vác bổn phận của mình. Món nợ kinh khủng đó phải được trả và nàng phải dự phần trả món nợ đó. Họ cho con sen nghỉ làm. Họ đổi chỗ ở, đi thuê một nơi tồi tàn hơn trước.
Giờ đây cô làm những công việc nội trợ nặng nhọc nhất, những việc khó khăn nhất của nhà bếp. Cô rửa chén, cào nhọ nồi, soong chảo mỡ mật bằng đôi bàn tay hồng hào của mình. Cô giặt quần áo, ra (1) giường, khăn bàn bẩn, rồi đem phơi chúng trên giây. Trên con dốc sáng sáng, chiều chiều cô gánh nước lên, nếu cần dừng lại bậc tam cấp để thở. Cô ăn bận như dân lao động, tay cầm giỏ, tới từng quầy rau, hàng tạp hóa, hàng thịt, mặc cả từng xu một, bảo vệ đồng bạc khốn khổ của mình.

Mỗi tháng món nợ này phải được trả, lại gia hạn món nợ khác, mua thêm thời gian. Anh chồng làm thêm ban đêm cho các hàng quán, vào tối khuya có khi anh còn chép các bản thảo, mỗi năm xu một bản.
Và cuộc sống như thế kéo dài mười năm.
Tới cuối năm thứ mười, họ đã trả hết, tất cả, với thuế cắt cổ của các tên chủ nợ, và những tiền lời chồng chất lên nhau.

Bà Loisel giờ đây trông già đi. Bà đã biến thành một người đàn bà mạnh mẽ, thô thiển và cứng rắn, một người đàn bà của giới lao động. Tóc rối, váy nhầu, tay đỏ, bà ăn nói ồn ào, thảy từng mảnh nước lớn, cong lưng chùi nhà. Thế nhưng, thỉnh thoảng khi ông chồng đang ở sở làm, bà ngồi tựa nơi cửa sổ và nghĩ đến buổi dạ tiệc huy hoàng đã lâu rồi, buổi khiêu vũ mà bà thật đẹp và được mọi người chiêm ngưỡng.
Nếu đêm đó bà không đánh mất sợi dây chuyền, thì việc gì xảy ra? Nào ai biết được? Nào ai biết được? Đời thay đổi lạ lùng quá đỗi. Không ngờ chỉ cần một việc nhỏ thôi đủ làm cho ta lạc lối hay có thể cứu ta.


Một ngày chủ nhật, bà đi dạo trong vườn Champs Elysée, cho bõ một tuần lao động khổ cực, bà bỗng nhận ra một người đàn bà tay dẫn một đứa bé. Chính là bà Forestier ngày nào, bây giờ vẫn đẹp, vẫn đài các. Bà Loisel cảm thấy xúc động. Mình có nên tới nói chuyện với chị ta không. Chắc hẳn rồi chứ . Giờ đây bà đã trả hết món nợ. Bà sẽ cho bạn biết. Tại sao không?

Bà đến gần bạn.
-Chào chị Jeanne .
Người bạn, chẳng nhận ra bà chút nào, ngạc nhiên thấy trước mình một người đàn bà xa lạ, gọi mình như quen thân lắm. Bà lúng túng:
- Thưa bà, chắc bà lầm, tôi không quen bà.
- Không, chị không lầm. Tôi là Mathilde Loisel đây.

Người bạn buông ra một tiếng kêu thảng thốt:
- Trời ... chị Mathilde, làm sao chị thay đổi dữ vậy!
- Đúng vậy chị ạ, sau lần cuối em gặp chị, đời em thay đổi qua cảnh nghèo khó, mà chị biết không, cũng tại chị đó!
- Ủa, sao có mình trong đó?
- Chị có nhớ sợi dây chuyền kim cương chị cho em mượn đi dự dạ hội ông bộ trưởng không?
- Có chứ!
- Em đánh mất nó.
- Chị nói sao, chị có đem trả mình mà!
- Em đem trả chị sợi dây chuyền giống in sợi chị cho mượn. Thế nên phải mất mười năm vợ chồng em mới trả hết các món nợ. Với chúng em điều này không phải dễ, vì thực sự gia tài chúng em chả có là bao. Nhưng cuối cùng thì chúng em cũng thanh toán được hết món nợ ... Em rất mừng đã hết nợ nần!

Bà Forestier khựng lại:
-Chị nói sao, chị đã mua một sợi dây chuyền kim cương để thế sợi dây của mình à?
- Đúng thế, chị không hề nhận ra à, hai sợi dây giống nhau lắm.
Bà mỉm miệng cười, một nụ cười hãnh diện mà ngây ngô.

Bà Forestier, xúc động khôn xiết, đưa tay cầm lấy tay bạn:
- Tội cho bạn tôi quá, chị Mathilde ơi, sợi dây của mình là sợi giả mà, chỉ đáng giá khoảng năm trăm francs là cùng.

-----------

(1): khăn trải giường

Bản tiếng Anh:

http://www.eastoftheweb.com/short-stories/UBooks/Neck.shtml

http://www.online-literature.com/maupassant/206/

Caro20
30-03-2008, 14:51
Chờ mong tin dữ

Kanda Noboru

Phạm Tú Châu dịch.




Kunioto đang giở báo loạt soạt bỗng kinh ngạc thốt lên. Anh nín thở nhìn chăm chú góc tờ báo đăng tin ở trang ba: "Bốn giờ chiều ngày 22, trên đường tới thành phố K, nhân viên một công ty ở thành phố K là Okada Keisuke, 30 tuổi, lái xe con đụng đầu với xe tải loại lớn. Mặt, đầu và nhiều bộ phận khác trên người Okada bị đập rất mạnh, thương tích trầm trọng...".

Okada Keisuke ở thành phố K... Đúng là cậu ta rồi!

Một niềm vui khó tả tràn ngập tim Kunioto.

- Anh sao thế? Sao vẻ mặt anh căng thẳng thế? - Vợ Kunioto lo lắng hỏi.

- Không sao cả, có gì đâu! - Kunioto gập báo lại, nằm quay lưng tránh ánh mắt của vợ.

- Có đúng thật không nhỉ? Thằng cha đó bị thương rất nặng...

Đêm ấy, Kunioto cứ nghĩ như thế và đến sáng cũng không ngủ được.

Kunioto bị đau gan, phải nằm bệnh viện ở thị trấn Y cả tháng nay. Anh không biết mình đổ bệnh vì công việc bận rộn của một nhân viên quản lý bậc trung hay vì uống rượu quá nhiều. Từ khi nhập viện, nằm trên giường bệnh mà Kunioto vẫn nghĩ về công việc, trong lòng thắc thỏm không yên. Gần đây xác định có nóng lòng sốt ruột cũng chẳng được tích sự gì, nên Kunioto đành yên tâm dưỡng bệnh.

Để giết thì giờ nhàn rỗi, hàng ngày anh xem tivi và đọc hết ngóc ngách của tờ báo. Nếu là khi chưa ốm, anh hẳn đã bỏ sót tin về sự cố giao thông nghiêm trọng này. Tên Okada Keisuke - một bạn học thời lớp 12 - xuất hiện trên báo trong một vụ tai nạn giao thông khiến tình cảm căm tức được thỏa mãn trào lên trong lòng Kunioto. Anh và Okada cùng là một đội viên đội bóng bầu dục, là bạn rất thân thiết của nhau. Nhưng hai người lại cùng yêu Toshiko - cô bạn học cùng lớp 11 và sau này trở thành bà chủ một tiệm rượu. Hồi tốt nghiệp đại học, ba người vẫn tiếp tục giữ mối quan hệ đặc thù đó. Khi Kunioto quyết định cầu hôn Toshiko thì bị cô cự tuyệt, bởi vì cô cho rằng tình cảm Kunioto hay lên xuống thất thường, cô thiếu niềm tin khi đồng ý sống trọn đời cùng anh.

Không bao lâu sau, Toshiko và Okada làm đám cưới.

Kunioto cho rằng Toshiko chọn Okada mà không phải mình vì anh chỉ là nhân viên làm công cho một xí nghiệp loại vừa, còn Okada là nhà tư bản tương lai, nhờ đó, sẽ kế thừa một gia sản lớn. Vì thế Kunioto căm thù cả Toshiko lẫn Okada. Vì bị bẽ mặt, anh rời khỏi thành phố K, chuyển về ở thị trấn Y trong cùng một huyện. Từ đó trở đi, anh không tham gia các buổi họp mặt cùng bạn học cũ nữa, xa lánh tất cả bạn cùng trường. Mấy năm sau, anh cưới Yoshiko, nhân viên cùng xí nghiệp với anh.

Sáu năm trôi qua, Kunioto vẫn chưa quên được mối tình với Toshiko, thậm chí có lúc quá yêu và quá hận, anh chỉ muốn giết chết cả cô và Okada.

Nói chung, đã bị thương nặng ở mặt và đầu trong tai nạn giao thông thì thường sau một tuần sẽ chết, hầu như rất ít có cơ sống sót. Trong đầu anh luôn hiện lên cảnh Okada mê man trên giường bệnh, còn ngồi bên cạnh là Toshiko thì khóc đến chết đi sống lại.

Đáng đời! Dám trêu gan ông à? Báo ứng là phải lắm! Nhưng làm sao đến hôm nay vẫn chưa có tin gì về Okada nhỉ? Nóng lòng sốt ruột quá! Mà sao không hỏi thăm tin Okada qua các bạn cũ ở đội bóng nhỉ? Thôi hãy thong thả, nhiều năm rồi có hỏi thăm nhau đâu, bây giờ xảy việc mới hỏi, chẳng hóa ra đột ngột hay sao? Nói không khéo e người ta cười cho..., bảo mình vẫn còn nhớ Toshiko cũng nên. A, có báo rồi!

Kunioto vội vàng giở báo ra xem, tìm tên người chết trong huyện được đăng trên mục cáo phó. Từ đó, sáng nào cũng vậy, Kunioto hễ giở báo ra là cảm thấy máu dồn cả lên đầu. Mười ngày trôi qua, vẫn không thấy báo đăng tên Okada ở mục cáo phó. Hay là tin ấy đăng ở báo khác? Kunioto càng ngày càng bồn chồn nóng ruột. Anh bảo vợ tìm báo của những ngày trước đó rồi hối hả giở ra đọc.

Thấy anh cố chấp không nghe lời khuyên, vợ anh cảm thấy rất lạ, bèn bảo chồng:

- Em biết anh vẫn còn yêu Toshiko, nhưng oán hận người ta chỉ tổ làm mình xúi quẩy. Thôi, anh quên cô ấy đi! Anh chẳng đã có em là gì? Điều quan trọng là anh đang ốm, phải giữ gìn sức khỏe mới được!

Yoshiko nhìn thấy chồng ngày một kiệt quệ.

o O o


Ánh nắng ban mai lách qua màn cửa, chiếu vào phòng bệnh nhân Okada. Trên tủ đầu giường, hoa nguyệt quý tỏa mùi thơm thoang thoảng.

- Này, em đến mà đọc tin cáo phó này đi! - Okada bảo vợ.

- Gì mà hốt hoảng thế? Cáo phó đăng tên người quen của anh à?

Mục cáo phó đăng tin: "Đau buồn báo tin Yamamoto Kunioto ở thị trấn Y đã từ trần ở bệnh viện vì bệnh nặng, hưởng dương 29 tuổi. Vợ là Yamamoto Yoshiko báo tin".




(Thế giới văn học, số 5/2006).

silkroadpro
30-03-2008, 15:25
bây giờ hog lẽ mình post truyện Nguyễn Nhật Ánh lên nhỉ ? sợ vi phạm quyền tác giả !

noomrm
30-03-2008, 17:36
em thích NNA, nhứt là "mắt biếc"
tg topic này chỉ post tên truyện, ai dè táng cả nội dung lên :(

silkroadpro
30-03-2008, 20:41
hihi noomrm :D

mấy bữa nay tình cờ dọn nhà lòi ra ấy cuốn khi cấp 3 hay đọc.sáng nay mới xử xong "Cô gái đến từ hôm qua" :D đọc mà thấy dễ thương phết !

RAIBA
30-03-2008, 20:53
em thích NNA, nhứt là "mắt biếc"
tg topic này chỉ post tên truyện, ai dè táng cả nội dung lên :(

Ừ, "Mắt biếc" mình thích nhất.

noomrm
30-03-2008, 21:53
Ô, nhiều người cùng sở thích ghê nhỉ ^^
Bác nào pro NNA có thể đưa list truyện của ổng xem e còn thiếu cuốn nào ko, nghiền nốt :D

ngoctam1011.new
30-03-2008, 22:01
Truyện ngắn Cô giáo Thảo cũng là một mẫu truyện rất đáng đọc.
Nghe đồn truyện đã được đạo diễn mua bãn quyền, và được dựng thành phim
:D:D:D:D: Ai xem hay đọc rùi thì cho ý kiến nhá!

silkroadpro
30-03-2008, 22:06
######## TRUYỆN DÀI #########
Thằng quỷ nhỏ
Cô gái đến từ hôm qua
Bong bóng lên trời
Phòng trọ 3 người
Quán Gò đi lên
Thiên thần nho của tôi
Hạ đỏ
Bàn có 5 chỗ ngồi
Còn chút gì để nhớ
Những chàng trai xấu tính
Chú bé rắc rối
Mắt biếc
Nữ sinh
Bồ câu ko đưa thư
Buổi chiều windows
Trước vòng chung kết
Hoa hồng xứ khác
Những cô em gái
Đi qua hoa cúc
Trại hoa vàng
Út Quyên và tôi
Ngôi trường mọi khi
Chuyện cổ tích dành cho người lớn

###### KÍNH VẠN HOA ########


####### CHO TÔI XIN MỘT VÉ ĐI TUỔI THƠ ######## NEW !!!!!!

noomrm
30-03-2008, 22:39
Ngôi trường mọi khi <~ cái này ko nhớ đọc chưa
CHO TÔI XIN MỘT VÉ ĐI TUỔI THƠ <~ chưa đọc :D
E đang đọc dở "tôi là beto", mấy tháng rồi ko có time đọc tiếp

Caro20
12-04-2008, 14:05
Gió lạnh đầu mùa

Thạch Lam



Buổi sáng hôm nay, mùa đông đột nhiên đến, không báo trước. Vừa mới ngày hôm qua giời hãy còn nắng ấm và hanh, cái nắng về cuối tháng mười làm nứt nẻ đất ruộng, và làm ròn khô những chiếc lá rơi. Sơn và chị chơi cỏ gà ở ngoài cánh đồng còn thấy nóng bứt, chảy mồ hôi.

Thế mà qua một đêm mưa rào, trời bỗng đổi ra gió bấc, rồi cái lạnh ở đâu đến làm cho người ta tưởng đang ở giữa mùa đông rét mướt. Sơn tung chăn tỉnh dậy, nhưng không bước xuống giường ngay như mọi khi, còn ngồi thu tay vào trong bọc, bên cạnh đứa em bé vẫn nắm tay ngủ kỹ. Chị Sơn và mẹ Sơn đã trở dậy, đang ngồi quạt hỏa lò để pha nước chè uống. Sơn nhìn thấy mọi người đã mặc áo rét cả rồi.

Nhìn ra ngoài sân, Sơn thấy đất khô trắng, luôn luôn cơn gió vi vu làm bốc lên những màn bụi nhỏ, thổi lăn những cái lá khô lạo xạo. Trời không u ám, toàn một màu trắng đục. Những cây lan trong chậu, lá rung động và hình như sắc lại vì rét.

Sơn cũng thấy lạnh, vội vơ lấy cái chăn trùm lên đầu rồi cất tiếng gọi chị. Mẹ Sơn nghe thấy, đặt chén nước chè xuống, bảo chị Lan:

- Con vào buồng lấy thúng áo ra mẹ mặc cho em, đi.

Rồi quay lại bảo Sơn:

- Con sang đây mà ngồi cho ấm. Bước khéo để cho em bé ngủ.

Sơn kéo chăn lên đắp cho em, ngồi xếp bằng bên khay nước. Mẹ Sơn rót cho một chén, Sơn cầm lấy chén chè nóng ấp vào mặt, vào má cho ấm, rồi để mặt vào miệng chén cho hơi bốc lên. Bà Sơn thường vẫn bảo làm thế cho tỉnh mắt.

Người vú già xù xù cái áo bông cánh rách, xách siêu nước từ dưới nhà lên, vừa xuýt xoa vừa nói:

- Rét quá! Múc nước cóng cả tay.

Vú giơ tay hơ trên hỏa lò. Mẹ Sơn hỏi:

- Năm nay rét sớm hơn mọi năm vú nhỉ?

Người vú già ra vẻ nhớ lại, đáp:

- Cũng chả bằng cái năm mợ đi cân gạo bên Sông. Gớm, mới rét làm sao! Sáng tôi dậy, bà sai đi chợ, cứ run lên cầm cập.

Sơn cũng nhớ cái rét năm ấy rõ rệt lắm, như mới đây thôi. Buổi sớm hôm ấy, mẹ Sơn cũng ngồi uống nước chè như sáng hôm nay và cũng lấy áo rét ra mặc.

Chị Lan từ trong buồng đi ra, khệ nệ ôm cái thúng quần áo đặt lên đầu phản. Mẹ Sơn đặt cái vỉ buồm lục đống quần áo rét. Sơn nhận ra cũng những cái áo Sơn đã mặc năm ngoái, năm kia: một cái áo vệ sinh màu nâu sẫm với một cái áo dạ khâu chỉ đỏ. Sơn cầm giơ những cái áo lên, thấy mát lạnh cả tay. Từ bộ quần áo thoảng ra hơi mốc của vải gấp lâu trong hòm, làm Sơn nhớ lại những buổi đầu mùa rét từ bao giờ, lâu lắm, ngày Sơn còn nhỏ.

Mẹ Sơn giơ lên một cái áo bông cánh đã cũ nhưng còn lành lặn, nói:

- Đây là áo của cô Duyên đây.

Duyên là đứa em gái bé của Sơn, chết từ năm lên bốn tuổi. Mẹ Sơn nhắc đến làm Sơn nhớ em, cảm động và thương em quá. Vú già là người đã nuôi Duyên từ lúc mới đẻ, với lấy cái áo lật đi lật lại ngắm nghía,tay mân mê các đường chỉ:

- Giá bây giờ em nó có còn cũng chả mặc được.

Mẹ Sơn yên lặng không nói gì. Nhưng đến lúc nói với Sơn lại để mặc áo, Sơn thấy mẹ hơi rơm rớm nước mắt.

Sơn đã mặc xong áo ấm áp: cả cái áo dạ chỉ đỏ lẫn áo vệ sinh, ngoài lại mặc phủ cái áo vải thâm dài. Sơn đứng trên giường trước mặt mẹ, đã quay đi quay lại ba, bốn lần để mẹ Sơn ngắm áo. Sau cùng, mẹ Sơn vuốt các tà áo cho phẳng phiu, rồi đẩy Sơn ra, bảo:

- Thôi, con đi chơi.

Sơn xúng xính rủ chị ra chợ chơi. Nhà Sơn ở quay lưng vào chợ, cạnh một dãy nhà lá của những người nghèo khổ mà Sơn quen biết cả vì họ vẫn vào vay mượn ở nhà Sơn. Sơn biết lũ trẻ con các gia đình ấy chắc bây giờ đương đợi mình ở cuối chợ để đánh khăng, đánh đáo.

Không phải ngày phiên, nên chợ vắng không. Mấy cái quán chơ vơ lộng gió, rác bẩn rải rác lẫn với lá rụng của cây đề. Gió thổi mạnh làm Sơn thấy lạnh, và cay mắt. Nhưng chân trời trong hơn mọi hôm, những làng ở xa Sơn thấy rõ như ở gần. Mặt đất rắn lại, và nứt nẻ những đường nho nhỏ, kêu vang lên lanh tanh dưới nhịp guốc của hai chị em.

Đến cuối chợ đã thấy lũ trẻ đang quây quần chơi nghịch. Chúng nó thấy chị em Sơn đến đều lộ vẻ vui mừng, nhưng chúng vẫn đứng xa, không dám vồ vập. chúng như biết cái phận nghèo hèn của chúng vậy, tuy Sơn và chị vẫn thân mật chơi đùa với, chứ không kiêu kỳ và khinh khỉnh như các em họ của Sơn.

Thằng Cúc, con Xuân, con Tý, con Túc xán lại gần giương đôi mắt ngắm bộ quần áo mới của Sơn. Sơn nhận thấy chúng ăn mặc không khác ngày thường, vẫn những bộ quần áo nâu bạc đã rách vá nhiều chỗ. Nhưng hôm nay, môi chúng nó tím lại, và qua những chỗ áo rách, da thịt thâm đi. Mỗi cơn gió đến, chúng lại run lên, hàm răng đập vào nhau.

Thằng Xuân đến mó vào chiếc áo của Sơn, nó chưa thấy cái áo như thế bao giờ. Sơn lật vạt áo thâm, chìa áo vệ sinh và áo dạ cho cả bọn xem. Một đứa tắc lưỡi, nói:

- Cái áo này mặc thì nóng lắm. Chắc mua phải đến một đồng bạc chứ không ít, chúng mày nhỉ.

Đứa khác nói:

- Ngày trước thầy tao cũng có một cái áo như thế, về sau bán cho ông lý mất.

Con Túc ngây ngô giương đôi mắt lên hỏi Sơn:

- Cái này cậu mua tận Hà Nội phải không?

Sơn ưỡn ngực đáp:

- Ở Hà Nội, chứ ở đây làm gì có. Mẹ tôi còn hẹn mua cho tôi một cái áo len nhiều tiền hơn nữa kia.

Chị Lan bỗng giơ tay vẫy một con bé, từ nãy vẫn đứng dựa vào cột quán, gọi:

- Sao không lại đây, Hiên? Lại đây chơi với tôi.

Hiên là đứa con gái bên hàng xóm, bạn với Lan và Duyên. Sơn thấy chị gọi nó không lại, bước gần đến trông thấy con bé co ro đứng bên cột quán, chỉ mặc có manh áo rách tả tơi, hở cả lưng và tay. Chị Lan cũng đến hỏi:

- Sao áo của mày rách thế Hiên, áo lành đâu không mặc?
Con bé bịu xịu nói:

- Hết áo rồi, chỉ còn cái này.

- Sao không bảo u mày may cho?

Sơn bây giờ mới chợt nhớ ra là mẹ cái Hiên rất nghèo, chỉ có nghề đi mò cua bắt ốc thì còn lấy đâu ra tiền mà sắm áo cho con nữa. Sơn thấy động lòng thương, cũng như ban sáng Sơn đã nhớ thương đến em Duyên ngày trước vẫn cùng nó với Hiên đùa nghịch ở vườn nhà. Một ý nghĩ tốt bỗng thoáng qua trong trí, Sơn lại gần chị thì thầm:

- Hay là chúng ta đem cho nó cái áo bông cũ, chị ạ.

- Ừ, phải đấy. Để chị về lấy.

Với lòng ngây thơ của tuổi trẻ, chị Lan hăm hở chạy về nhà lấy áo. Sơn đứng lặng yên đợi, trong lòng tự nhiên thấy ấm áp vui vui.

Nhưng cái vui của Sơn không được bao lâu. Bữa cơm về tới nhà, Sơn không thấy mẹ đâu cả, hỏi vú già:

- Mợ tôi đi đâu hở vú?

- Chị Lan và cậu cứ ăn cơm trước đi. Mợ còn đi ăn giỗ đến trưa mới về.

Rồi vú già nhìn rõ vào mặt Sơn, hỏi:

- Có phải cậu đem cho con Hiên cái áo bông cũ phải không?

Sơn ngạc nhiên đáp:

- Phải. Nhưng sao vú biết?

- Con Sinh nó nói với tôi đấy (Sinh là đứa em họ của Sơn, vẫn hay nói hỗn với vú già, nên vú ấy ghét). Nó lại còn bảo hễ mợ về nó sẽ sang mách với mợ cho cậu phải đòn.

Sơn lo quá, sắp ăn, bỏ đũa đứng dậy, van:

- Thế bây giờ làm thế nào, hở vú? Mợ tôi biết thì chết.

- Ai bảo cậu dại dột đem cho áo nó? Bây giờ cậu sang bảo cái Hiên trả lại thì không việc gì.

Sơn vội vàng ra chợ tìm cái Hiên nhưng không thấy con bé ở đó. Đến nhà cũng không thấy ai, mẹ nó cũng không có nhà. Hai chị em lo sợ, đi ra cánh đồng tìm cũng không gặp. Gần đến buổi chiều, Sơn và chị chưa đòi được áo. Lan trách em:

- Sao em lại nghĩ đem cho nó cái áo ấy, có phải bây giờ mẹ mắng chết không.

- Ai bảo chị về lấy? Nếu chị không về lấy thì em biết đâu.

Chị Lan đấu dịu:

- Thôi, bây giờ phải về nhà vậy chứ biết làm thế nào.

- Nhưng mà em sợ lắm.

Chị Lan thở dài, nắm chặt lấy tay em, an ủi:

- Đằng nào cũng phải về cơ mà. May ra có lẽ mẹ không mắng đâu.

Hai chị em lo lắng dắt nhau lẻn về nhà. Đến cửa, Sơn nghe thấy tiếng mẹ nói ở trong với tiếng một người đàn bà khác nữa, nghe quen quen. Lan dắt tay Sơn khép nép bước vào, hai chị em ngạc nhiên đứng sững ra khi thấy mẹ con Hiên đang ngồi ở cái ghế con trên đất trước mặt mẹ, tay cầm cái áo bông cũ.

Thấy hai con về, mẹ Sơn ngửng lên nhìn rồi nghiêm nghị bảo:

- Kìa, hai cô cậu đã về kia. Thế áo bông của tôi đâu mà tự tiện đem cho đấy?

Sơn sợ hãi, cúi đầu lặng im, nép vào sau lưng chị. Bác Hiên vừa cười vừa nói:

- Tôi về thấy cháu nó mặc cái áo bông tôi hỏi ngay. Nó bảo của cậu Sơn cho nó. Tôi biết cậu ở đây đùa, nên tôi phải vội vàng đem lại đây trả mợ. Thôi, bây giờ, xin phép mợ tôi về.

Mẹ Sơn hỏi:

- Con Hiên không có cái áo à?

- Bẩm nhà cháu độ này khổ lắm, Chẳng để dành được đồng nào may áo cho con cả. Thành thử vẫn cái áo từ năm ngoái nó mặc mãi.

Mẹ Sơn với cái âu đồng, lấy tiền đưa cho bác Hiên:

- Đây, tôi cho mượn năm hào cầm về mà may áo cho con.

Khi bác Hiên bước ra khỏi cửa, mẹ Sơn vẫy hai con lại gần, rồi âu yếm ôm vào lòng mà bảo:

- Hai con tôi quý quá, dám tự do lấy áo đem cho người ta không sợ mẹ mắng ư?


------------------------


Trích trong tập truyện ngắn "Gió đầu mùa",
NXB Đời Nay, Hà Nội 1937.

mailan9
11-07-2008, 08:28
Ông cho một tờ bạc năm trăm mới cứng. Chú bé lôi ra lôi vào, ngắm nghía nó hoài. Ít hôm sau chú đem tiền mua mấy viên bi. Cô bán hàng nhận được tờ bạc đẹp, tỉ mỉ ghép xếp nó với mấy tờ bạc mới tặng một người bạn cùng lớp. Một ngày anh chàng tặng niềm hi vọng nhỏ nhỏ đó cho một người ăn mày tật nguyền.

Người ăn mày gỡ ngôi sao ra, nhập tờ bạc với những đồng tiền cũ bẩn khác. Đối với ông ta điều quan trọng lúc đó là phải có đủ tiền để mua thuốc chữa cảm. Tờ bạc nằm trong tiệm thuốc tây dưới bàn tay sạch sẽ của anh dược sĩ trẻ vài ngày. Rồi nó được dùng trả tiền thừa cho một người phụ nữ trung niên.Người phụ nữ khi ra đường, bất ngờ bị giật giỏ. Tất cả tiền trong giỏ chỉ đủ cho tên cướp mua ma túy thỏa mãn cơn vật vã.

Tờ bạc bắt đầu rách dần, rách vài lỗ nhỏ. Nó trải bao vui buồn, qua tay bao người: chị hàng cá, người quét rác…Có lần có còn thấm cả máu của một người lượm ve chai do chị cào phải mảnh thủy tinh. Rồi tờ bạc đến tay chị bán chè. Chị dùng nó thối lại cho cô bé ăn quà xinh xắn có nước da trắng trẻo. Khi về đến nhà, mẹ cô bé nhìn thấy tờ tiền đen đủi, cáu xỉn. Chị ta hét lên giận dữ, nói rằng tiền này đầy rẫy vi trùng. Chị giật lấy tờ bạc trên tay cô bé vô tình làm nó rách đôi và vứt xuống đường.

Gió thổi một nửa tờ bạc bay đến gốc cây, nửa kia bay xuống cống. Sáng hôm sau, có cụ già đi ngang, nhặt lấy nửa tờ tiền ướt đẫm sương, đem về nhà. bà cho nó kết hôn với nửa tờ tiền khác bằng miếng băng keo trong. Khi cụ già đi lĩnh lương hưu, xe đạp bị xẹp bánh. Bà lấy tiền trả công cho anh chàng bơm xe. Anh chàng trông còn trẻ lắm, độ 15, 16 tuổi là cùng.

Tối đó, đồng tiền với đủ mùi thơm, thối, hôi, tanh, chua, cay cùng bao nhiêu vi khuẩn bám trên mình còn thấm đẫm vị mặn của nước mắt cậu con trai mới lớn. Bây giờ tờ bạc cũ mèm đang nằm ngủ ngon lành trong tấm giấy học trò ghi nguệch ngoạc: “Giữ mãi! Đây là số tiền đầu tiên mình kiếm được”.

(http://khoanhkhacdep.sky.vn/archives/161) http://blog.sky.vn

mailan9
11-07-2008, 08:29
Trời Hà Nội bắt đầu những hạt mưa…

Cậu bước lên xe, dù vẫn còn chỗ ngồi nhưng cậu vẫn đứng. Mội thứ xung quanh thật ồn ào với mọi chuyện trên trời dưới biển. Cậu như người từ sao Hoả rơi xuống trái đất này vậy. Cảm giác như bị bỏ rơi, thật buồn. Và cũng vì thế mà trong cậu bây giờ trống rỗng đến khủng khiếp. Trong cái giới hạn giữa lạc lõng và trống rỗng ấy, cậu bắt đầu buồn ngủ.

Tắc đường! Dòng người đặc quánh lại, cố nhích từng tí một. Đã hơn mười phút trôi qua, cậu tặc lưỡi, rút điện thoại ra khỏi túi quần rất nhẹ nhàng để không làm đám đông khó chịu. Lúc này đã 8h30p chắc phải khoảng 10h mới đến nơi. Mà theo một cuộc điều tra xã hội học nào đó mà cậu biết thì đến 80% số người rút điện thoại ra chỉ để xem giờ.

Xe đi qua con đường rất quen. Quán café vỉ hè, cây bàng già, những chiếc ghế nhựa xanh đỏ với những đám khách ngồi giết thời gian với những câu chuyện không đầu không cuối. Hai mươi phút sau đường mới thông, bây giờ, mọi thứ diễn ra như từ Hà Nội chưa từng biết tới tắc đường vậy. Những vị khách lại bắt đầu lên và xuống. Thôi mặc kệ, câu chuyện của họ đi qua trước mặt và cảm giác cô đơn khiến cậu ta buồn chán. Giá mà hôm nay cậu đi xe máy như mọi ngày, giá như cậu đừng ngại trời mưa…

Tình cờ gặp nhau trên xe bus…

Từ nãy đến giờ, cậu phát hiện một cô bé nhìn cậu với ánh mắt rất lạ. Cậu đã qua cái tuổi dễ dàng đỏ mặt khi bị một người con gái nhìn, nhưng ánh mắt của cô bé khiến cậu có cảm giác nghẹt thở. Cậu nhìn ra ngoài cửa kính, những con đường bắt đầu mùa hạ, hàng cây xanh chạy dài. Từ bao giờ rồi nhỉ? Cậu đến cạnh ghế cô bé ngồi. Dù sao cậu cũng là “đàn ông”, cậu có thừa nghị lực.

+ Xin lỗi, anh có thể ngồi chỗ này được chứ?

- Vâng. - Cô bé mỉm cười nhẹ nhàng, cậu thấy thích cái cảm giác dễ chịu và thoải mái đó.

+ Em và anh đã gặp nhau ở đâu rồi à?

- Trông anh quen lắm.

+ Thật không?

- Thật! - Bé gật đầu mỉm cười.

+ Có lẽ kiểu mặt của anh khá phổ biến…

Lúc này cô bé cười thật sự, và cậu cũng đáp lại nhiệt tình bằng nụ cười tươi của mình, nụ cười ánh lên sâu thẳm trong đôi mắt. Cô bé mơ màng nhìn qua cánh cửa xe bus, trời đã sáng hơn, nhẹ nhàng dưới vòm cây.

+ Em đi đâu vây?

- Dạ, em sang nhà bạn chơi.

+ Nhưng thực sự em biết anh à? Anh trông em cũng rất quen?

- Thế ạ?

+ May mà hôm nay anh không đi xe máy…

Cô bé nhìn hắn bằng đôi mắt rất ngạc nhiên, cậu nhìn lại với ánh mắt tò mò và ngây thơ đến kỳ lạ. Trời lại thêm tiếng sấm, và mưa, mưa rơi nặng hạt dần. Không quá ồn ào, không quá vội vã, mọi người cứ lặng lẽ đi.

- Tại sao? - Cô bé ngạc nhiên hỏi lại.

+ Được gặp em và không bị mưa ướt.

- Em sắp phải xuống đây rồi, anh có xuống không?

+Không! Mưa thế này ướt hết?

- Em thích mưa.

+ …

… và ngồi đợi xe Bus cùng nhau…

Bến đợi xe bus, vào chiều muộn!

+ Ô! Em! Hóa ra trái đất cũng không đến nỗi méo lắm.

- Sao anh về muộn thế?

+ Cũng giống em thôi.

Một chiếc xe bus vừa tới, cậu nhìn lên và tự nói: “Ừm, xe đầy rồi… chẳng còn chỗ, thôi mình đợi chiếc sau vậy”. Thế là cậu bỏ qua chiếc hiện tại, và ngồi chờ chiếc thứ hai. Khi chiếc xe thứ hai tới, “Xe này sao cũ thế nhỉ, tồi tàn quá!”, cô bé nói và cũng chẳng bước lên xe. Một lát sau, chiếc xe thứ ba chạy tới, chiếc xe này không cũ, không có đông khách nhưng vẫn có lý do để không hài lòng: “Cái xe này không có điều hoà, thôi mình cố đợi chiếc sau”.

Một lần nữa, chiếc xe bus vừa tới lại bị bỏ qua và cả hai lại ngồi chờ chiếc kế tiếp. Chính cậu cũng không hiểu vì sao cô bé chịu ngồi lại đợi xe cùng mình? Trời thì tối dần, và cũng có vẻ muộn rồi.

+ Em có biết tình yêu giống như việc gì không? - Tự nhiên cậu bật tiếng hỏi. - Giống như việc chờ xe bus vậy.

- Nhưng tại sao lại phải chờ?

+ Anh cũng chẳng biết, lên thôi em.

- Đông quá.

+ Nhưng chuyến sau cũng vậy.

- Chuyến sau sẽ không đông, nhưng sẽ không có máy lạnh.

+ Em nghĩ vậy thật à?

- Em có biết nói dối đâu.

+ Thế thì…

- Anh cứ nói đi

+ Thôi.

… cậu mong sẽ gặp lại cô bé trên xe bus, và sẽ gọi nó là: “Xe bus tình yêu”.

Mưa! Mưa không như mùa hạ, cũng chẳng có tý nào giống mùa xuân. Mưa rất lạ! Nước mưa chỉ đủ láng ướt con đường. Xe cộ vội vã chạy ngang qua nước xé lên thành từng vệt. Quán vắng! Hàng rong vắng! Bàn ghế trống trơn! Chỉ còn có hai người đang đợi chuyến xe bus cho riêng mình.

Cậu len lén nhìn cô, người mà cậu vẫn chưa biết tên, chưa biết số điện thoại hay bất kỳ cái gì đó đại loại về cô. Ánh nhìn của cậu rất lạ lùng, chẳng hiểu vì sao, có lẽ vì cô bé quá lạ trên cuộc đời cũ kỹ này? Hay vì đến giờ cậu vẫn chưa nhận ra là đã gặp cô ở đâu cả? Ở một điểm tắc đường, một trung tâm mua sắm hay điên rồ một chút là đã gặp trong giấc mơ xa xôi nào đó chăng? Chịu!

Rất lâu từ sau buổi chiều đó, cậu không còn đi xe bus nữa, cậu trở về với chiếc xe máy của mình. Cậu trở lại là chính mình, lại là một đứa rất ghét phim Hàn Quốc, hay những câu chuyện có kết thúc lãng mạn hoặc làm cho người ta không tin nổi. Nhưng lúc này, sao cậu lại mong và tin tưởng rằng mình sẽ trở thành một phần của những chuyện ấy đến thế? Câu chuyện mà trong đó, cô và cậu, đã gặp lại nhau, trên chuyến xe bus của riêng mình, và cậu sẽ gọi đó là “xe bus tình yêu”.

Nhất định rồi, cậu sẽ gặp lại cô, trên chuyến xe bus của riêng mình!
( http://tiemphuthuywiwai.sky.vn/archives/78) http://blog.sky.vn

mailan9
14-07-2008, 08:57
Đôi khi tình yêu không phải những lời nói hoa mỹ, ngon ngọt làm say đắm lòng người, không phải những hành động cử chỉ yêu thương, chỉ là những điều hết sức bình dị, cứ âm thầm lặng lẽ, không cần ai biết, không cần ai hay…

Một cô gái yêu tha thiết một chàng trai nhưng bị gia đình phản đối kịch liệt ngay từ đầu. Cha mẹ cô cho rằng hoàn cảnh hai gia đình không phù hợp, nếu lấy nhau, cô sẽ chịu khổ suốt đời.

Vì áp lực từ phía gia đình, hai người thường xuyên cãi vã. Mặc dù rất yêu, nhưng cô gái hay hỏi người yêu “Anh yêu em như thế nào?”

Khi chàng trai không trả lời theo ý mình, cô lại tức giận. Cứ mỗi lần như thế cùng với áp lực của gia đình, cô lại trút giận vào người yêu. Nhưng anh chỉ chịu đựng trong im lặng.

Hai năm sau, chàng trai tốt nghiệp đại học và quyết định đi du học ở nước ngoài. Trước khi đi, anh cầu hôn người mình yêu thương: “Anh không khéo ăn nói. Nhưng chỉ cần em biết rằng anh rất yêu em. Nếu em chịu đến với anh, anh sẽ chăm sóc em suốt đời. Còn về phía gia đình, anh sẽ cố thuyết phục bố mẹ. Em đồng ý làm vợ anh chứ?”

Cô gái đồng ý, và rồi cha mẹ cô cũng tán thành. Trước khi chàng trai đi học, họ đã đính hôn với nhau.

Cô gái bắt đầu đi làm, và chàng trai thì tiếp tục sự nghiệp học hành của mình ở nước ngoài. Họ gửi cho nhau những lời yêu thương qua thư từ và điện thoại. Mặc dù có khó khăn, nhưng chưa bao giờ họ nghĩ đến chia ly.

Một ngày nọ, trên đường đi làm, cô gái bị tai nạn ô tô. Tỉnh dậy, cô nhìn thấy cha mẹ bên cạnh giường mình nằm, xung quanh là màu trắng toát. Cô biết là cô đã bị thương rất nặng. Nhìn mẹ đang khóc, cô muốn an ủi. Nhưng rồi nhận ra rằng mình đã mất đi một thứ vô cùng quý giá - giọng nói.

Bác sĩ nói rằng chấn thương não quá mạnh làm mất khả năng nói của cô.

Suy sụp nhanh chóng, những ngày ở bệnh viện, cô chỉ biết có khóc mà thôi. Về nhà, tình hình cũng không có gì thay đổi. Mỗi lần nghe tiếng chuông điện thoại, tim cô nhói lên đau đớn. Cô không muốn cho người yêu biết hoàn cảnh của mình, cô không muốn mình là gánh nặng của anh. Cô viết một lá thư nói rằng cô không thể chờ đợi anh ta thêm được nữa và quyết định chia tay.

Kèm theo lá thư, cô gửi trả lại chiếc nhẫn. Chàng trai gửi hàng trăm lá thư, gọi không biết bao cuộc điện thoại, nhưng những gì cô có thể làm chỉ là khóc mà thôi.

Cha mẹ cô quyết định chuyển chỗ ở, hi vọng cô có thể quên mọi thứ và sống vui vẻ hơn.

Ở môi trường mới, cô học ngôn ngữ cử chỉ và bắt đầu một cuộc sống mới. Hàng ngày cô vẫn luôn tự nhủ phải quên người mình yêu. Một ngày, bạn cô tới và nói rằng chàng trai đã quay về. Cô bảo bạn đừng để cho anh biết chuyện gì đã xảy ra đối với cô. Từ đó, không có tin tức gì về anh nữa.

Một năm trôi qua, người bạn của cô lại đến mang theo một cái phong bì. Đó là thiệp cưới của người yêu cũ. Cô choáng váng, đau khổ. Mở phong bì ra, cô thấy tên mình trong đó.

Khi đang định hỏi chuyện người bạn, bỗng thấy anh đứng trước mặt. Anh dùng ngôn ngữ cử chỉ nói chuyện với cô: “Anh đã dành một năm để học ngôn ngữ cử chỉ. Vì anh muốn nói với em một điều, anh chưa bao giờ quên lời ước hẹn của hai ta. Hãy để anh là giọng nói của em. Anh yêu em.”

Anh đeo nhẫn vào tay cô. Cô mỉm cười hạnh phúc.
(http://khoanhkhacdep.sky.vn/archives/165 _ http://blog.sky.vn )

mailan9
14-07-2008, 09:14
Họ là bạn học với nhau thời sinh viên. Thời đại học, cô là hoa khôi nổi tiếng của trường. Không chỉ xinh đẹp, cô còn khiến mọi người chú ý bởi thành tích học tập xuất sắc của mình. Các chàng trai trong trường theo đuổi cô nhiều như những chú ong bay quanh bông hoa đẹp. Còn anh, trái ngược hẳn với sự nổi tiếng của cô, chỉ là một tràng sinh viên hết sức bình thường, không cao lớn, cũng chẳng đẹp trai.Không biết vì lý do gì, cô lại đặc biệt thích chơi với anh. Vì ở bên anh, cô luôn có cảm giác vui vẻ, yên bình, và quan trọng hơn là cảm thấy an toàn. Có lẽ xuất phát từ tình cảm bạn bè chân thành mà họ lại yêu mến nhau lâu như vậy.
Những ngày tháng họ ở bên nhau quả là rất vui. Mỗi buổi tối, cô đều chủ động hẹn anh ra ngoài chơi. Rồi hai người cùng ngồi nói chuyện tâm sự, chia sẻ niềm vui nỗi buồn dưới bầu trời lấp lánh sao khuya. Qua những lần nói chuyện ấy, cô và anh lại càng hiểu về nhau hơn. Thi thoảng, cô cũng nũng nịu như một đứa trẻ. Đi chơi về đến kí túc, cô lại giả bộ mệt mỏi, rồi đòi anh cõng cô lên tầng. Tình cảm giữa họ lại càng gần gũi hơn trong những khoảnh khắc ấy. Cuối tuần, anh lại lấy xe đạp chở cô ra ngoại ô, ra bãi biển hóng gió. Cô ngồi sau xe anh, những sợi tóc dài khẽ reo vui trong gió như tâm trạng đang tràn đầy hạnh phúc của cô khi ấy.
Những ngày tháng đó còn có cả bao lời nói dối ngốc nghếch. Mỗi buổi sớm anh đều mang bữa sáng cho cô. Lần nào cũng có một quả trứng gà. Anh bóc vỏ rồi mỉm cười nhìn cô ăn. Cô bảo anh ăn cùng thì anh lắc đầu và nói, từ nhỏ tới lớn, anh không thích ăn trứng gà. Cuộc sống bần hàn khiến anh cảm thấy ngại ngùng khi cùng cô chia sẻ một quả trứng gà. Anh sợ cô biết rằng những đồng xu trong túi mình chỉ cho phép anh mua một quả trứng gà vào mỗi buổi sáng. Ngày xưa khi anh còn nhỏ, mẹ vẫn thường luộc một quả trứng gà để bổ dưỡng sức khoẻ cho anh. Đó là món quà xa xỉ nhất mà mẹ giành mua cho anh ngày ấy.Và mỗi lần khi anh bảo mẹ ăn cùng, mẹ đều cười và nói: Mẹ không thích ăn trứng gà. Sau này khi biết chuyện, cô đã cảm động trước tấm lòng chân thành của anh và ngày càng yêu mến anh hơn.
Những ngày tháng ấy, cũng có cả nước mắt. Vì học ở xa, cô thường hay nhớ nhà. Mỗi lúc cô đơn, nhớ tới gia đình, cô lại không cầm được nước mắt. Anh chỉ biết đứng nhìn cô khóc mà không biết làm gì. Anh vốn là người ít nói, lại không biết nói những lời dễ nghe để dỗ dành cô. Những lúc ấy, anh chỉ ngồi bên cô, đưa cho cô chiếc khăn giấy mà hai khoé mắt cũng hoe đỏ…
Những ngày tháng ấy, khi ở bên nhau, anh và cô đều nghĩ về một chuyện. Cô nghĩ: Liệu anh ấy có thích mình không? Có thể anh ấy chỉ coi mình là em gái. Còn anh thì nghĩ: Cô ấy có thích mình không nhỉ? Có lẽ cô
ấy chỉ coi mình như một người anh trai. Tình cảm giữa họ, gần như đã đi đến đích cuối cùng, duy chỉ thiếu một câu nói mà thôi.
Valentine năm ấy, cô nhận được rất nhiều hoa và thiệp chúc mừng. Nhưng tất cả những bó hoa ấy, cô đều đem vứt vào thùng rác. Đúng vậy, các cô gái trẻ vẫn thường thích được tặng hoa. Cô cũng thích, nhưng càng thích hơn là bó hoa hồng mà anh sẽ tặng cô. Khi đã yêu một người, thì trong trái tim chỉ có người ấy mà thôi. Cô không chấp nhận hoa của những người mà mình không giành tình cảm cho họ. Từ phía xa, khi thấy anh bước đến với bó hoa hồng trong tay, trái tim cô đã reo vui hạnh phúc. “Tặng em bó hồng này!” Anh chìa bó hoa về phía cô và ấp úng. “Chín bông hoa hồng tượng trưng cho điều gì vậy?” Mặt cô đỏ ửng, cô hỏi anh mà trong lòng chỉ mong đợi một câu nói. “Anh thấy những bông hoa này rất đẹp, anh hi vọng là những gì mà người khác có thì em cũng phải có…” “Ai bảo em không có?” Không đợi anh nói hết lời, cô đã ném bó hoa về phía anh và bỏ đi trong cơn giận dữ…Anh đứng ngây người ở đó, nhìn theo bóng cô khuất dần, muốn giữ cô lại mà bước chân như hoá đá…Buổi tối ấy, họ không còn sánh bước bên nhau dưới bầu trời đêm nữa. Anh cảm thấy vô cùng đau khổ, nghĩ rằng mình đã khiến cho tình cảm của hai người rạn vỡ. Còn cô thì cảm thấy tủi thân biết bao. Kì thực cô chỉ muốn nghe anh nói ra câu nói ấy. Họ đâu biết rằng bản thân đều là những người ngốc nghếch trong tình yêu…Một tháng rưỡi sau, một buổi tối, anh lấy hết can đảm viết một mảnh giấy nhỏ gửi cho cô. Anh viết: “Anh rất yêu em!”
…Mười năm sau, cả hai người đều đã bước qua tuổi mộng mơ. Những ngày tháng họ ở bên nhau trước kia chỉ còn là kí ức tươi đẹp. Cả anh và cô đều giữ riêng cho mình mối tình đầu thơ mộng ở trong tim. Anh vẫn sống độc thân, mặc dù sự nghiệp đã thành công, đã có rất nhiều cô gái theo đuổi nhưng anh đều từ chối. Bởi trái tim anh giờ đây không thể gánh nổi hai chữ tình yêu nữa. Chỉ vì nơi mềm yếu nhất của con tim đã có hình bóng của cô. Ở một nơi xa xôi nào đó, cô cũng đang sống trong nuối tiếc và mong nhớ. Không ai biết được rằng mối tình đầu thì ra lại khó quên đến vậy.
Cuộc sống run rủi lại để họ gặp lại nhau nơi bãi biển quen thuộc. Họ đứng đối diện với nhau mà nước mắt cứ rơi trong im lặng. Cả hai đều đã thay đổi, già giặn hơn, từng trải hơn, duy chỉ có tình cảm giành cho người ấy vẫn không thay đổi, vẫn nồng nàn trong ánh mắt. Cô lên tiếng trước: “Tại sao anh lại gửi mảnh giấy cho em vào ngày hôm đó?” Anh nhíu mày: “Ngày nào cơ?” “Ngày Cá tháng tư” Anh tròn mắt kinh ngạc rồi thở dài: “Trời ạ, anh có biết đâu. Đối với anh, tình yêu không có ngày nói dối.” Và rồi họ cùng cười, rồi ôm nhau trong những giọt nước mắt hạnh phúc. Hai con người ngốc nghếch cuối cùng cũng có được hạnh phúc như mong đợi. Và mối tình đầu dại khờ của họ vậy là đã kéo dài hơn mười năm…
( http://luongchien.sky.vn/archives/135 _ http://blog.sky.vn )

thanhsoros
14-07-2008, 10:22
Nếu em gái trong truyện sinh ra vào ngày 1-4 thì sao ? lol

s.code
14-07-2008, 10:41
Cảm động quá. Nếu là người thật chuyện thật thì hay quá ấy nhỉ :((

FCVolka
14-07-2008, 11:48
Chuyện này ở đâu mà hay quá vậy ta?

tuanenti
15-07-2008, 08:05
Trang đầu tiên đọc có cảm giác là chủ đề dường như thành công: "truyện ngắn"
-Đọc thấy tiếc nuối: Hạnh phúc tuổi thơ: đơn giản nhưng xa mất rồi! Người lớn cuộc sống quá nhiều suy nghĩ với những dãy số "bao nhiêu tiền?".
-Đọc xong ngẫm nghĩ: "Niềm vui đôi khi rất đơn giản, thành đạt quá có thể sẽ buông thả?".
-Đọc và thấy cảm động.
-...
Nhưng câu chuyện cứ dài dần, không biết có còn là "truyện ngắn" nữa không đây? và cũng nhạt dần, sao vậy nhỉ???

lennel
15-07-2008, 14:37
...mỗi bài post là những cảm xúc trăn trở rất riêng..

len nghĩ đây là topic rất hay đó chứ..

Mr_zoro
05-08-2008, 12:53
không biết bác nào đọc " love storry " chưa hay tuyệt , 1 tình yêu lãng mạng ,cảm động . gần gũi và cao thượng

lennel
01-09-2008, 11:56
Chuỗi Ngọc Lam

Tác giả : Fulton Oursler

Ngày cô bé Joan Grace đẩy cửa bước vào tiệm của Pierre Richard thì Pierre là con người cô độc nhất thành phố. Có lẽ hồi ấy các bạn đã được nghe phong phanh câu chuyện đó. Nhưng báo chí không nêu tên mà cũng không kể chi tiết nên hôm nay tôi xin thuật lại tường tận.
Pierre đã được ông nội để lại cho một cửa tiệm bán đồ cổ. Trong cái tủ kính nhỏ xíu anh chất đủ các thứ đồ kỳ cục : vòng, mề đay đeo vào dây chuyền có từ thế kỷ trước, nhẫn vàng, hộp bạc, ngọc thạch hoặc ngà chạm trổ, tượng nhỏ bằng sứ.
Buổi chiều, mùa đông hôm đó, một em gái đứng áp trán vào tủ kính, trố mắt ngó kỹ từng vật cổ lỗ đó như muốn kiếm một vật gì. Bỗng em ngững đầu lên, vẻ khoan khoái rồi đẩy cửa bước vào tiệm.
Tiệm tối tăm mà còn bừa bãi hơn mặt tiền nữa. Có những ngăn tủ muốn sập vì chất quá nặng : hộp đựng tư trang, súng lục cũ không còn dùng được nữa, đồng hồ chuông đèn; còn trên sàn thì chất đống nào là giá để củi trong lò sưởi, đờn măng-đô-lin và những đồ cũ kỹ khó mà phân loại được.
Pierre ngồi ở sau quầy. Mặc dầu mới ngoài ba mươi mà tóc của anh đã hoa râm. Anh ngó cô bé.
Em hỏi :
- Thưa ông, con có thể coi chuỗi ngọc lam bày ở tủ kính không ạ?
Pierre kéo tấm màn, lấy chuỗi ngọc ra đưa cho cô bé xem. Những viên ngọc lam chiếu rực rỡ trong bàn tay xanh xao của anh. Em đỡ lấy, thốt lên lời khen :
Đẹp quá! Xin ông gói lại thành một gói đẹp cho con.
Oierre lạnh lùng ngó em :
Có ai sai em đi mua hả?
Thưa không. Con mua cho chị Hai con. Chị đã nuôi nấng con từ khi má mất. Đây là lễ Noel đầu tiên chị em con được ở gần nhau. Con muốn tặng chị một món quà đẹp.
Pierre nghi ngờ hỏi :
- Em có bao nhiêu tiền?
Em mở khăn tay ra, đổ lên bàn một nắm bạc xu, bảo :
- Con đã đập con heo của con ra đấy.
Pierre Richard ngó em, vẻ trầm tư. Rồi anh ý tứ cầm chuỗi ngọc lên, sợ em trông thấy giá tiền. Nói thẳng cách nào cho em biết được? Cặp mắt xanh đầy tin tưởng của em gợi cho anh nhớ lại vết thương lòng thời trước.
Quay lưng lại em, anh bảo :
- Em đợi một chút nhé.
Rồi vừa lúi húi làm một việc gì đó, anh vừa quay lại hỏi:
- Em tên gì?
- Thưa, Joan Grace.
Khi quay lại thì trong tay anh đã cầm một gói nhỏ bao bằng giấy lụa đỏ và cột bằng một băng lụa màu xanh lá cây. Anh đưa cho em bé và bảo:
- Này, coi chừng em đừng đánh rơi nhé.
Em Joan mỉm cười rạng rỡ, chạy vụt về nhà. Anh nhìn theo, một nỗi buồn mênh mông dâng lên trong lòng. Em nhỏ đó và chuỗi ngọc lam khêu gợi lại một vết thương lòng không bao giờ lành hẳn của anh. Tóc em vàng như lúa chín, mắt em xanh như nước biển; mới mấy năm trước, anh đã yêu một thiếu nữ cũng có mớ tóc đó, cặp mắt đó. Chuỗi ngọc đã tính để tặng nàng.
Nhưng một chiếc cam nhông trượt bánh trên con đường trơn trợt một đêm mưa đã làm tiêu tan ước mơ.
Từ đó anh sống cô độc, ôn lại hoài nỗi khổ tâm. Anh ân cần lễ độ tiếp khách, nhưng ngoài công việc ra, anh thấy đời trống rỗng vô nghiõa một cách khủng khiếp. Lầm lì, không giao thiệp với ai, anh rán quên mà không quên được, nỗi thất vọng như sương mù cứ mỗi ngày mỗi dày đặc.
Cặp mắt xanh của em Joan Grace gợi cho anh hình ảnh người yêu. Vào dịp lễ này, khách hàng tới đông, ai cũng bộc lộ niềm vui làm cho anh càng đau lòng. Khách qua đường bước vào tiệm, chuyện trò, sờ mó các món đồ, trả giá lăng xăng. Đêm Noel đã khuya rồi, khi người khách cuối cùng bước ra, Pierre Richard thở phào nhẹ nhàng. Thôi thế là qua được năm nay. Nhưng anh đã lầm.
Cửa thình lình mở ra, một thiếu nữ xông vào. Anh thấy nhói ở tim: thiếu nữ có vẻ mặt quen quen nhưng anh không nhớ rõ đã gặp ở đâu, hồi nào. Tóc cô vàng hoe, mắt xanh thăm thẳm. Cô im lặng lấy trong túi xách ra một gói nhỏ bao vội vàng một thứ giấy lụa đỏ, lại có cả cái băng lụa màu xanh lá cây đã mở ra rồi. Và những viên ngọc lam chiếu rực rỡ trên bàn:
Chiếc chuỗi ngọc lam này có phải của tiệm ông không?
Pierre ngước mắt lên nhìn cô, nhẹ nhàng trả lời:
- Phải.
- Phải ngọc thật không?
- Nhất định rồi. Không phải thứ ngọc quý nhất nhưng ngọc thật đó.
- Ông có nhớ đã bán cho ai không?
- Bán cho một cô bé. Tên em là Joan. Em mua để tặng quà Noel cho chị Hai của em.
- Giá bao nhiêu?
Pierre nghiêm mặt đáp:
- Tôi không khi nào nói giá tiền khách hàng đã trả cho tôi.
Em Joan chỉ có ít đồng tiền tiêu vặt làm sao em có đủ tiền mua chuỗi ngọc này?
Trong lúc đó, Pierre vuốt kỹ lại tờ giấy lụa, gói lại chuỗi ngọc. Anh bảo :
Em đã trả đắt hơn hết thảy các người khác. Có bao nhiêu tiền em đưa tôi hết.
Hai người làm thinh. Cửa hàng bỗng tĩnh mịch lạ thường. Tiếng chuông từ một giáo đường ở gần đó bắt đầu đổ, văng vẳng đưa lại. Cái gói nhỏ đặt trên bàn, vẻ thắc mắc dò hỏi trong cặp mắt thiếu nữ và cảm giác hồi sinh kỳ dị dồn dập dâng lên trong lòng Pierre, tất cả những cái đó đều là do tình yêu của một em nhỏ.
Nhưng sao ông lại làm như vậy?
Pierre vừa đưa gói nhỏ đó cho cô vừa trả lời :
Hôm nay là ngày Noel. Tôi bất hạnh không có ai để tặng quà. Cô cho phép tôi đưa cô về nhà và chúc cô một lễ Noel vui vẻ với gia đình nhé!
Thế là trong tiếng chuông đổ hồi, giữa một đám đông vui vẻ, Pierre Richard và một thiếu nữ mà anh chưa biết tên, cùng nhau bước qua một ngày mới đem lại nguồn hy vọng tràn trề trong lòng mọi người.

The Old Man
01-09-2008, 12:12
Những truyện nhắn thật đẹp !!! Cám ơn !!!

IamNewVietnam
01-09-2008, 16:28
Một buổi chiều đỏ sậm bóng hoàng hôn, mặt biển như co dúm lại dường như không chịu được sự cô đơn của tạo hóa, sóng rì rào cuốn từng đụn cát nhỏ hòa tan vào biển ca không tiếc thương công sức nhọc nhằn xe chở của dã tràng. Hắn thất thểu vác chiếc chai men theo mép nước, thi thoảng những lưỡi sóng tham lam liếp ướt cả chân quần lành lạnh.

Phía xa xa một chiếc chòi lá cũ bạc đang run lên trong gió biển, hắn cứ lầm lủi tiến lại cũng không thèm ngước lên nhìn bởi lẽ từ chiều qua hắn cũng đã ngồi tu rượu nhắm từng miếng cô đơn trong gió lộng mênh mông của biển cả.

Khi tai của hắn nghe rõ tiếng phần phật của mái lá đang oằn lên trong gió thì cái chòi đã ngay trước mặt, hắn co chân định bước lên thì bất chợt há hốc miệng, tròn mắt trừng trừng nhìn vào chòi, tim đập loạn xạ, miệng ú ớ không ra tiếng...

Trong chòi, một thiếu nữ đang đứng lặng nhìn ra biển, đôi mắt buồn mêng mang nhưng có sóng tuôn trào, mái tóc nàng để buông cho từng cơn gió chiều lùa vào vuốt ve từng lọn tóc mềm mại. Hắn xiết chặt tay nắm chiếc cổ chai rồi nhẹ nhàng bước tới đứng bên cạnh nàng, cũng buông đôi mắt hờ hững buồn man mác hòa cùng biển khơi...

(chuyện có thật 100% bác nào muốn nghe đoạn kết PM em kể nốt cho:w00t:)

lennel
27-09-2008, 12:27
Con Tim Nhà Giáo.

Hôm tựu trường lớp 5, cô giáo Thompson đứng trước mặt học sinh nói rằng:

Các em thân yêu, cô rất thương các em. Cô thương tất cả các em.
"Nói láo !" Cô Thompson thầm hổ thẹn với chính mình. Làm sao có thể vổ ngực tuyên bố rằng thương tất cả mọi học sinh được!

Trước mặt cô là thằng Teddy Stoddard, áo quần xốc xếch, ăn mặc dơ dáy, hôi hám, dường như nó không chịu tắm rửa, chẳng chịu chơi với ai, lại thêm khó tính,... Tất cả tật xấu cô đã nhận thấy nơi thằng Teddy từ lúc nó học lớp 4 năm ngoái với thầy John Brown gần bên, lại tiếp tục hiện ra năm nay.

"Làm sao tôi có thể yêu cái thằng chó chết đó được chứ! Chắc là nó chỉ đáng lãnh điểm F từ hạnh kiểm đến bài làm!"

Cô Thompson từ từ xem qua các lời phê trong học bạ của học sinh, một việc nhà trường buộc phải làm đầu niên học. Và cô giật nảy mình khi đọc đến hồ sơ của Ted.

Cô giáo lớp 1 phê: "Teddy là đứa bé rất thông minh với nụ cười luôn nở trên môi. Em rất lễ phép, và ngăn nắp. Thật sung sướng được dạy em."

Cô giáo lớp 2 phê: "Teddy là học sinh xuất sắc, bạn bè ai cũng mến. Gia đình em gặp khó khăn vì mẹ em mắc bệnh nan y."

Đến năm lớp 3, trong phiếu điểm có những dòng sau đây:

"Cái chết của mẹ em quả là một biến cố lớn cho em. Tuy em đã cố gắng, nhưng ba của em chẳng ngó ngàng gì đến em. Đời em sẽ xuống dốc nếu không có ai giúp đỡ."

Học bạ lớp 4 ghi: "Teddy dường như không thích học, ít giao thiệp với ai. Em dường như không có bạn, hay ngũ gục trong lớp."

Đọc xong những lời phê ấy, cô Thompson sa sầm nét mặt.

Rồi mùa Đại Lễ đến. Học sinh mang quà biếu cô. Quà nào cũng được gói ghém tươm tất hoa màu. Chỉ có quà của Teddy là thô thiển nhất, gói trong bao giấy siêu thị, lại nhăn nhầu thảm não. Cô Thompson chọn ngay gói quà của Teddy cầm lên. Trẻ con bắt đầu cười khúc khích, có đứa tỏ vẻ mặt khinh khi.

Và, ô kìa, chúng nó phá lên cười, khi cô Thompson lấy trong gói đó ra một chiếc vòng thạch, hột mất hột còn, và lọ nước hoa chỉ còn có một phần tư bình.

Cô Thompson đưa mắt lườm quanh một vòng, và nghiêm mặt. Cả lớp im phắc. Rồi cô lấy tay nâng niu các hột thạch của chíếc vòng vừa trầm trồ khen ngợi, rồi đeo ngay vào cổ tay một cách hãnh diện. Sau đó, cô sung sướng lấy nước hoa bôi lên tóc, lên má mình.

Sau buổi "Christmas Party" tại lớp hôm ấy, Teddy đã không vội ra về như mọi khi. Em ngồi nán lại chờ bạn bè ra bề, mới đến bên cô thủ thỉ:

Chào cô Thompson, hôm nay cô thơm như má con thuở nào.
Nước mắt lưng tròng, em rón rén lui dần ra cửa, rồi vụt biến để cô Thompson ở lại một mình trong lớp. Cô thút thít khóc cả giờ sau đó.

Từ dạo ấy, cô giáo Thompson không chỉ dạy toán, dạy viết, dạy văn cho trẻ, mà cô bắt đầu chú trọng "giáo dục" học sinh. Cũng từ dạo ấy, Teddy như sống lại. Em càng ngày cang học giỏi hơn thêm. Và cuối năm, em trở thành một trong những học sinh xuất sắc của lớp.

Một năm trôi qua.

Một hôm, cô Thompson bắt gặp một lá thư của Teddy chuồi lòn dưới cửa lớp bảo rằng "Cô là cô giáo giỏi nhất, tốt nhất của đời em."

Sáu năm trôi qua, cô lại nhận được cánh thiệp báo tin Teddy đã tốt nghiệp trung học. Em đứng hạng ba và vẫn luôn xem cô là cô giáo hay nhất, giỏi nhất, tốt nhất trong đời em.

Bốn năm sau nữa, cô mân mê lá thư Teddy viết thăm cô, trong ấy Teddy bảo em đã phấn đấu nhiều trong bốn năm qua, và nay sắp ra trường với hạng ưu. Em vẫn luôn xem cô là cô giáo hay nhất, giỏi nhất, tốt nhất trong đời em.

Lại bốn mùa xuân thoăn thoắt tiếp nối, cô Thompson lại nhận được thư của Teddy tin cho cô hay em vẫn luôn xem cô là cô giáo hay nhất, giỏi nhất, tốt nhất trong đời em. Em nói nhờ cô mà tên của em bây giờ đã dài ra. Người tra ghi tên em là "Theodore F. Stoddard, M.D."

Một mùa Thu nọ, Teddy báo cho cô Thompson hay là ba của em đã qua đời. Cuộc đời em tuy thiếu vắng hơn, nhưng dần dà em cũng đã có ý trung nhân và sắp làm đám cưới. Em mời cô đến dự hôn lễ ngồi vào ghế danh dự vẫn thường dành cho mẹ chú rễ.

Đến ngày cưới, cô Thompson đã đến dự, và đeo trên tay chiếc vòng thạch hột mất hột còn của Teddy tặng cho cô thuở nào. Cô cũng không quên lấy nuớc hoa mà Teddy nhớ mùi của mẹ nó để xức tóc. Lọ nước hoa bây giờ chỉ còn vài giọt mà thôi.

Bác sĩ Stoddard sung sướng ôm chầm lấy cô Thompson, và thỏ thể vào tai cô:

"Cám ơn cô đã tin con , và tạo cho con sự tự tin. Chính niềm tin đó đã giúp con thay đổi cuộc đời."
Lại những giọt lệ cảm động tuôn rơi, cô Thompson thủ thỉ cới bác sĩ Stoddard:

Teddy, con lầm to. Chính con mới là kẻ dạy cô, và đã giúp cô thay đổi cuộc đòi. Chính nhờ gặp con, cô mới biết thế nào là "Giáo Dục".

acaxomcui
27-09-2008, 13:50
Hay qua,Đây là một bài học hay của người đứng lớp .Cám ơn tác giả đã cho đời những nội dung như vầy .Thank

lennel
27-09-2008, 22:07
Buổi sáng biến mất

Giải nhất Truyện ngắn 2006-2007 của báo Văn Nghệ

Xóm Ao hiện có hai người bệnh trầm trọng. Rất nặng. Nặng đến mức, giờ đây cái chết nhẹ ngang bằng hơi thở. Đó là chú Khiêu chồng thím Xanh. Đó là bà Mển vợ lão Sùng. Cả hai đã là trái banh trong chân đội banh Nhà Thương. Đội banh ấy đã cố gắng chuyền nhau, không cho lọt vào “ gôn ” Tử Thần, nhưng đều thất bại, để trái banh bị lủng, và cũng vì đá quá, cuối cùng xẹp hơi… Ruộng rẫy, bò trâu đã bán sạch. Gia đình họ đang trên bờ vực thẳm… Chú Khiêu ung thư gan thời kỳ chót ! Bà Mển ung thư phổi thời kỳ chót ! Chờ chết !
Tổng quát, tình hình là như vậy, bi thảm là vậy. Đó là lý do sáng nay, Thuỳ đưa hai túi ny lông đựng cam sành và sữa hộp cho Thuấn :

– Anh đi thăm họ nhanh lên… Chần chừ sẽ không kịp thăm !

– Họ ăn được gì mà cam với sữa. Tiền tốt hơn.

– Họ ăn bằng mắt.

Thuấn nín lặng trước câu nói của vợ. Phải ! Người sắp chết không ăn gì, nhưng phải có đồ ăn để thấy !

Thuấn xách hai túi cam, sữa, vội vàng ra khỏi nhà, quyết định đến chú Khiêu trước. Anh bước nhanh, tâm trạng bồng bềnh…

Vừa bước chân lên thềm nhà, Thuấn đằng hắng mấy cái… Thấy Thuấn, thím Xanh lật đật bỏ cái thúng đan dở, đứng dậy thoăn thoắt ra cửa, xìa tay đỡ cả hai túi cam và sữa, đặt lên chiếc bàn gỗ tạp xiêu vẹo nơi hiên, miệng phát tía lia như súng liên thanh khạc đạn :

– Chú mày cứ đòi chết, đòi chết, đòi chết… ăn được gì mà mua nhiều thế này, thế này… Cứ đòi chết, đòi chết… không thèm sống, không muốn sống… Cứ đòi chết…

Xổ xong tràng âm thanh khoẻ mạnh ấy, thím nhanh nhẹn chuyển hai túi quà vào đặt trên bàn thờ tổ tiên, đoạn trở lại nơi góc phòng, đan tiếp cái thúng dở dang, dường như Thuấn không có mặt ở đấy, bình thản đến lạnh lùng. Thuấn chưa kịp mở miệng nói gì được. Gặp thím là anh câm luôn !

Chú Khiêu được đặt nằm trên chiếc chõng tre sát cửa sổ không cánh, trông thật hoang vu. Da chú màu vàng pha xanh như màu trái bưởi non. Có mấy chiếc lá vàng bị gió quật bay vào đậu trên ngực chú. Anh kéo chiếc ghế đẩu vuông nhỏ, ngồi cạnh giường. Vừa nhặt mấy chiếc lá trên ngực chú quăng ra ngoài, vừa nói động viên :

– Chú lạc quan lên, coi nào ! Cứ đòi chết, đòi chết… chết thật đấy ! Cái chết mà bực lên nó không tha ai đâu!

Chú Khiêu nhăn nhó, miệng móm riết, nói đứt quãng :

– Sống mà đòi chết là… người ngu ! Sắp chết mà đòi sống… lại càng ngu hơn ! Chú không phải người ngu !

Thuấn sững sờ nhìn chăm chú chú Khiêu. Dường như đằng sau lưng câu nói của chú là một khoảng mênh mông cay đắng. Mà cũng dường như câu nói ấy không phải nói với anh, nó dường như một tảng băng trôi về hướng thím Xanh đang ngồi thản nhiên đan thúng. Khuôn mặt vàng pha xanh hốc hác, đôi mắt lõm sâu không nhìn ai cả của chú Khiêu khiến anh nao lòng. Đôi mắt nhìn vào bên trong, thấy sự tan tành một kiếp người một cách kiên cường tuyệt vọng. Nó ráo hoảnh đến se sắt ! Đột ngột, chú Khiêu oằn người, mặt nhăn riết, mồm méo xệch, mắt nhắm nghiền, tay ôm bụng. Có lẽ có một cơn đau vừa dạy lên nơi bụng, từ gan… Thuấn luống cuống… Phải ! Chú Khiêu nói phải ! Đau đớn mà đòi sống, đúng là người ngu ! Phải đòi chết cơ, như chú đã đòi ! Có lẽ, cạnh những chân lý năm tháng dài hạn, còn có chân lý phút giây ngắn hạn. Mà cái chân lý phút giây ngắn hạn ấy lại có thể là chân lý vĩnh hằng ! Một màn sương hiu hắt vừa rớt phủ vào Thuấn, anh thấy chú Khiêu vừa mờ đi… Ở đấy, trong cái màn sương hiu hắt ấy, sự háo hức, cái vui hơn hớn, cái kiêu hãnh, những tự xưng giá trị… không dám bước vào, bởi chúng bé mọn quá, tầm thường quá !

Biết làm sao được, Thuấn cũng lại phải an ủi, động viên chú Khiêu với một ý thức rõ, mình đang đuổi trung thực ra khỏi mình :

– Nói thế sao được, hả chú ? Cứ xem lão Phiệt đấy, cũng trầm trọng chí tử liên miên, mua hòm trước có đến ba lần, đều cất đấy chờ mọt ăn. Vậy mà nay vẫn sừng sững chén thịt chó…

Chú Khiêu quay mặt lơ đãng ra cửa sổ, nơi có tiếng hót trong veo, ríu rít của mấy chú chim sâu trong khóm lựu xơ xác. Chú lại nói, giọng yếu ớt :

– Mua hòm trước là… người khôn ! Không mua hòm trước là … kẻ dại ! Chú đã dại ! Chết rồi, ai mua ?

Thuấn lại nín lặng. Cái nín lặng buộc anh nín lặng. Lại cũng ở tầng sâu câu nói ấy, trùng trùng cay đắng oán hờn ! Thì ra, tất cả những gì không phải xương thịt trong chú Khiêu, đã tan vỡ ! Ừ, phải và có thể, chân lý mà không riêng lẻ, là không chân lý nữa rồi ! Làm gì có chân lý ngắn ngày, dài ngày, làm gì có vĩnh hằng, giây phút, có lẽ chỉ có chân lý riêng tư mà thôi ! Lại một màn sương hiu hắt đậm đặc hơn, tiếp xuống ! Câu nào anh thốt ra đều hỏng trước chú ! Ngồi cạnh chú, anh thẫn thờ…

Lúc này, có chú y tá bước vào nhà. Đã tới giờ chích moọc phin giảm đau. Thuấn hỏi vu vơ, không nhìn chú ta :

– Không có ánh sáng à ?

– Tối thui ! Gan trầm trọng !

Nghe thế, Thuấn quay lại, xua tay… Nhưng chú y tá đã cười :

– Chú ấy rõ rồi ! Vợ con chú ấy đã nói vào tai : “ Gan ông đã nát rồi ! ”.

Nghe thế, Thuấn hụt hẫng, đột ngột chơi vơi vào một vùng mênh mông im lặng. Một vùng không tên. Một vùng chết. Một vùng tê liệt… Như một phản xạ, Thuấn nhìn chăm chú vào chú Khiêu. Trên khuôn mặt gần như lần đầu, không có gì xảy ra cả. Cái chết đã là bạn thân quý của chú rồi ! Và, rõ ràng chú chờ người bạn ấy. Không những chờ, mà còn quý người bạn ấy. Một người bạn im lặng âm u, không hình hài vậy mà rộng lớn vô cùng, chân thành thân thiết với bất kể ai, bất kể tuổi nào !

Chú y tá đóng xong mũi moọc phin, xách túi ra về, chẳng nói gì, cũng không chào ai… Rõ ràng là chú ấy không muốn nán lại.

Cõ lẽ đã bớt đau, chú Khiêu thều thào :

– Có ai đưa tôi chai dầu !

Thuấn vội hỏi :

– Ở đâu ? Tôi lấy cho.

Nghe thế, thím Xanh từ góc phòng, ngừng đan thúng, móc trong túi áo chai dầu lèo xanh, quăng đến cho anh. Anh không ngờ thím lại quăng, nên chụp lấy không kịp, chai dầu lèo rớt ngay trên bụng chú Khiêu. Quả là nó rơi trúng ngay vùng gan đau. Mặt chú Khiêu méo mó, xám trắng vàng xanh lẫn lộn, mắt cụp lại, hai hàm răng cắn chặt, quai hàm bạnh ra, cố chịu cơn đau, không cho bật ra một tiếng rên la đau đớn nào ! Thuấn hốt hoảng nhặt chai dầu xanh lên. Anh sững sờ. Chai dầu còn mới nguyên, vỏ giấy chưa bóc, loại dầu xanh Con Ó, giá thị trường khoảng bốn chục ngàn đồng. Cổ họng anh đắng nghét, khô khốc, anh nuốt nước bọt hơi đau, như vừa bị viêm họng. Một tia sáng vừa xoẹt ngang, tia sáng xuất phát từ chai dầu gió xanh : Có lẽ vì có anh, nên thím Khiêu mới quăng ra chai dầu, mà có lẽ cũng vì có anh, nên chú Khiêu mới đòi thoa dầu ! Trong anh, tất cả nhà này đều rơi lả tả, vỡ tung… Làm gì có chân lý chung, riêng, ngắn hạn, dài hạn. Chúng đã thành rác rồi !

Ngay lúc này, vang tiếng chân nặng nhọc bước vào nhà. Đó là anh Nam, con trai chú Khiêu. Anh đang vác một bao lúa trên vai, mồ hôi chảy như suối. Có lẽ, anh ta đã đi vay mượn từ khá xa đem về. Trông anh rất mệt. Anh không chào Thuấn, nhưng Thuấn lại vụt đứng dậy, hỏi một câu ngớ ngẩn đến lợm giọng :

– Sao ? Bác sĩ bảo sao ?

Thuấn biết câu hỏi của mình là câu hỏi thừa thãi, chức năng của nó chỉ là biểu hiện sự luống cuống để thay lời chào vô duyên. Nếu chẳng có ai trả lời, nó sẽ rơi vào lại chính anh, để không biết ném đi chỗ nào ! Anh Nam quăng bịch bao lúa xuống nền nhà, bụi lúa bay vất vưởng. Giọng anh khô khốc :

– Bảo sao à ? Như chiếc xe trành ! Chế chút xăng vào, lại rống lên ! Chờ ra bãi thải !

Câu trả lời anh Nam tuôn ra, mang một sức nặng lạ thường, đã ấn nhẹp Thuấn phịch lại xuống ghế đau điếng ! Đó là sức nặng của một tan rã giá trị, tan rã triệt để ! Anh thần người ! Sao lại thế nhỉ ? Ai bắt anh ta nói câu ấy ? Ai bắt anh ta nói ? Thuấn méo mặt, như có ai đó vừa thọc vào tim…

Vẫn không nhìn ai, anh Nam cởi áo lau mồ hôi mặt, đi thẳng ra hè sau. Thuấn ngơ ngác, nhìn quanh quất căn nhà trống trơn của chú Khiêu. Trên tường nứt nẻ kia, móc một tấm lịch hình ba ông Phúc, Lộc, Thọ cứt ruồi đầy mặt, áo xống loang lổ bụi thời gian, “ lốc ” lịch vẫn còn nguyên không ai xé ! Bên này, xót lại bàn thờ tổ tiên hoang lạnh, nơi có hai túi quà cam sữa của anh chễm chệ như khách quý ! Đột ngột, trong một tích tắc như có một sức mạnh vô hình lôi anh, anh nhoài người về phía ấy để làm một tên tiểu nhân hèn mạt, một gã vô liêm sỉ, một thằng côn đồ táng tận lương tâm, để giật lại hai túi quà đem đi chỗ khác. Đem đi chỗ khác cho dù quăng đi cũng được, bởi thế nào, thím Xanh và anh Nam cũng sẽ ăn ! Nhưng không, một tích tắc qua rồi, anh đã ngồi thẳng lại. Anh đã không làm được ! Cho dù có rứt xé, anh vẫn là anh, một người tên Thuấn ! Cái tên là ngôi nhà của anh, cũng là ngôi mộ của anh ! Rồi cũng thật đột ngột, anh quay nhìn chú Khiêu để xem chú còn hay mất. Chú Khiêu vẫn còn… Chú đang cắn chặt hai hàm răng chú đã lún mất vào nướu, đôi mắt nẹt lửa. Trông chú như vừa run, vừa cười, vừa khóc. Tất cả những cái ấy chú đã nuốt vào bụng, và ngay nơi cái vùng gan đau nơi bụng ! Chú cuộn người như cái lò xo trong sự yên lặng cực kỳ ! Từ người chú, không phát ra bất kỳ một âm thanh nào, cho dù âm thanh hơi thở ! Anh đang xem một đoạn phim câm cực kỳ câm lặng ! Cái nghèo bọc lấy sự hoạn nạn đã bốc khói ! Tại sao bốc khói ? Tại vì những thứ đẹp đẽ đã cháy rồi ! Và, cũng thật đột ngột, anh cũng y như chú Khiêu, răng cắn chặt, quai hàm bạnh ra, môi mím lại, anh vụt đứng dậy, quăng chai dầu gió xanh lại cho thím Xanh, bước nhanh ra khỏi nhà, mang theo một lòng thương kỳ lạ đến ác độc, là thương… tại sao chú Khiêu không chết đi, để ra được khỏi nhà !

Anh loay hoay với lòng thương kỳ lạ ấy, buổi sáng đã biến mất, quên cả thăm bà Mển như chương trình…/.


Ngô Phan Lưu.
Thành phố Tuy Hoà 11/2006

ChickenInternet
28-09-2008, 09:37
các truyện đều rất là hay... sâu sắc, thấm thía...đề cao tinh thần nhân ái, hạnh phúc gia đình mà con người phải trải qua 1 thời gian chung sống với nhau,chia sẻ cho nhau tình thân mới có thể nhân ra đc. cám ơn các bạn đã đăng truyện.... và mong rằng các bạn tiếp tục phát huy ....

ngothanhvan1972
15-10-2008, 22:49
Hay quá cám ơn các anh chị đã sưu tầm và pos (http://hieukinhquangthai.com)t lại

ilangilang
03-11-2008, 00:24
Lâu lâu đọc truyện thấy cũng vui vui

lennel
28-03-2009, 16:11
Buổi sáng biến mất

Giải nhất Truyện ngắn 2006-2007 của báo Văn Nghệ

Xóm Ao hiện có hai người bệnh trầm trọng. Rất nặng. Nặng đến mức, giờ đây cái chết nhẹ ngang bằng hơi thở. Đó là chú Khiêu chồng thím Xanh. Đó là bà Mển vợ lão Sùng. Cả hai đã là trái banh trong chân đội banh Nhà Thương. Đội banh ấy đã cố gắng chuyền nhau, không cho lọt vào “ gôn ” Tử Thần, nhưng đều thất bại, để trái banh bị lủng, và cũng vì đá quá, cuối cùng xẹp hơi… Ruộng rẫy, bò trâu đã bán sạch. Gia đình họ đang trên bờ vực thẳm… Chú Khiêu ung thư gan thời kỳ chót ! Bà Mển ung thư phổi thời kỳ chót ! Chờ chết !
Tổng quát, tình hình là như vậy, bi thảm là vậy. Đó là lý do sáng nay, Thuỳ đưa hai túi ny lông đựng cam sành và sữa hộp cho Thuấn :

– Anh đi thăm họ nhanh lên… Chần chừ sẽ không kịp thăm !

– Họ ăn được gì mà cam với sữa. Tiền tốt hơn.

– Họ ăn bằng mắt.

Thuấn nín lặng trước câu nói của vợ. Phải ! Người sắp chết không ăn gì, nhưng phải có đồ ăn để thấy !

Thuấn xách hai túi cam, sữa, vội vàng ra khỏi nhà, quyết định đến chú Khiêu trước. Anh bước nhanh, tâm trạng bồng bềnh…

Vừa bước chân lên thềm nhà, Thuấn đằng hắng mấy cái… Thấy Thuấn, thím Xanh lật đật bỏ cái thúng đan dở, đứng dậy thoăn thoắt ra cửa, xìa tay đỡ cả hai túi cam và sữa, đặt lên chiếc bàn gỗ tạp xiêu vẹo nơi hiên, miệng phát tía lia như súng liên thanh khạc đạn :

– Chú mày cứ đòi chết, đòi chết, đòi chết… ăn được gì mà mua nhiều thế này, thế này… Cứ đòi chết, đòi chết… không thèm sống, không muốn sống… Cứ đòi chết…

Xổ xong tràng âm thanh khoẻ mạnh ấy, thím nhanh nhẹn chuyển hai túi quà vào đặt trên bàn thờ tổ tiên, đoạn trở lại nơi góc phòng, đan tiếp cái thúng dở dang, dường như Thuấn không có mặt ở đấy, bình thản đến lạnh lùng. Thuấn chưa kịp mở miệng nói gì được. Gặp thím là anh câm luôn !

Chú Khiêu được đặt nằm trên chiếc chõng tre sát cửa sổ không cánh, trông thật hoang vu. Da chú màu vàng pha xanh như màu trái bưởi non. Có mấy chiếc lá vàng bị gió quật bay vào đậu trên ngực chú. Anh kéo chiếc ghế đẩu vuông nhỏ, ngồi cạnh giường. Vừa nhặt mấy chiếc lá trên ngực chú quăng ra ngoài, vừa nói động viên :

– Chú lạc quan lên, coi nào ! Cứ đòi chết, đòi chết… chết thật đấy ! Cái chết mà bực lên nó không tha ai đâu!

Chú Khiêu nhăn nhó, miệng móm riết, nói đứt quãng :

– Sống mà đòi chết là… người ngu ! Sắp chết mà đòi sống… lại càng ngu hơn ! Chú không phải người ngu !

Thuấn sững sờ nhìn chăm chú chú Khiêu. Dường như đằng sau lưng câu nói của chú là một khoảng mênh mông cay đắng. Mà cũng dường như câu nói ấy không phải nói với anh, nó dường như một tảng băng trôi về hướng thím Xanh đang ngồi thản nhiên đan thúng. Khuôn mặt vàng pha xanh hốc hác, đôi mắt lõm sâu không nhìn ai cả của chú Khiêu khiến anh nao lòng. Đôi mắt nhìn vào bên trong, thấy sự tan tành một kiếp người một cách kiên cường tuyệt vọng. Nó ráo hoảnh đến se sắt ! Đột ngột, chú Khiêu oằn người, mặt nhăn riết, mồm méo xệch, mắt nhắm nghiền, tay ôm bụng. Có lẽ có một cơn đau vừa dạy lên nơi bụng, từ gan… Thuấn luống cuống… Phải ! Chú Khiêu nói phải ! Đau đớn mà đòi sống, đúng là người ngu ! Phải đòi chết cơ, như chú đã đòi ! Có lẽ, cạnh những chân lý năm tháng dài hạn, còn có chân lý phút giây ngắn hạn. Mà cái chân lý phút giây ngắn hạn ấy lại có thể là chân lý vĩnh hằng ! Một màn sương hiu hắt vừa rớt phủ vào Thuấn, anh thấy chú Khiêu vừa mờ đi… Ở đấy, trong cái màn sương hiu hắt ấy, sự háo hức, cái vui hơn hớn, cái kiêu hãnh, những tự xưng giá trị… không dám bước vào, bởi chúng bé mọn quá, tầm thường quá !

Biết làm sao được, Thuấn cũng lại phải an ủi, động viên chú Khiêu với một ý thức rõ, mình đang đuổi trung thực ra khỏi mình :

– Nói thế sao được, hả chú ? Cứ xem lão Phiệt đấy, cũng trầm trọng chí tử liên miên, mua hòm trước có đến ba lần, đều cất đấy chờ mọt ăn. Vậy mà nay vẫn sừng sững chén thịt chó…

Chú Khiêu quay mặt lơ đãng ra cửa sổ, nơi có tiếng hót trong veo, ríu rít của mấy chú chim sâu trong khóm lựu xơ xác. Chú lại nói, giọng yếu ớt :

– Mua hòm trước là… người khôn ! Không mua hòm trước là … kẻ dại ! Chú đã dại ! Chết rồi, ai mua ?

Thuấn lại nín lặng. Cái nín lặng buộc anh nín lặng. Lại cũng ở tầng sâu câu nói ấy, trùng trùng cay đắng oán hờn ! Thì ra, tất cả những gì không phải xương thịt trong chú Khiêu, đã tan vỡ ! Ừ, phải và có thể, chân lý mà không riêng lẻ, là không chân lý nữa rồi ! Làm gì có chân lý ngắn ngày, dài ngày, làm gì có vĩnh hằng, giây phút, có lẽ chỉ có chân lý riêng tư mà thôi ! Lại một màn sương hiu hắt đậm đặc hơn, tiếp xuống ! Câu nào anh thốt ra đều hỏng trước chú ! Ngồi cạnh chú, anh thẫn thờ…

Lúc này, có chú y tá bước vào nhà. Đã tới giờ chích moọc phin giảm đau. Thuấn hỏi vu vơ, không nhìn chú ta :

– Không có ánh sáng à ?

– Tối thui ! Gan trầm trọng !

Nghe thế, Thuấn quay lại, xua tay… Nhưng chú y tá đã cười :

– Chú ấy rõ rồi ! Vợ con chú ấy đã nói vào tai : “ Gan ông đã nát rồi ! ”.

Nghe thế, Thuấn hụt hẫng, đột ngột chơi vơi vào một vùng mênh mông im lặng. Một vùng không tên. Một vùng chết. Một vùng tê liệt… Như một phản xạ, Thuấn nhìn chăm chú vào chú Khiêu. Trên khuôn mặt gần như lần đầu, không có gì xảy ra cả. Cái chết đã là bạn thân quý của chú rồi ! Và, rõ ràng chú chờ người bạn ấy. Không những chờ, mà còn quý người bạn ấy. Một người bạn im lặng âm u, không hình hài vậy mà rộng lớn vô cùng, chân thành thân thiết với bất kể ai, bất kể tuổi nào !

Chú y tá đóng xong mũi moọc phin, xách túi ra về, chẳng nói gì, cũng không chào ai… Rõ ràng là chú ấy không muốn nán lại.

Cõ lẽ đã bớt đau, chú Khiêu thều thào :

– Có ai đưa tôi chai dầu !

Thuấn vội hỏi :

– Ở đâu ? Tôi lấy cho.

Nghe thế, thím Xanh từ góc phòng, ngừng đan thúng, móc trong túi áo chai dầu lèo xanh, quăng đến cho anh. Anh không ngờ thím lại quăng, nên chụp lấy không kịp, chai dầu lèo rớt ngay trên bụng chú Khiêu. Quả là nó rơi trúng ngay vùng gan đau. Mặt chú Khiêu méo mó, xám trắng vàng xanh lẫn lộn, mắt cụp lại, hai hàm răng cắn chặt, quai hàm bạnh ra, cố chịu cơn đau, không cho bật ra một tiếng rên la đau đớn nào ! Thuấn hốt hoảng nhặt chai dầu xanh lên. Anh sững sờ. Chai dầu còn mới nguyên, vỏ giấy chưa bóc, loại dầu xanh Con Ó, giá thị trường khoảng bốn chục ngàn đồng. Cổ họng anh đắng nghét, khô khốc, anh nuốt nước bọt hơi đau, như vừa bị viêm họng. Một tia sáng vừa xoẹt ngang, tia sáng xuất phát từ chai dầu gió xanh : Có lẽ vì có anh, nên thím Khiêu mới quăng ra chai dầu, mà có lẽ cũng vì có anh, nên chú Khiêu mới đòi thoa dầu ! Trong anh, tất cả nhà này đều rơi lả tả, vỡ tung… Làm gì có chân lý chung, riêng, ngắn hạn, dài hạn. Chúng đã thành rác rồi !

Ngay lúc này, vang tiếng chân nặng nhọc bước vào nhà. Đó là anh Nam, con trai chú Khiêu. Anh đang vác một bao lúa trên vai, mồ hôi chảy như suối. Có lẽ, anh ta đã đi vay mượn từ khá xa đem về. Trông anh rất mệt. Anh không chào Thuấn, nhưng Thuấn lại vụt đứng dậy, hỏi một câu ngớ ngẩn đến lợm giọng :

– Sao ? Bác sĩ bảo sao ?

Thuấn biết câu hỏi của mình là câu hỏi thừa thãi, chức năng của nó chỉ là biểu hiện sự luống cuống để thay lời chào vô duyên. Nếu chẳng có ai trả lời, nó sẽ rơi vào lại chính anh, để không biết ném đi chỗ nào ! Anh Nam quăng bịch bao lúa xuống nền nhà, bụi lúa bay vất vưởng. Giọng anh khô khốc :

– Bảo sao à ? Như chiếc xe trành ! Chế chút xăng vào, lại rống lên ! Chờ ra bãi thải !

Câu trả lời anh Nam tuôn ra, mang một sức nặng lạ thường, đã ấn nhẹp Thuấn phịch lại xuống ghế đau điếng ! Đó là sức nặng của một tan rã giá trị, tan rã triệt để ! Anh thần người ! Sao lại thế nhỉ ? Ai bắt anh ta nói câu ấy ? Ai bắt anh ta nói ? Thuấn méo mặt, như có ai đó vừa thọc vào tim…

Vẫn không nhìn ai, anh Nam cởi áo lau mồ hôi mặt, đi thẳng ra hè sau. Thuấn ngơ ngác, nhìn quanh quất căn nhà trống trơn của chú Khiêu. Trên tường nứt nẻ kia, móc một tấm lịch hình ba ông Phúc, Lộc, Thọ cứt ruồi đầy mặt, áo xống loang lổ bụi thời gian, “ lốc ” lịch vẫn còn nguyên không ai xé ! Bên này, xót lại bàn thờ tổ tiên hoang lạnh, nơi có hai túi quà cam sữa của anh chễm chệ như khách quý ! Đột ngột, trong một tích tắc như có một sức mạnh vô hình lôi anh, anh nhoài người về phía ấy để làm một tên tiểu nhân hèn mạt, một gã vô liêm sỉ, một thằng côn đồ táng tận lương tâm, để giật lại hai túi quà đem đi chỗ khác. Đem đi chỗ khác cho dù quăng đi cũng được, bởi thế nào, thím Xanh và anh Nam cũng sẽ ăn ! Nhưng không, một tích tắc qua rồi, anh đã ngồi thẳng lại. Anh đã không làm được ! Cho dù có rứt xé, anh vẫn là anh, một người tên Thuấn ! Cái tên là ngôi nhà của anh, cũng là ngôi mộ của anh ! Rồi cũng thật đột ngột, anh quay nhìn chú Khiêu để xem chú còn hay mất. Chú Khiêu vẫn còn… Chú đang cắn chặt hai hàm răng chú đã lún mất vào nướu, đôi mắt nẹt lửa. Trông chú như vừa run, vừa cười, vừa khóc. Tất cả những cái ấy chú đã nuốt vào bụng, và ngay nơi cái vùng gan đau nơi bụng ! Chú cuộn người như cái lò xo trong sự yên lặng cực kỳ ! Từ người chú, không phát ra bất kỳ một âm thanh nào, cho dù âm thanh hơi thở ! Anh đang xem một đoạn phim câm cực kỳ câm lặng ! Cái nghèo bọc lấy sự hoạn nạn đã bốc khói ! Tại sao bốc khói ? Tại vì những thứ đẹp đẽ đã cháy rồi ! Và, cũng thật đột ngột, anh cũng y như chú Khiêu, răng cắn chặt, quai hàm bạnh ra, môi mím lại, anh vụt đứng dậy, quăng chai dầu gió xanh lại cho thím Xanh, bước nhanh ra khỏi nhà, mang theo một lòng thương kỳ lạ đến ác độc, là thương… tại sao chú Khiêu không chết đi, để ra được khỏi nhà !

Anh loay hoay với lòng thương kỳ lạ ấy, buổi sáng đã biến mất, quên cả thăm bà Mển như chương trình…/.


Ngô Phan Lưu.
Thành phố Tuy Hoà 11/2006

acaxomcui
29-03-2009, 03:47
Câu chuyện nó sao sao ấy!?

---------------
Nhớ lúc nhỏ..xem trên báo cũ(trước 75)truyện ngắn (quên tựa)của Henrich Boll-người Đức...hình như truyên nầy được giãi thưởng...chắc Nobel quá!

Mình không nhớ rỏ bởi khi đọc truyện ấy mình nhỏ quá...đọc rồi lại quên(vẩn cứ thế).Tờ báo đăng truyện nầy đâu năm 72 hoặc 73 gì đó.Lúc đó ,mình còn ở ..đâu đâu ,chưa về trái đất nầy.
Mình sẻ tìm thử ,Google tìm dùm mình chứ...Nếu có mình post cho các bạn xem!

[=========> Bổ sung bài viết <=========]

Suốt cả tiếng tìm kiếm nhưng không có kết quả (Google tìm không được).Chỉ cho tựa của truyện ngắn mà mình đọc hồi đó:Câu chuyện ngoài bến tàu của Heinrich Boll.Bạn nào tìm được Post lên xem.Hay lắm!

lennel
29-03-2009, 16:29
Hợp Đồng Của Quỷ

- Nguyễn Danh Lam


- Cậu hãy bám theo cô ta từ địa chỉ này, trước 0 giờ. Sau đó đạp vào mũi xe cô ta, hoặc làm thế nào đó tùy cậu, lúc cô ta chạy qua cầu, nhớ là phải lựa ngay đoạn thanh sắt đã gãy, chỗ tôi sẽ chỉ cho cậu. Số tiền này sẽ thuộc về cậu.



- Thời hạn bao lâu?

- Càng sớm càng tốt. Mà thôi, một tháng được không? Chắc chắn rồi, một tháng, tôi không thể chờ lâu hơn.

- Ông thông cảm, đây là việc tôi không bao giờ nghĩ là mình sẽ làm trong đời. Nhưng...

- Tôi biết, rất biết cái chữ nhưng của cậu. Cậu cần tiền!

- Tại sao ông nghĩ vậy? Trong khi ông chưa hề gặp tôi, chẳng biết tôi là ai...

- Người ta không cần phải lên đến mặt trăng mới biết trên ấy không có nước.

- Mà tại sao ông lại chọn tôi để nhờ việc này?!

- Tôi chọn ngẫu nhiên.

- Ngẫu nhiên? Ngẫu nhiên mà ông biết tôi cần tiền?

- Ai không cần tiền, nào, cậu chỉ cho tôi quanh đây có ai không cần tiền? Tôi biết, cậu có thể nhìn vào mặt tôi và nói một câu cũ rích: Tiền bạc không phải là tất cả! Nhưng tôi nói lại cho cậu nghe: Người ta không thể làm bất cứ điều gì, nếu không có tiền!

***

Đêm cuối thu. Lạnh. Ánh đèn soi rờn rợn mặt nước sâu đen. Anh ném thử một cục đá. Dường như không phải tiếng "tõm" quen thuộc, mà là một âm trầm đục hơn, đó là tiếng "phụp". Như vậy là nước rất đặc. Một đoạn lan can bê tông đã gãy, trơ ra mấy đầu sắt hoen gỉ. Từ đó xuống mặt nước, khoảng cách chừng bốn mét. Một người lộn xuống, cái chất đen đặc dưới kia sẽ nuốt chửng toàn bộ. Y như một nấm mồ được lấp tự động. Và cô ta sẽ chìm.

Mất dấu vĩnh viễn.

Mặt anh đầy nước. Một thứ nước cay cay, nhớt, không rõ là gì. Ngoài lộ, xa tít tắp, có tiếng còi xe cứu thương, âm thanh mồn một, ít ra lúc này cũng là ba giờ sáng. Anh quờ tay. Cái bì thư dày cộm vẫn nằm dưới gối. Một số tiền khiến anh hoảng loạn. Nó vẫn ở đó, tất cả là sự thực. Sự thực như ba đêm rồi trôi qua, anh choàng dậy nửa khuya, vẫn thấy nó ở đó. Cái bì thư đã rã ra, hở cả cạnh, mấy tờ bạc lấp ló.

***

- A lô, công việc của cậu đến đâu rồi? Cái điện thoại xài được chứ? Cậu nghe tôi nói rõ không?

- Cảm ơn, nghe rõ. Hay là...

- Cậu đã cầm tiền của tôi. Việc chẳng thể "hay là" được nữa rồi! Tôi khuyên cậu đừng nghĩ đến việc chạy trốn hay hủy bỏ hợp đồng với tôi. Tôi vẫn còn nhiều cái bì thư như thế, để đưa cho nhiều thằng khác nữa giống cậu. Và đêm trước là cô ta, hôm sau đến lượt cậu. Dòng sông ấy đủ chứa vô số người mà! Hê hề, mà tôi đùa đó...

- Tôi không thích đùa kiểu này chút nào.

- Rồi, vậy không đùa nữa. Bản chất tôi cũng chẳng thích đùa chút nào. Đêm qua cô ấy về lúc mấy giờ?

- Tôi chưa nhận diện được cô ấy. Thật tình tôi đã đứng và chờ, nhưng hình như cô ấy không đến điểm mà ông dặn.

- Rồi cô ta sẽ đến. Cậu đã mất ba ngày trong số ba mươi ngày rồi đó. Tôi dặn lại một lần nữa nhé. Cô ta luôn mặc toàn màu đen. Đấy, đấy chính là lý do tôi chọn cô ta. Tôi thích những gì màu đen.

- Nhưng tôi có dính dáng gì đến màu đen đâu? Sao ông chọn tôi?

- Cậu có màu đen trong mắt, trong não, trong tâm hồn. Thôi, tôi nhắc lại, cậu đã mất ba ngày trong số ba mươi ngày.


***

Anh dừng xe chếch mé điểm đợi. Ánh đèn từ tầng trên hắt xuống xanh rì. Dưới trệt, hai cánh cửa khép chặt, thi thoảng một người lách ra. Phố vẫn đông. Hơn mười giờ khuya, đêm lạnh đẫm, anh vẫn nghe cổ khát cháy. Đẩy xe bằng hai chân, anh ghé một bà già bán nước rau má bên lề đường. Mua một bịch, anh rít hai hơi đã nghe róc róc. Chất đường trong bịch nước càng khiến cổ họng anh khô hơn. Nếu dò hỏi bà già để tìm kiếm thêm thông tin, anh biết là một việc ngu xuẩn. Bà ta đã thấy rõ mặt anh. Anh nổ máy, cho xe lao đi thật nhanh, như chỉ là một khách qua đường. Đảo một vòng, anh quay lại lề bên kia, tìm một vị trí để bà già bán nước rau má khỏi thấy mặt.

Mười một giờ hơn, cô ta xuất hiện. Một bộ đen tuyền từ trên xuống dưới. Sắc đen khiến anh rùng mình. Có một tiếng động lanh lảnh như tiếng kim loại va vào nhau vang lên từ vô thức, khiến anh co rúm người. Cô ta đi một mình. Anh tính trong đầu khoảng thời gian chạy xe từ đó đến đoạn cầu có lan can gãy. Khoảng nửa tiếng. Như thế là gần 0 giờ. Nếu đêm nay là đêm trừ tịch, một con người sẽ rụng xuống dòng sông ngay cận phút giao thừa. Anh tin, đó là những phút đậm đặc tính chất ma quỷ, trước khi một ngày mới bắt đầu. Anh sẽ trộn mặt mình vào đám ma quỷ ấy, có lẽ thượng đế sẽ khó lòng nhận diện anh hơn?

Cô ta đảo mắt nhìn lại phía sau, cho xe quành sang lề đường bên kia. Anh giật choàng mình thêm lần nữa. Điểm cô ta tấp vào chính là cái thùng của bà già bán nước rau má. Cho đến lúc ấy anh mới ngẫm ra, dường như có một sự quái đản nào đó. Một bà già bán nước rau má bên lề đường, vào lúc nửa khuya của một đêm cuối thu se lạnh. Chất nước khi nãy dâng lên cổ họng anh, sền sệt tanh. Anh nuốt vội xuống một ngụm hơi, đẩy tất cả trở lại vị trí cũ. Hai bàn tay lớp nhớp, anh chùi xuôi mé đùi.

Cô ta không uống rau má, mà nói đôi câu gì đó với bà già. Gương mặt trắng trên cái cần cổ cũng trắng xoay dọc con đường. Anh ngẩn người trên yên xe. Cô ta quá đẹp. Một sắc đẹp trẻ thơ. Thời gian dường như chưa bao giờ ngưng tụ một giây phút nào trên ấy. Nó trong suốt. Cô ta lại đảo xe. Anh hụp vội xuống nhìn mặt đường. Tia đèn lia ngang tầm ngực anh. Không thể ngăn được một cái ngước lên, ánh mắt anh va phải mắt cô ta. Ánh đèn phía đuôi xe lừ lên trong khoảnh khắc cô ta bẻ cua nơi ngã tư. Anh vẫn chưa kịp nổ máy.

***

- Đêm nay tình hình thế nào rồi, anh chàng của tôi?

- Tôi đã nhận diện được cô ấy.

- Tốt lắm. Nhưng mới chỉ nhận diện thôi sao? Mà có đúng là cô ta không?

- Căn cứ theo những điều mà ông mô tả, địa chỉ ấy, giờ giấc ấy, trang phục ấy... Tôi tin đó đúng là cô ta. Nhưng...

- Cậu lại nhưng nữa rồi...

- Nhưng có chắc đó là người mà ông muốn...?

- Nếu không muốn, tại sao tôi lại phải thuê cậu? Tôi dùng chữ thuê thẳng thừng nhé.

- Tôi muốn biết, nhất định phải biết điều này, tôi mới làm theo những gì mà ông cần: Tại sao ông lại muốn làm thế với cô ta? Cô ta nợ ông điều gì?

- Tò mò không phải là đức tính của người làm những công việc thế này. Có điểm nào đó ở cô ta khiến cậu chùn tay chăng?

- Ít ra, tôi cũng thấy đó là một vẻ mặt rất ngây thơ.

- Tôi đã đoán trước điều này. Đó là sai lầm của cậu. Và đến lúc tôi cần phải cảnh cáo chính thức với cậu. Cậu nhìn thấy vẻ ngây thơ nơi cô ta, vậy là cậu chùn tay. Và cậu sẽ là người thay thế cô ta đấy!

- Trời ơi, sao lại là tôi? Sao lại là tôi? Ông thật là quái đản!

- Tôi đoán, cậu còn muốn dùng nhiều từ ngữ nặng nề hơn nữa. Cậu muốn nguyền rủa tôi là con quỷ đội lốt người? Nhưng tôi còn thua xa quỷ! Mà thôi, cứ cho tôi là quỷ đi. Vậy, con xúc xắc trong tay tôi đã lăn vào cửa cậu, nghĩa là cậu phải làm! Thế nhé. Cậu đã mất thêm một ngày nữa rồi đấy.

***

Anh đập mạnh vào hai cánh cửa kéo, miệng thì thào qua khe hở:

- Làm ơn... Tôi muốn mua rượu!

Trong nhà có giọng càm ràm:

- Sáng mai rồi mua, giờ không bán nữa.

Ba bốn cánh cửa đều như thế. Anh quyết định vòng xe lại bãi chợ. Đoạn đường khá xa, nhưng nếu trở về với cái đầu chưa mụ đi bởi hơi men, anh biết mình không thể nào thiếp đi được.

Anh gọi một chai thứ rượu hạng bét, màu nhờ nhờ, mùi hăng hắc. Thứ rượu dành cho cánh phu xe nửa đêm về sáng, chẳng biết người ta bỏ những gì trong đó. Giờ này, chốn này, chỉ có loại rượu ấy.

Với số tiền còn để trong cốp xe, anh thừa mứa để có hàng trăm đêm khướt ra với những món đốt đời, hoặc làm người ta lịm đi. Nhưng nó khiến anh hoảng sợ mỗi lần nghĩ tới. Tuy nhiên, để nó ở nhà anh lại chẳng yên tâm. Thành thử hễ anh đi đâu, nó theo đó, ngay ngáy như một khối thuốc nổ dưới yên ngồi. Giá một chút nữa đây, trong phút lảo đảo trên đường về, có kẻ nào đó biết khối tài sản dưới cốp xe anh, chặn lại, lủi cho anh một dao vào ngực. Thế mà lại nhẹ nhàng.

Cô ta xuất hiện. Như một nghi thức, đảo xe vòng sang chỗ bà già bán nước rau má. Và không hề uống. Mưa đổ lây rây. Khuôn mặt trắng tái dưới chiếc mũ trùm đầu của áo mưa. Một cái áo mưa đen. Phố vắng hơn đêm trước, cũng mười một giờ hơn. Anh thụt xe vào một con hẻm gần đó, mũi xe hướng ra. Cô ta vừa vút qua, anh nổ máy, bám theo. Phía trước, cách chừng trăm mét, cái đèn lái đôi lúc nháy lên, đỏ rợn.

Một mình, nhưng anh có cảm giác đang đứng giữa sân vận động đã tắt đèn, nơi tâm điểm của vòng tròn chính giữa sân. Xung quanh, khán giả vẫn yên vị, dõi mắt xuống. Tất cả đều câm lặng. Một phần mười triệu con mắt như một bầy cá rỉa vào gáy anh đang nổi bập bềnh.

Anh trôi. Sau đuôi ánh đèn xe ma ám. Cây cầu hiện ra, mưa xiên xiên, vàng vọt, càng lúc càng nặng hạt. Anh nghiến răng tăng ga. Hai chiếc xe đã song song. Khuôn mặt dưới áo mưa như chờ sẵn, hướng sang anh. Một nụ cười. Anh lảo đảo, tay lái bên trái đập mạnh vào thành cầu. Chiếc xe gấp vuông trước khi lết ngang mặt xi măng. Nước tóe lên. Một tiếng két của thắng xe. Cô ta ngoảnh lại:

- Xin lỗi, anh có sao không? Tôi không hề va chạm với anh mà.

Anh như nghe thấy trong đầu gối có tiếng rào rạo. Ba bốn chiếc xe khác cùng lao lên mặt cầu:

- Mưa thế này, đường trơn lắm...

- Anh có sao không? Có cần đưa vào bệnh viện không?

Cô ta bước hẳn xuống xe. Gương mặt trắng lạnh cúi xuống mặt anh đang nhăn nhó vì đau. Một người hỏi:

- Anh ấy là bạn cô phải không?

- Vâng, bạn tôi. Mọi người cứ đi. Chúng tôi thu xếp được.

Anh cắn chặt môi dưới, dựng xe lên, quên cái đầu gối chắc chắn không được ổn.

- Cái này của anh phải không?

Bàn tay trắng muốt chìa ra. Anh suýt chúi xuống thêm lần nữa. Khi chiếc xe lật ngang, gói tiền đã văng ra khỏi yên xe mở bung.

- Vâng, của tôi, của tôi! Cảm ơn cô.

- Anh có chắc là sẽ chạy xe về nhà được không?

- Tôi không sao... Cảm ơn cô.

Thêm một nụ cười. Cái đuôi xe đỏ nhòa dưới những vạt mưa đan dày

Anh ngồi chờ cuộc gọi như thông lệ. Ba mươi phút trôi qua. Máy báo tin nhắn "Cau da mat them mot ngay nua". Toàn bộ xương cốt hóa lỏng, trôi tuột ra khỏi cơ thể anh. Bàn tay run bắn, anh bấm phím gọi lại:

- Sao ông biết tôi chưa làm gì cô ta đêm nay? Ông cho thêm kẻ theo dõi tôi à?

- Có cần phải làm thế không? Chẳng phải cậu đã bảo tôi là quỷ sứ sao? Quỷ sứ thì có gì là không biết chứ.

- Đúng, ông là đồ quỷ sứ. Tôi sẽ không thực hiện hợp đồng này nữa. Mặc xác ông với trò chơi quái gở này. Đêm mai, ông hãy gặp để tôi trả lại số tiền. Tôi vẫn giữ nguyên đây. Nếu ông không gặp, tôi sẽ ném nó xuống sông, ngay vị trí ấy... Xem ông làm gì được tôi...

- Cậu cứ làm thế đi. Khi cậu nói ra như thế, cậu sẽ chẳng dám làm đâu.

Chỉ còn lại những tiếng tút dài.

Tấm thân anh đổ ập xuống, cả cơ thể bốc hơi nghi ngút. Đám nước mưa bay lên từ bộ đồ ướt sũng, từ chiếc đầu gối rần rật.

Đêm ấy, anh lên cơn sốt. Một mình.

***


Suốt ba ngày liền anh không ra khỏi nhà. Trong cơn mê man, anh vẫn nằm chờ một cú gọi lại, hoặc một cái tin nhắn. Chiếc điện thoại vẫn im lìm. Nếu không có những cơn sốt liên tục ập đến, vùi anh vào trạng thái mê mị, chắc chắn anh đã đập đầu vào tường trong một khoảnh khắc cùng quẫn nào đó. Hắn ta đã chán cuộc chơi? Hắn ta tạm buông tha anh ít ngày, trước khi bước vào đợt khủng bố mới? Hay đơn giản nhất, hắn biết thừa tình trạng của anh lúc này và bỏ mặc anh?

Trước sau gì, thời hạn vẫn còn đó, anh chẳng thể chạy đâu cho thoát, hoặc là anh, hoặc cô ta. Giả thiết một, nếu cô ta bị thanh toán đúng như hợp đồng, sẽ có hai kẻ đạt được mục đích: hắn và anh. Hắn thì dĩ nhiên rồi, phần anh với số tiền ấy dư sống cả một đoạn đời dài. Cô ta thì sao? Chẳng sao cả. Một cái bản lề lật qua, sau khi lộn xuống dòng sông, nếu là thiên thần, cô ta sẽ bay lên. Còn giả thiết hai, nếu anh bị thanh toán, sẽ chẳng ai đạt được mục đích cả. Ngay cả cô ta, hiểm họa vẫn nguyên đấy. Và một kẻ khác, anh không biết mặt, tiếp tục được cục xúc xắc trong tay hắn lăn tới. Bi kịch vẫn tiếp diễn.

Coi như định mệnh đã chọn mình, anh không đập chiếc điện thoại vào tường, không đem số tiền ném xuống dòng sông, không tiếp tục những lời lẽ thách thức nữa. Ngay sau trận sốt này, khi anh đủ sức dắt xe ra khỏi nhà, hợp đồng sẽ được thanh lý. Đó là một cách để anh chiến thắng hắn, chiến thắng chính mình.

***

- Tại sao suốt mấy ngày qua ông không gọi cho tôi?

- À, chàng trai trẻ. Cậu đã dứt sốt rồi phải không?

- Ông biết tất cả? Hừ, quỷ sứ, đúng là quỷ sứ. Tôi chấp nhận trò chơi này của ông. Có thể lắm, sau khi đẩy cô ta xuống sông, ôm trọn số tiền, tôi sẽ trích ra một phần tư, mướn một kẻ khác đẩy ông xuống vị trí ấy.

- Một ý tưởng rất độc đáo, vô cùng độc đáo. Cậu dọa tôi đấy à?! Nhưng cậu có tin là tôi vẫn đợi một ngày, có kẻ dám làm như thế với tôi không? Nhưng hiện tại nó vẫn chưa đến. Vậy là tôi vẫn phải làm công việc này. Cụ thể là bản hợp đồng với cậu. Cậu vẫn nhớ rõ số ngày còn lại của mình đấy chứ?

- Tôi nhớ rõ. Ngay đêm nay, hợp đồng sẽ được thanh lý. Sau đó, với số tiền, tôi sẽ giúp ông đạt ý nguyện, bị một kẻ nào đó đẩy xuống sông.

- Tốt lắm chàng trai trẻ. Theo tôi biết, cô ta vẫn chưa thay đổi thời gian biểu, lịch trình. Chúc cậu thành công.

***

Không phải một đêm mưa sụt sùi như lần trước. Mặt trăng thanh khiết, sáng lặng lẽ qua khe hở những tòa nhà và tàn cây. Anh quên tính đến khả năng này. Ánh trăng sẽ soi tỏ cả đoạn cầu, lúc sự việc xảy ra. Thật bất lợi cho anh. Nhưng anh chấp nhận tất cả, như một cuộc chơi, một định mệnh, một trò gieo xúc xắc.

Bộ đồ đen hiện ra bên kia đường. Nếu không có ánh đèn, anh tin đó sẽ là gương mặt được tưới đẫm trăng, nổi lên trên sắc đen huyền bí ấy. Một họa sĩ có thể thay hai cánh tay của cô ta bằng một đôi cánh. Nó sẽ vỗ phía trên những đám mây ngũ sắc, hay một cái phông đầy cỏ non, thế là hoàn hảo hình tượng một thiên thần. Thiên thần không giới tính, thiên thần chỉ mang nét mặt trẻ thơ, quả đúng là gương mặt mà anh đang dõi mắt nhìn lúc này đây. Nhưng đã nhận hợp đồng với quỷ, anh sẽ thuộc về phía quỷ, sát hại những thiên thần.

Cô ta chạy chậm. Thong dong. Thật hợp cảnh với một đêm trăng yên bình. Ánh đèn sau đuôi xe không còn bầm lên một sắc đỏ rờn rợn như những đêm trước. Nó như một vì sao bản mệnh, chỉ cho anh con đường phải đi tới. Anh giữ một khoảng cách vừa đủ. Với vận tốc này, thời gian đến cây cầu sẽ trễ hơn. Càng tốt cho anh. Đúng vào phút giao nhau giữa ngày và đêm, 0 giờ, anh sẽ lách qua khe hẹp của mọi phán xét. Ngay cả tội ác cũng có khoảnh khắc thích hợp cho nó.

Cây cầu hiện ra. Bạc trắng ánh trăng. Xa nhà cửa. Xa con người. Gió rười rượi vuốt vầng trán anh bằng những sợi tóc. Cô ta bắt đầu tiến đến chân cầu. Anh cho xe thu ngắn khoảng cách. Cái đoạn lan can gãy quá đỉnh cầu một chút. Khi xe anh bắt đầu lên cầu, trên đỉnh cầu, cô ta đột nhiên dừng lại. Anh đạp thắng chúi nhủi, vờ quay lại sau quan sát bánh xe, như vừa cán phải vật gì đó.

Cô ta dựng xe, bước xuống, tiến lại phía lan can. Anh dừng hẳn, vờ lúc lắc chiếc xe, trong khi mắt vẫn không rời mục tiêu bằng một cái nhìn nghiêng nghiêng. Bóng trang phục đen nổi bật dưới màu trăng sáng lóa trên đỉnh cầu. Cô ta vịn lan can, mặt hướng ra sông, gió thổi ngược mái tóc. Anh quyết định bước xuống, dắt bộ chiếc xe, tiếp cận mục tiêu. Lúc này, anh cho phép mình nhìn cô không rời mắt. Như cái nhìn ngẫu nhiên, tò mò của chàng trai nhìn một cô gái đẹp nửa khuya ra đứng trên cầu...

Khi anh chỉ còn cách mục tiêu trên chục mét, cô ta bỗng rời bước, lững thững bước về phía đoạn lan can bị gãy, ánh mắt tò mò nhìn xuống mặt sông. Chỉ cần anh quẳng thật nhanh chiếc xe sang một bên, hợp đồng sẽ được thực hiện nhanh gọn đến không ngờ. Khoảng cách chỉ còn vài sải tay. Đúng lúc ấy, có tiếng máy xe tiến lên cầu. Anh ngoảnh lại. Một ánh đèn. Việc sẽ bị chậm lại khoảng vài chục giây. Chẳng sao. Anh tiếp tục đẩy xe tiến sát mục tiêu. Khi đã nhìn rõ mặt cô ta, anh dừng lại, thở dốc. Dắt chiếc xe vẫn nổ máy, để số, lên đến đỉnh cầu làm anh cũng thấm mệt.

Cô ta quay lại nhìn anh. Một nụ cười. Vẫn nụ cười ấy. Anh có cảm giác cô ta đã quen anh từ lâu lắm, trước cả cái đêm xảy ra vụ té xe nọ.

- Chào anh. Hình như anh thường đi làm đêm về giờ này? Cái chân anh đã khỏi hẳn chưa?

- Cô... cô vẫn nhớ tôi sao?

- Nhìn chiếc xe anh tôi nhớ ra. Chẳng phải nó vẫn bị trầy hết một bên sao...

Anh gạt chống xe, thở hắt ra một hơi. Ánh đèn xe khi nãy vụt qua. Cô ta nheo mắt nhìn theo, nở một nụ cười vu vơ. Dường như thường trực trên môi cô ta là những nụ cười như thế. Một nụ cười tươi nguyên, nở cận kề phút giây định mệnh. Hình như lòng anh hơi chao đi tí chút.

Không được, anh nghiến chặt răng, liếc nhanh đoạn lan can gãy, trong lúc ánh mắt cô ta còn dõi theo chiếc xe vừa qua cầu. Khoảng sông đen ngòm ngay sau lưng cô ta. Anh tiến lại, vờ lững thững dòm xuống. Cô ta hưởng ứng, dù tỏ ra đôi chút sợ sệt, tay vẫn bám mấy cọng sắt gỉ hở ra nơi đầu lan can. Anh tỏ vẻ an nhiên, một chân đá đá đoạn sắt gãy:

- Nguy hiểm quá. Sao người ta không sửa lại đoạn gãy này...

Câu nói của anh bị cắt ngang bởi một cú đẩy rất mạnh từ phía sau. Người anh xoay một vòng, tay kịp chụp cái mép lan can gãy. Thêm một cái đạp nữa. Khoảnh khắc cuối cùng, anh thấy mặt trăng sáng rực qua vai áo đen. Một gương mặt cũng đen, ngược sáng với ánh trăng.

Cú rơi đậm đặc, không vọng một thanh âm.

Mặt cầu vắng ngắt. Gió lùa một mảnh giấy vụn bay là là dưới trăng, trước khi đáp xuống mặt nước. Sắc trắng của mảnh giấy nhòa dần.

***

- A lô, ông đấy phải không?

- Thế nào, cô gái?

- Hợp đồng đã được thanh lý.

- Xin chúc mừng cô. Tôi thấy tất cả rồi. Đẩy luôn cái xe xuống sông đi nhé. Cô thật tuyệt vời!
.

vtdia
29-03-2009, 20:44
Đánh dấu vào đây lúc nào rãnh ngồi đọc

lennel
05-04-2009, 22:28
Nàng rẽ trái, chàng rẽ phải...




Mùa đông năm ấy đặc biệt giá lạnh, cả thành phố chìm trong biển mưa phùn. Trong không khí mờ mịt, không ánh mặt trời, một nỗi buồn tiếc mơ hồ thường xâm chiếm tâm hồn khách bộ hành đi dưới những hàng cây khẳng khiu dọc phố.




Cơ Mễ (Trang Hạ dịch)

Ngày mùng 6 tháng 10, trời hửng nắng.

Cô sống trong một căn phòng trên toà chung cư cũ kỹ phía ngoại ô thành phố. Mỗi khi ra phố, bất kể đi đâu cô cũng giữ thói quen ra đến cửa, liền rẽ trái.

Anh sống trong một căn phòng trên toà chung cư cũ kỹ phía ngoại ô thành phố. Mỗi khi ra phố, bất kể đi đâu anh cũng giữ thói quen ra đến cửa, liền rẽ phải.



Ngày 15 tháng 10,

mặt trời bị che lấp sau những đám mây chất ngất, ánh sáng trong những căn phòng cũng chập chờn.

Họ từ trước đến nay chưa từng gặp nhau.

Ngày 28 tháng 10, trời hửng nắng.

Dạo gần đây anh sống chật vật. Đôi khi buổi tối, anh đến những quán ăn thượng lưu trong thành phố kéo đàn, kiếm thêm chút thu nhập ít ỏi.

Ngày 7 tháng 11, trời u ám ẩm ướt.
Có một nỗi buồn nhẹ nhàng len tới mỗi khi mùa đông quay trở lại. Những lúc không luyện đàn, anh thích lang thang ngoài phố, lượn qua công viên thành phố chơi cùng đàn bồ câu, có khi ngồi lại đó cả chiều.

Ngày 11 tháng 11

, buổi chiều, gió bắt đầu trở từng cơn lạnh lùng.

Có lần anh cảm thấy tâm hồn rã rời, trống trải.

Ngày 19 tháng 11,


mặt trời mùa đông ngả xuống những cái bóng thật dài, thật dài.

Cô vẫn quen chân rẽ trái, anh vẫn quen chân rẽ phải, họ chưa từng gặp nhau trong đời.

Ngày 23 tháng 11,

ngày thật ngắn, chưa đến 5h chiều, trời đã tối.

Cô đang dịch một tiểu thuyết buồn, cuốn sách khiến cô cảm thấy thế giới quanh tràn một màu xám ảm đạm.

Ngày 2 tháng 12,

những đám mây đồ sộ chất ngất phương xa chậm chạp kéo tới bầu trời thành phố.

Những khi không làm việc, cô thích vào thành phố tìm một quán cà phê, tản bộ trên phố, nhìn dòng người qua lại, hay ngồi xuống trò chuyện cùng con mèo hoang trên vỉa hè.

Ngày 10 tháng 12,

mặt trời ló ra.

Trong phòng đầy hơi nước. Có khoảnh khắc cô đơn nhìn mình trong gương, cô đột nhiên cảm nhận dư vị cả một cõi người.

Ngày 17 tháng 12,

trời hửng nắng.

Cô vẫn quen chân rẽ trái, anh vẫn quen chân rẽ phải, họ chưa từng gặp nhau trong đời.

Ngày 20 tháng 12,

hình như trời sắp mưa.

Họ cũng như hàng nghìn vạn người trong thành phố ấy, cả đời sống bên nhau, nhưng cả đời sẽ không bao giờ gặp được nhau... Tuy nhiên, cuộc đời đôi lúc cũng có bao nhiêu tình cờ. Một ngày, hai đường thẳng song song đã cắt nhau...



Ngày 22 tháng 12,

mặt trời ngượng nghịu ló ra, những đám mây đen dầy đặc giấu mình trên đỉnh núi xa xa.

Hôm đó, họ đã gặp nhau bên đài phun nước giữa công viên.
Họ giống như những người yêu đã thất lạc nhau nhiều năm trong đời.
Mùa đông vì sao không còn buồn bã cô đơn?
Anh ở bên cô trong suốt một buổi chiều hạnh phúc và ngọt ngào.
Lúc hoàng hôn, trời chợt đổ một cơn mưa dữ dội.
Họ vội vã ghi số điện thoại của nhau, rồi vội vàng chia tay trong cơn mưa.
Anh, theo thói quen, lại chạy bổ về bên phải...
Cô, theo thói quen, cũng vội vã chạy về bên trái...
Cơn mưa làm họ lạnh buốt và ướt đẫm, nhưng trái tim cả hai nóng bừng lên vì hạnh phúc.
Đêm ấy, cả anh và cô đều thao thức... Mưa, từng giọt, từng giọt rả rích rơi suốt đêm dài...

Nhưng... cuộc sống cũng ẩn giấu bao nhiêu bất ngờ, buồn rầu...
Con diều gió ta từng nắm trong tay bỗng một hôm đứt dây giữa trời....

Ngày 23 tháng 12,

gió lạnh đột ngột tràn vào lòng thành phố, nhiệt độ buổi sáng tụt xuống rất thấp.

Những tờ giấy nhỏ bé ướt sũng ghi số điện thoại chiều mưa qua đã nhoè hết chữ.



Ngày 24 tháng 12,
mưa rơi không ngớt trong suốt đêm Giáng sinh.

Cô ở lì trong nhà vì sợ sẽ bỏ lỡ một cuộc điện thoại từ...
Anh chằm chằm nhìn nét chữ số nhoè nhoẹt mờ mịt, với những cuộc gọi nhầm số bất tận...
Tình yêu.... đang ở đâu?

Ngày 31 tháng 12,

trời lạnh như cắt, giá rét quẩn quanh trong căn phòng, mưa vẫn tiếp tục rơi rả rích....

Anh và cô đều thao thức đến rã rời trong những căn phòng... Từ trong radio vọng tới tiếng nói cười náo nức của đám đông tụ tập trên quảng trường trước toà nhà thị chính, đếm ngược theo từng giây còn lại của năm cũ. Thế là một năm lại đã qua đi.

Ngày 5 tháng 1,

buổi chiều đưa tới từng cơn gió lạnh như châm vào da thịt.

Giá rét lại tràn về quanh đây...

Ngày 12 tháng 1,

cuối cùng trời cũng hửng lên, ánh mặt trời lấp ló, nhưng nhiệt độ lại hạ xuống thấp...

Thành phố thay đổi quá nhanh khiến con người phải kinh ngạc. Bồn phun nước trong công viên đã biến thành công trường xây dựng cầu vượt cao tốc.

Ngày 1 tháng 2,

trời ấm lên, dù còn đầy hơi giá.

Anh đầy hy vọng, nhủ thầm có lẽ giống như một tình huống trong phim, tại một góc ngoặt đầu phố, hay trong quán cà phê ngoài công viên kia, anh sẽ gặp lại được cô.

Ngày 14 tháng 2,


đêm của Lễ tình nhân Valentine, những ngôi sao thưa thớt sáng trên trời đêm.

Trên con phố lạnh lùng cô đơn, khi những bóng đèn nhiều màu mắc quanh vòm cây khô cuối phố vui vẻ sáng lên, cô đã không kìm được lòng mình, bật khóc.

Ngày 25 tháng 2,

những lớp mây mỏng tang bao phủ bầu trời một màu xám, mông lung như khói.

Cô vẫn quen chân rẽ trái, anh vẫn quen chân rẽ phải.



Ngày 28 tháng 2,


hoa đỗ quyên bên đường nở rộ, nghe nói trong núi, hoa anh đào cũng đã mở cánh rồi.

Ngày nối ngày lặng lẽ.
Họ chưa từng gặp lại nhau.

Ngày 9 tháng 3,



không khí tràn ngập hương thơm cỏ non, mùa xuân đến thật rồi.

Họ vẫn đi về giữa dòng người lặng lẽ, nhớ vô cùng buổi chiều gặp gỡ ngắn ngủi song tràn ngập hạnh phúc ấy.

Ngày 23 tháng 3,


cuối ngày trời ấm hơn, buổi tối, trăng lên trong veo giữa đám sao lấp lánh.

Giữa thành phố vừa quen vừa lạ, anh và cô tìm kiếm vô vọng hình bóng vừa xa xôi vừa gần gũi của nhau.

Ngày 30 tháng 3,

mùa mưa đã đến.

Những cơn mưa làm cô nhớ tới anh.
"Sao cô ấy có thể biến mất không dấu vết trong thành phố như thế?", anh tự nhủ.

Ngày 13 tháng 4


, mưa ngớt.

Xa xa, chim bồ câu lượn vòng bay trên bầu trời thành phố. Anh cũng muốn bay được như đàn chim kia để tìm tới bên cô.



Ngày 9 tháng 5,


bầu trời hoàng hôn ửng màu cánh hoa hồng, chuyển dần thành màu xanh thăm thẳm của ngọc bích.

Cô thích ngồi một mình trầm tư, ở một góc thành phố trên cao.

Ngày 18 tháng 5,


chiều tối, gió nam thổi tới nhè nhè. Mặt trời đỏ lừ chậm rãi trôi xuống chân trời... Mùa hạ đến gần.

Sao những ngọn nến chấp chới trong đêm cứ khiến người ta hoài nhớ, nhớ một cách trống trải?

Ngày 9 tháng 6,


từng đám mây lớn nặng nề chất đống, bất động giữa không trung.

Trong lòng có nỗi niềm gì vô cớ, cô buồn bã ngoái nhìn nỗi cô đơn của mình.

Ngày 20 tháng 7,

đêm sau cơn giông, ánh trăng vô cùng rạng rỡ.

Thành phố như một mê cung khổng lồ, không nghe được tiếng gọi, không tìm ra phương hướng.

Ngày 19 tháng 8,

đêm trước cơn giông, những tầng mây trôi vùn vụt.

Họ oán trách thành phố với bầu không khí ngầu đục, những ngả đường vỡ vụn, những ngã tư đèn đỏ quá lâu, những chuyến xe bus hay bỏ bến.

Ngày 31 tháng 8,

một chú ong mật bay lạc vào phòng anh, đập cánh mù quáng trước lớp cửa kính trong veo.

"Anh vẫn còn trong thành phố này chứ? Hay anh đã rời đi từ rất lâu?"



Ngày 5 tháng 9,

trời ngột ngạt hơi nóng.

Trong người khó chịu, họ cùng trêu chọc một con mèo con lông vàng, cùng cho một con chó hoang ăn, cùng nghe một chú chim hót trong ánh bình minh mới rạng.

Ngày 24 tháng 9,

buổi sáng có thêm một lớp sương mỏng, nghe nói lá phong trong núi đã đỏ rồi.

Họ nhìn ra cùng một khung trời ngoài cửa sổ chung cư, cùng ngửi một làn hương, cùng nghe thấy người hàng xóm tập chơi hoài một bản nhạc của Chaikopski.

Ngày 5 tháng 10,


không khí mát dịu.

Lá trong công viên dần nhuộm màu vàng rực. Anh và cô dạo qua cùng một con đường nhỏ trong công viên, cùng dẫm lên một lớp lá vàng khô giòn.

Ngày 15 tháng 10,


trời mùa thu vô cùng dễ chịu

Một quả bóng bay màu vàng trôi ngang song cửa. Họ cùng thơm một đứa trẻ. Cùng nhìn thấy chiếc mũ bông màu xanh của đứa trẻ có gắn đôi tai thỏ dài rất đáng yêu.

Ngày 26 tháng 10,


gió thổi, lá rụng đầy nền đất.

Trong ký ức của anh và cô chỉ còn đọng lại hình ảnh mẩu giấy ướt nhẹp của buổi chiều mưa ấy và số điện thoại nhoè ướt.

Ngày 8 tháng 11,

ngày có nắng.

Nến cô đơn trên chiếc bánh sinh nhật trong phòng cô, in lên tường một cái bóng màu tím chậm rãi đung đưa. Cô nghe thấy bên hàng xóm vẳng tới tiếng vĩ cầm, đang chơi một bản nhạc rất buồn...

Anh nhớ ra hình như hôm nay là sinh nhật cô. Cây vĩ cầm trên vai anh nức nở khe khẽ. Ngoài cửa sổ là ánh trăng. Không biết giờ em đang ở nơi nào?

Ngày 19 tháng 11,


hơi thở mùa đông ngày càng gần.

Nỗi nhớ ngày càng mơ hồ, dường như tình yêu ấy chưa từng đến trong đời anh?



Ngày 30 tháng 11,


nửa khuya, ánh trăng xanh xao, lạnh lẽo soi một góc sân thượng chung cư.

Họ đều nhận được từ tay cùng một ông bưu tá, lá thư của bạn thân nơi phương xa.

Ngày 6 tháng 12,

trời rét căm căm.

Họ ở gần nhau đến thế, mà sao lại xa nhau vời vợi?

Ngày 17 tháng 12,

lại một ngày không thấy ánh mặt trời, không thấy trăng, không thấy tinh tú.

Thành phố giống một nhà tù khổng lồ không tường bao quanh, làm con người cảm thấy ngạt thở, rã rời...

Ngày 22 tháng 12,

mưa phùn rơi như vĩnh viễn không ngưng nữa.

Cô quyết định chia tay thành phố hoang vu này.
Anh quyết định du lịch đến một thành phố đầy nắng ấm.

Ngày 23 tháng 12,

tuyết bắt đầu rơi, thành phố đã bao nhiêu năm nay không hề có tuyết rơi.

Anh, theo thói quen, ra khỏi cửa là rẽ phải.
Cô, theo thói quen, ra khỏi cửa là rẽ trái.
Tuyết rơi lẳng lặng trên phố.
Ở bến xe bus trên quảng trường trước khu chung cư, anh bất chợt nhìn thấy...
Ở bến xe bus trên quảng trường trước khu chung cư, cô cũng bất chợt nhìn thấy...

Ngày 24 tháng 12,


tuyết rơi dày đặc, chuyến xe bus đi về phía tiếng hát Giáng sinh an lành đang vọng tới.

Nhưng hai hành khách ở lại.

Ngày 31 tháng 12,

tuyết ngừng rơi, trời ấm.

Trên quảng trường trước toà thị chính, người ta chen chúc trong biển người điên cuồng vui sướng, hò reo đếm theo từng giây đổ ngược của năm cũ cho đến 0 giờ 0 phút 0 giây. Người ta ôm chặt nhau trong giây phút hạnh phúc của một mùa xuân mới.



Ngày 6 tháng 3,


trời hanh nắng, mây lơ đãng trên tầng không.

Hai căn phòng cô đơn trên khu chung cư cũ kỹ ở ngoại ô được mở sang nhau. Mây bay trên những bức tường hoa.

Và cuối cùng, mùa xuân rồi cũng sang...

acaxomcui
09-04-2009, 16:52
Và ,phải đến lúc cuối cùng..thời gian biết ngưng lại ở đâu? để biết là sẽ cuối cùng..

Và, công việc vẩn kéo anh đi..anh trôi theo dòng đời..chạy theo công việc..không !bây giờ trong anh không chỉ có công việc ...trong anh còn một thứ khác ,thứ công việc như rất cần thiết...nhưng là chẳng có gì! !

Buỏi sáng,vào quán cà phê.Việc đầu tiên là đão mắt qua..lục lội tìm kiếm.
Xe bon bon trên đường đông nghẹt.Mắt cũng đão vội bên đường...
Vào chợ,tìm vội thức ăn cho bữa cơm chiều..anh cũng hy vọng nhìn ra một dáng người ..tưởng tượng.
Anh vẩn cố tìm..mà không biết tìm đâu ra,không biết tìm ai..Anh chỉ mường tượng là Phương,là Thanh,là Tím, là Hồng...à, mà không phải Hồng..là một màu tím,một màu tím buồn ! !

lennel
10-05-2009, 07:15
Thanh toán

- Robet Atonio



Y đứng trên gờ tường, tầng thứ ba mươi sáu, mắt tò mò nhìn xuống đám người kéo đến đông nghịt tận dưới đường phố. Hàng mấy ngàn bộ mặt ngước lên, hàng mấy ngàn cặp mắt lo lắng nhìn lên y. Vẫn tiếp tục có thêm những người nữa ùn ùn kéo đến xem. Cả một khúc đường phố xe cộ ách tắc, bóp còi inh ỏi. Bỗng y sực nghĩ, từ trên cao này nhìn xuống, mỗi con người trong đám đông chen chúc chỉ là một cái chấm. Và y nghĩ đến tổ kiến. Tuy tiếng ồn ào bên dưới lên đến đây chỉ còn rất yếu, nhưng y vẫn đoán được bên dưới chắc phải náo động lắm.


Nhân viên giữ thang máy ngó đầu ra cửa sổ nhìn y:


- Ông làm cái trò gì thế?


- Tôi sắp nhảy xuống dưới kia - y điềm tĩnh đáp.


- Ông tưởng xuống đến đất ông vẫn còn có hai chân lành lặn để dạo chơi tiếp đấy hẳn?


- Chuyện ấy không liên quan gì đến ông!


Nhân viên giữ thang máy lắc đầu, nhếch mép cười rồi lui vào. Đến lượt viên phó giám đốc khách sạn thò đầu ra:


- Xin lỗi, cho tôi nói một câu...


Y xua tay bảo ông ta đi đi.


- Ông định làm một việc hết sức ngu ngốc ! - Phó giám đốc nói.


Bây giờ đến giám đốc khách sạn thò đầu ra nhìn y:


- Ông làm gì đấy?


- Tôi sắp nhảy xuống dưới kia.


- Ông là ai? Tên ông là gì ?


- Carl Adams. Tại sao tôi phải làm thế là chuyện không liên quan gì đến ông.


- Nhưng ông hãy nghĩ cho cẩn thận. Ông nhảy xuống đấy thì được cái gì? Chỉ là cái chết một ngàn phần trăm.


- Tôi đã suy nghĩ rất cẩn thận rồi. Thôi, mời ông đi đi cho. Mặc tôi.


Gờ tường rất hẹp, chỉ khoảng hai gang tay. Adams đứng ở chỗ đúng giữa hai cửa sổ. Y đã bỏ áo vét trong phòng, bây giờ chỉ còn chiếc sơ mi. Trời nắng chiếu vào người y. Y đã nới cà vạt và ai cũng thấy rõ là y không còn thiết gì cuộc đời nữa. Rõ ràng là một người đã sẵn sàng nhận cái chết.


Hết người này đến người khác thay nhau, tranh nhau thò đầu ra cửa sổ khuyên giải, thuyết phục y:


- Ông Adams! Sao ông nghĩ dại vậy? Mọi chuyện đau buồn đều có thể giải quyết được, không phải bằng cách ông đang chọn... - một người nói.


- Dại dột gì thì có thể gỡ lại được, chứ chết thì là hết. Ông Adams, ông nghĩ lại đi... - một người khác nói.


Trong số người đó có cả một bác sĩ, một linh mục.


- Tại sao ông không vào đây ta bàn xem hoàn cảnh của ông bế tắc đến mức nào, ông Adams? - Vị linh mục dịu dàng nói.


- Tôi không có điều gì còn phải bàn nữa, mời cha về nhà nghỉ.


- Ông có muốn tôi bước ra và dắt ông vào nhà qua ô cửa này không, ông Adams?


- Không. Và tôi báo trước, hễ ai đặt chân ra ngoài này là lập tức tôi nhảy xuống đấy.


- Ông có thể cho tôi biết, ông gặp phải chuyện gì phiền muộn không?


- Không.


- Vậy chúng tôi phải làm gì để giúp ông?


- Không phải làm gì cả. Và cha cũng không thể giúp gì được tôi đâu. Mời cha về đi.


Trong một lát, không ai thò đầu ra cửa sổ nữa. Mọi người đều thấy không thể thuyết phục nổi con người đã hoàn toàn tuyệt vọng kia. Rõ ràng Adams không còn thiết sống. Mãi sau mới có một nhân viên cảnh sát thò đầu ra.


- Chào ông bạn, - viên cảnh sát nói.


Adams chăm chú nhìn khuôn mặt anh ta.


- Ông cần gì? - Adams hỏi.


- Ở dưới kia người ta bảo tôi lên đây. Họ nói là có một người muốn nhảy từ trên tầng ba mươi sáu xuống đất. Ông định nhảy xuống thật đấy à?


- Thật.


- Để làm gì?


- Tính tôi thích làm những trò độc đáo.


- Chà, ông có óc hài hước đấy - nhân viên cảnh sát nói, rồi kéo mũ lưỡi trai ra sau gáy, ngồi lên bệ cửa sổ - Tôi đâm mến ông rồi đấy. Ông muốn hút thuốc không?


- Không - Adams đáp.


Nhân viên cảnh sát lấy điếu thuốc châm lửa hút, thở khói.


- Hôm nay đẹp trời quá, ông công nhận không?


- Công nhận, Adams thản nhiên nói - Một ngày đáng để chết.


- Ôi, ông nói giọng bi thảm thế? Ông có vợ chứ?


- Không, còn ông? - Adams hỏi.


- Tôi có vợ.


- Còn tôi trần một mình.


- Đáng tiếc, - người nhân viên nói.


- Đúng thế.


Mới hôm qua mình vẫn có một gia đình nhỏ êm ấm, Adams thầm nghĩ. Sáng hôm qua y đi làm từ sáng sớm và Karen vẫn còn chào y, không hôn. Cô ta vẫn có thói quen xưa nay chỉ nói thôi. Tuy hai vợ chồng không hôn nhau, nhưng họ vẫn là vợ chồng, vẫn chung chăn gối. Gần đây Karen đòi li dị, nhưng y không chịu. Y vẫn yêu cô, mặc dù y biết rồi sẽ đến lúc không còn giữ được cô nữa.


Chiều muộn, y về đến nhà thì không còn vợ nữa, chỉ một lọ thuốc ngủ rỗng lăn lóc trên sàn. Căn phòng im ắng kỳ lạ, và Karen đã chết, nằm trên giường. Cô để lại thư tuyệt mệnh trên gối. Thư có vẻ đã được suy nghĩ, cân nhắc từng chữ. Cô viết rằng Steve vừa bảo không thể trốn đi cùng cô. Gã đã lừa dối cô. Sự bội phản đó làm cô uất ức và tuyệt vọng. Tuy Karen trước đây chưa hề nói gì với chồng về việc dan díu này, nhưng y đã biết từ mấy tháng nay rồi. Một lần, y nhìn thấy cô vợ đi với gã Steve kia trong một nhà hàng ra. Karen không thèm giấu giếm. Cô đã nói thẳng với chồng là cô không yêu y và đang có nhân tình.


Ngay tối hôm đó y bỏ nhà đi lang thang suốt đêm, đầu mụ đi. Gần sáng y mới về và hiểu rằng mình đã quyết định một điều đúng. Y đi bộ đến khách sạn lớn ở trung tâm thành phố, thuê một phòng trên tầng chót, tầng ba mươi sáu, nằm ngay sát mái...


Bây giờ cả một quãng phố dài đã đông nghịt. Hàng vạn cặp mắt ngước lên nhìn y. Người ta tính mọi cách mà chưa tìm ra cách nào. Thang cứu hỏa không thể lên đến cao như vậy.


- Tôi là bác sĩ, tôi muốn giúp ông, ông Adams, - một cái đầu thò ra cửa sổ nói.


- Ông định nhốt tôi vào nhà thương điên chăng? - Adams cười gằn.


- Không đâu. Tôi xin hứa. - bác sĩ nói.


- Nhưng bây giờ thì muộn rồi. Ông không giúp gì cho tôi được đâu.


- Khi nào ông nhảy xuống mới là muộn. Còn bây giờ vẫn chưa muộn - bác sĩ nói.


- Tốt nhất là ông hãy đi giúp một bệnh nhân nào đó và mặc xác tôi.


Bác sĩ thụt vào. Y nhìn xuống. Một đám nhân viên cảnh sát đến, đem theo những cuộn dây thừng, những thang, những tấm lưới, những chiếc ghế treo. Họ tìm cách đỡ bên dưới khi Adams nhảy xuống. Kìa, tấm lưới đã được chăng. Đám đông đang giãn ra.


Nhân viên cảnh sát ban nãy lại thò đầu ra ngoài cửa sổ - Tôi nhờ ông một việc.


- Việc gì?


- Bổn phận của tôi là phải kiểm soát giao thông dưới kia, nhưng vì ông, tôi phải lên đây...


- Dưới kia xe cộ còn chạy được đâu mà cần cảnh sát giao thông?


Viên cảnh sát cười:


- Đúng thế. Họ đứng cả lại xem ông nhảy xuống. Họ khoái xem chuyện nguy hiểm chết người.


- Họ thích nhìn thấy tôi chết à? - Adams hỏi.


- Chứ còn gì nữa? Vậy ông cho họ được hưởng cái khoái ấy ư, trong khi bản thân ông thì ... thịt nát xương tan?


Adams đưa mắt nhìn xuống dưới.


- Ông ở trên này không nghe thấy đâu, - viên cảnh sát nói tiếp - Dưới kia người ta đang hét lên, giục ông nhảy xuống đấy.


- Thật à? - Adams hỏi. - Đúng, ông nói đúng. Trông họ như một bầy sói đói, đang thèm thịt.


- Cho nên ông đừng dại chọn cái chết theo cách này để đám tồi tệ kia được hưởng một sự rùng mình khoan khoái.


Viên cảnh sát nhìn vào cặp mắt Adams và thấy le lói ánh do dự, bèn tấn công luôn.


- Ông nên quay vào nhà đi, để đám hiếu kỳ độc ác kia trơ mắt ếch.


- Có lẽ thế.


- Tất nhiên rồi.


Adams loạng choạng, lưng rời khỏi tường một chút và y vội vã cong người áp trở lại vào tường. Hai mắt y nhắm nghiền.


- Sao thế? - Viên cảnh sát hỏi.


- Bỗng nhiên tôi thấy chóng mặt. Ông đưa tôi nắm tay vậy.


Viên cảnh sát liếc mắt sang nóc nhà bên kia đường phố. Một số phóng viên nhiếp ảnh và quay phim đang chĩa ống kính sang. Anh ta nghĩ đến những tấm ảnh sẽ đăng trên báo chí ngày mai.


- Được thôi - anh ta nói và chìa tay về phía Adams. Đám đông dưới đường reo hò vang dậy khi thấy người cảnh sát đưa tay, thận trọng nhích dần đến chỗ Adams, rồi cuối cùng chạm tới bàn tay y. Adams nắm chặt bàn tay viên cảnh sát.


- Tao biết mày thế nào cũng lên đây - y nói - chính vì thế tao chọn chỗ này.


- Cái gì ? - viên cảnh sát ngạc nhiên, nhưng vẫn phải cố giữ thăng bằng trên gờ tường.


- Tên tao không phải là Adams, Steve! Tao là chồng của Karen. Mày biết chưa, hôm qua Karen đã...


Steve kinh hoàng, định rút bàn tay lại nhưng không được nữa rồi. Người xưng tên là Adams đã nắm bàn tay gã chắc như gọng kìm. Y đẩy mạnh và Steve thấy mình đang rơi giữa khoảng không trong tiếng reo hò của dân chúng dưới đường...

acaxomcui
21-05-2009, 10:33
Truyện ngắn CÂU CHUYỆN NGOÀI BẾN TÀU

Henrich Boll

Tại một bến tầu ở bờ biển phía tây Âu Châu có một người áo quần nghèo khó nằm dài trên chiếc thuyền câu của mình và lim lim mơ màng ngủ. Một du khách ăn mặc sang trọng lắp một cuốn phim mầu mới vào máy ảnh để chụp cảnh thơ mộng: trời xanh, biển đậm với những đợt sóng hiền lành trắng như tuyết, với chiếc thuyền đen xậm và chiếc mũ đỏ của người đánh cá.

"Tách", và vì chuyện gì tốt cũng phải ba lần mà cũng để chắc ăn, "tách", thêm một lần thứ ba nữa. Những tiếng động khô cứng và gần như đáng ghét đó đánh thức bác chài đang ngủ mơ màng. Bác ngái ngủ đứng dậy, ngái ngủ lấy tay với bao thuốc, nhưng trước khi bác tìm thấy, du khách đã săn đón chìa trước mặt bác một bao, không đưa tận miệng, nhưng rút ra đặt một điếu thuốc vào tay bác chài, rồi một tiếng "tách" thứ tư của chiếc bật lửa chấm dứt sự lễ phép săn đón đó. Một nỗi bối rối căng thẳng gây nên do sự lễ phép quá nhiều nhưng khó đo lường và khó có chứng cớ rõ rệt khiến du khách vì hiểu tiếng địa phương tìm cách bắt chuyện cho đỡ trống trải.

- "Chắc rồi hôm nay bác sẽ đánh được một mẻ cá lớn?".

Bác chài gật đầu.

- "Chả là người ta bảo hôm nay tốt trời".

Bác chài lại gật đầu.

- "Vậy mà bác không ra khơi?".

Bác chài lắc đầu, người khách nóng nẩy thêm. Rõ ràng khách bận tâm về tình cảnh của bác chài ăn mặc nghèo khó khi khách buồn bã nghĩ đến dịp may bị lỡ của bác.

- "Ơ hay, bác thấy trong người không được khoẻ?"

Lúc này bác chài mới bỏ cách nói bằng cử chỉ để nói thành lời.

- "Tôi thấy dễ chịu hết cỡ", bác nói, "chưa lúc nào tôi thấy dễ chịu như bây giờ." Bác đứng dậy vươn mình như muốn chứng tỏ mình lực lưỡng thế nào.

- "Tôi thấy khỏe «số dách»".

Nét mặt người khách du lịch trở nên băn khoăn khổ sở hơn, chừng như không thể nín được câu hỏi muốn làm vỡ tung lồng ngực mình:

- "Chứ tại sao bác không ra khơi?".

Câu trả lời đến tức thì, cộc lốc: "Vì sáng nay tôi đã ra rồi".

- "Mẻ lưới khá chứ?".

- "Khá lắm đến nỗi tôi chẳng cần đi một lần nữa, tôi đã đánh được bốn con tôm hùm trong một giọ, và gần 20 con cá".

Bác chài lúc này tỉnh như sáo, vỗ vai trấn tĩnh người du khách. Vẻ mặt của người này biểu lộ một cảm giác tuy không thích hợp với bác, nhưng bầy tỏ một sự xúc động. Bác nói để du khách được nhẹ nhõm trong lòng:

- "Cho ngày mai và cả ngày mốt tôi cũng đánh đủ cả rồi. Ông hút với tôi một điếu?".

- "Vâng, cám ơn bác".

Những điếu thuốc được đưa lên miệng, "tách" một cái lần thứ năm, người khách lạ ngồi xuống bên mép thuyền lắc đầu, bỏ máy ảnh xuống vì bây giờ hắn cần dùng cả hai tay để nhấn mạnh thêm cho lời mình nói.

- "Tôi không muốn xía vô chuyện của bác, khách nói, nhưng bác thử nghĩ xem. Bác ra khơi hôm nay hai lần, ba lần, hay bốn lần, rồi bác sẽ đánh được ba, bốn hay năm chục, có khi cả trăm con cá. Bác nghĩ coi".

Bác chài gật đầu.

- "Không những hôm nay mà cả ngày mai, ngày mốt, du khách nói, ờ, vào bất cứ ngày nào tốt trời bác ra khơi hai, ba, bốn lần, bác biết sự gì xẩy ra không?"

Bác chài lắc đầu.

- "Chậm lắm chỉ một năm bác sẽ mua được một cái "mô-tơ" cho thuyền đánh cá, chỉ hai năm bác mua được cái thuyền thứ hai, chỉ ba hay bốn năm có thể bác sẽ có một cái thuyền buồm nhỏ, với hai cái thuyền và một cái thuyền buồm dĩ nhiên bác sẽ đánh được nhiều cá hơn, bác sẽ...". Sự hứng khởi làm tiếng nói của du khách bị đứt quãng, "bác sẽ xây một nhà ướp lạnh nhỏ, có lẽ cả một nhà nướng cá, rồi sau đó một nhà máy làm cá. Bác sẽ bay bằng trực thăng để tìm luồng cá và sẽ chỉ huy các thuyền buồm của bác bằng vô tuyến điện. Bác có thể xin được quyền đánh cá mập, mở một quán ăn đặc biệt về đồ biển, xuất cảng tôm hùm sang Paris không cần người trung gian, rồi...". Sự hứng khởi làm tiếng người khách du lịch đứt quãng.

Lòng buồn rười rợi, thú vui nghỉ hè hầu như biến mất, du khách lắc đầu nhìn sóng êm ả cuốn vào bờ, giữa đợt sóng lũ cá hầu như không biết sợ hãi là gì, nhẩy lên choi choi. "Rồi thì, du khách nói tiếp, sự kích thích lại làm cho tiếng bị ngắt quãng nữa.

Bác chài đập nhẹ vào lưng du khách như người ta thường làm với một đứa trẻ nhỏ khi nó bị nghẹn

- "Rồi thì làm sao?" Bác chài khẽ hỏi.

- "Rồi bác có thể yêm tâm ngồi ở bến tầu này mơ màng ngủ trong nắng và ngắm vẻ đẹp tuyệt vời của biển". Người khách đáp với sự hứng khởi mà trầm tĩnh.

Bác chài nói:

- "Nhưng, chính điều dó tôi đang làm đây thôi, tôi ngồi yên ổn ở bến tầu và ngủ mơ màng, chỉ bị tiếng chụp ảnh của ông làm rộn ".

Người khách du lịch bỗng nhiên tỉnh ngộ bởi lời nói của bác chài, bỏ đi trong suy nghĩ về câu nói đó. Bởi vì trước kia cũng có lần du khách cho rằng mình làm việc để rồi một ngày nào đó không phải làm gì nữa... Và niềm thương hại bác chài ăn mặc nghèo khó không còn lưu lại một dấu vết nào trong lòng du khách, có chăng chỉ còn một chút ganh tị thèm muốn.

Heinrich Böll

Nguyễn-Khắc Tiến-Tùng (dịch)

silkroadpro
21-05-2009, 10:41
ANH KHÔNG THỂ COI EM CHỈ LÀ BẠN !

Anh không thể coi em chỉ là bạn
Em lúc nào cũng ngỗ ngược và hài hước, anh chỉ biết cười làm theo ý em, biết là đùa nhưng sao lòng anh thấy vui vui. Rồi anh tự nhủ "con tim" anh hao gầy là vì em, liệu em có biết không? Hay em biết nhưng cố tình lờ đi, cố tình nhìn anh đau khổ.

" Em giọt cà phê không đắng
Ngấm vào tôi...
Thức trắng cả cuộc đời!"

Anh lẩm nhẩm mấy câu thơ trong khi khuấy cốc cà phê trên bàn một cách vô thức, không biết lần thứ mấy rồi mà chưa nhấp ngụm nào, anh còn đang mông lung nghĩ về em - về " thứ cà phê không đắng" của anh. Mà nói của anh cũng không đúng, đã bao giờ em là của riêng anh đâu...

Nghĩ đến đây lòng anh nhức nhối! Ngồi một mình ở góc trong cùng của quán cà phê quen thuộc nghĩ về em, lúc nào em cũng thích chỗ này, em đùa bảo góc này khuất em giấu được anh, không thì thiên hạ ngắm mòn anh mất, hi nếu anh có mòn đi ít nào thì em thích đấy là do em.

Em lúc nào cũng ngỗ ngược và hài hước, anh chỉ biết cười làm theo ý em, biết là đùa nhưng sao lòng anh thấy vui vui. Rồi anh tự nhủ "con tim" anh hao gầy là vì em, liệu em có biết không? Hay em biết nhưng cố tình lờ đi, cố tình nhìn anh đau khổ.

Anh và em chơi thân, chơi rất thân là đằng khác, em kể cho anh nghe mọi chuyện của em, anh hiểu tính cách của em, lúc nào bên cạnh anh em cũng thấy lòng mình thoải mái, cũng thấy vui vẻ, thấy lòng mình bớt cô đơn, có lần em nói với anh: "anh là một phần không thể thiếu của đời em vì thế cấm anh rời xa em, em gọi đi cà phê mà từ chối là em cho quit đó!". Anh lại cười trừ, biết là em đùa mà.

Mỗi lúc em cô đơn hay stress hay đơn giản là em muốn ăn kem thì anh liền có mặt, em không gọi ai khác ngoài anh. Đôi lúc em làm anh bối rối, anh không biết trong lòng em anh chiếm vị trí thế nào, băn khoăn nhưng anh không bao giờ hỏi, anh chỉ lặng lẽ đi bên em, anh nghĩ với anh that's enough! Anh share cho em những bài hát anh thích, mặc dù là loại nhạc kén người nghe nhưng em luôn có những cảm nhận tinh tế khiến anh thấy mình bớt cô độc, thấy anh được thấu hiểu bởi em (nếu nói đúng như kiểu văn phong tiếng Anh), chính điều này lại càng lôi cuốn anh hơn.

Đấy anh và em cứ ở bên nhau như thế, thậm chí chủ cái quán cà phê nhỏ đã quen với sự có mặt của hai đứa vào tối thứ 3 và thứ 6, em bảo thứ Bảy tha cho anh, để anh đưa bạn gái đi chơi, anh cười, em biết thừa anh làm gì có bạn gái, lại đùa rồi, anh với em đi với nhau cũng không phải là hẹn hò, cũng chẳng biết thế này gọi là gì nữa. Em không hề vô tâm với anh, với em anh cũng không phải là mối quan tâm ở mức độ "đặc biệt" như mức độ của một người yêu, ở mức độ chơi thân đơn thuần cũng không đúng, nhưng với cuộc sống của em anh không thể thiếu... Mà thôi ở mức độ nào thì anh vẫn luôn bên em cơ mà...

Cuộc sống vẫn tiếp diễn, tất nhiên không ai ngăn được nó chảy rồi, nhật kí của anh đã chặt kín những trang viết về em, anh cũng không biết có khi nào em sẽ đọc... Anh bắt đầu viết từ khi em xuất hiện, em làm thay đổi anh, làm con tim anh xao động, làm tâm trí anh rối bời. Trong nhật kí có những ngày vui vẻ bên em, có nỗi đau triền miên khi em từ chối tình yêu của anh, em nói mình cứ thế này mãi nhé anh, lòng anh nặng trĩu, từ nơi sâu thẳm anh gào thét tại sao tại sao em không thể yêu anh? Anh là gì trong mắt em? Bạn thân?

Anh đau đớn cười một mình, ngay từ đầu em trong anh đã là vô cùng đặc biệt và quan trọng, không gì thay thế được, anh cảm nhận được từ lần đầu gặp em, phải chăng cuộc đời này đang đùa cợt với anh. Anh đau khổ, anh thành ra chạy trốn em, anh sợ đối diện với em, anh sợ mình không thể quên em, không thể coi em chỉ là bạn, với anh điều này quá khó! Thế là anh chọn phương sách " everything or nothing", anh và em ít gặp nhau hơn, ít nói chuyện với nhau hơn, chỉ gặp trong những bữa tụ tập nhóm bạn thân, trong những ngày họp lớp. Anh đang cố xóa em ra khỏi tâm trí của mình, anh tự nhủ anh và em là những món quà đặc biệt mà cuộc đời sắp đặt ta giành cho nhau, được mở ra ngắm, được chạm tới sâu thẳm tâm hồn nhau nhưng không được sở hữu, cuộc đời thật chớ trêu em nhỉ?"


Nguồn : game4v.vn (http://yega.game4v.vn/showthread.php?t=135968)

acaxomcui
07-06-2009, 10:15
VanTienSinh

Cha con người xích lô và con nghiện




Có người nói "Tình yêu có thể đem đến điều kỳ diệu", bạn nghĩ sao?
Hắn đứng trong bóng tối nhìn ra ngoài đường, đôi mắt đang chăm chú theo dõi. Con đường vắng ngắt không một bóng người vào lúc khuya khoắt này. Hắn đứng đã lâu nên chân hơi mỏi, sau khi ngáp một cái đến muốn sái cả quai hàm thì hắn từ từ ngồi thụp xuống. Cơn nghiện đã bắt đầu kéo tới hành hạ hắn. Cả người hắn trở nên bứt rứt, tay chân hắn bỗng run lẩy bẩy, có cảm giác như đang có con gì ngọ nguậy trong xương vừa ngứa ngáy vừa nhột nhạt khó chịu vô cùng. Hắn cảm thấy lạnh khi sương đêm đang rơi nhè nhẹ, lúc này trong lòng hắn như có lửa đốt bồn chồn không yên.
Hắn vốn là con nhà tử tế được cho học hành đàng hoàng. Cha mẹ hắn tuy không khá giả gì cho lắm, nhưng vẫn cố chăm lo vun bồi cho hắn thành tài. Chỉ vì đua đòi theo đám bạn hư hỏng và cố tỏ ra là một tay chịu chơi, hắn đã trở thành con nghiện, sau vài lần thử cảm giác bồng bềnh với ma túy. Dần dần thì lượng ma túy hắn xài càng nhiều. Cha mẹ của hắn bị hắn làm xiếc vài lần lấy sạch hết tiền tiết kiệm, vì cứ nghĩ là lo cho con mình ra đời kinh doanh làm ăn với người ta. Cha hắn nổi điên lên từ bỏ hắn, coi như đã không sinh ra đứa con trai hư hỏng này và vứt hắn vào đời như bỏ đi một cái giẻ rách.
Hắn lang thang khắp nơi và gia nhập chung với bọn nghiện cũng giống như hắn. Để có thể kiếm tiền thoả mãn cơn nghiện, hắn buộc phải đi trộm hoặc cướp của người khác. Nhiều lúc tỉnh táo sau những cơn phê thuốc, hắn muốn làm lại cuộc đời. Hắn ước gì thời gian có thể quay trở lại, để cho hắn có thể làm lại từ đầu. Hắn ước gì có một bàn tay yêu thương có thể kéo hắn ra khỏi vũng bùn mà hắn đã tự lao đầu vào. Cứ mỗi một ngày qua thì đám bùn này lại ngày càng kéo hắn xuống sâu hơn.
Bàn tay đó cuối cùng cũng đã xuất hiện. Trong một chiều mưa buồn đường xá vắng tanh, hắn đang ngồi co ro nơi góc hiên của một ngôi nhà đóng cưả không có chủ, với cái bụng đói meo đã hai ngày chưa có gì ăn. Những giọt mưa thỉnh thoảng theo cơn gió tạt vào người hắn, làm cho hắn rét run lên từng chập. Người bình thường rét một thôi thì hắn rét tới mười vì vốn dĩ hắn rất sợ nước. Vào lúc đó hắn bỗng nghe tiếng kẽo kẹt của chiếc đòn gánh và bước chân đang vội vã đến gần. Một cô gái bán hàng rong đang khoác trên người chiếc áo mưa, hạ quang gánh xuống trước mặt hắn. Một mùi thơm nức mũi, từ chiếc nồi bún riêu đang nóng sôi trên bếp than hồng đã được che xung quanh một cách khéo léo để tránh mưa, làm bụng hắn muốn nổ tung lên vì đói. Cô gái ngước nhìn trời một cách buồn bã. Trời vẫn cứ mưa đều. Cô ngồi xuống kéo 2 cái gánh xê vào trong và nhìn ra ngoài đường không lý gì đến hắn. Được 1 lúc, hắn chịu không nổi nữa liền khẽ kêu cô gái:
- Bé ơi?
- Gì bé ông? Tui vầy mà bé hả? - Cô gái cau mặt nhìn hắn chỉnh.
- Ờ thì...em ơi. Bán dùm cho anh tô bún đi. - Hắn nhìn thấy đôi mắt cô gái trong veo phảng phất hình ảnh của một gã đàn ông gầy còm, bệnh hoạn và bẩn thỉu.
- Ông có tiền trả không đó. - Mắt cô gái ánh lên vẻ nghi ngờ, cô lại nói tiếp giọng khinh bỉ:
- Tui biết mấy loại người như ông chỉ có ăn quỵt thui, làm gì có tiền để mà trả. Với lại tui chưa có bán mở hàng mà ông không trả tiền là coi như tui ôm nồi bún dzìa nhà ăn luôn đó.
Hắn tính nổi nóng nhưng nhìn vẻ mặt buồn của cô gái, hắn bỗng nhiên xìu xuống. Hắn im lặng không nói nữa, nhưng cái bụng hắn cứ réo sôi sùng sục. Được một lát, hắn lại kêu:
- Em ơi...
- Gì? - Cô gái hỏi cộc lốc.
- Em có thể làm phước...- Hắn mở giọng năn nỉ.
- Hông. - Cô gái biết hắn muốn nói gì nên chặn luôn.
- Bữa sau anh có tiền trả em đàng hoàng. - Hắn hứa liều.
Cô gái im lặng nhìn ra đường không trả lời. Cô thừa biết hắn hứa đại nên làm lơ hắn luôn. Hắn tức quá nhưng hắn biết lúc này mà tự ái là không xong. Hắn cố làm ra vẻ thảm thiết:
- Cả hai ngày nay anh chưa có gì vào bụng em ơi. Em bán thiếu cho anh đi. Em còn trẻ sao mà không có lòng từ bi...Giúp cho anh đi em...Anh đói quá...giúp...
Hắn thều thào như sắp hết hơi, mà cũng có lẽ hắn sắp hết hơi thật. Lòng cô gái bỗng nhiên mềm ra khi hắn nói tới hai chữ "từ bi", làm cô chợt nhớ đến những hôm đi lễ chuà. Cô quay lại nhìn cái dáng thảm não của hắn hồi lâu rồi chặc lưỡi:
- Thôi được. Coi như là tôi làm phước. Nhớ bữa sau mà có tiền thì trả cho tui đó nghen. Tui cũng nghèo lắm đó.
Hắn như chết đi được sống lại, vớ lấy tô bún cô đưa mà hắn ăn nghẹn tới hai ba lần. Chỉ loáng một cái, tô bún hắn vét sạch trơn không chừa cái gì, còn lại ít rau thừa hắn xin cô thêm tý nước và tiếp tục làm sạch. Bụng hắn giờ đã hơi lưng lửng, nhưng hắn vẫn nhìn nồi bún một cách thèm thuồng. Cô gái biết tỏng ý của hắn nên nhẹ nhàng nói:
- Thôi ông à. Tui có lời lãi bao nhiêu đâu? Tha dùm cho tui đi ông.
Hắn thu ánh mắt về và nhìn cô gái. Hắn tự nhiên thấy cô thật là dễ thương. Hắn nở nụ cười nói:
- Căm ơn em rất nhiều. Nhất định là anh sẽ trả cho em. Em hay thường bán ở đâu dzậy?
- Tui bán ngay ngã tư trên kia kìa. Từ đây lên đó còn một đoạn nữa. - Cô gái giơ tay chỉ lên phía trên.
Mưa đã ngớt. Lòng đường nước ngập lai láng đầy những chất dơ bẩn. Những tiếng ồn hỗn độn quen thuộc lại vang lên. Tiềng xe chạy, tiếng còi xe, tiếng kêu í ới... báo hiệu sự hoạt động sau cơn mưa đã trở lại bình thường. Cô gái ghé vai gánh nồi bún riêu đi lên trên ngã tư để chuẩn bị bán. Chiếc đòn gánh oằn cong xuống trên vai cô và nẩy lên nẩy xuống nhịp nhàng sau mỗi bước đi thoăn thoắt của cô. Hắn nhìn theo cô gái lòng bỗng nhiên cảm thấy ấm áp lạ thường...
Kể từ hôm đó hắn trở thành mối của cô gái bán bún riêu. Khi có tiền tức là khi đã ăn trộm hoặc trấn lột của ai đó, hắn liền trả nợ cho cô sòng phẳng và ngược lại khi hắn không có tiền, cô cũng vui vẻ bán thiếu cho hắn và sau đó nguệch ngoạc ghi nợ của hắn vào một cuốn sổ lấm lem đầy dầu mỡ.
Có nhiều lúc hắn không đói, nhưng vẫn ghé lại chỗ cô chỉ để thấy và nói chuyện với cô dăm ba câu vu vơ và tự nhiên hắn cảm thấy trở nên yêu đời hơn. Nhưng những cơn ghiền ma tuý của hắn lại như đám bùn đen, cứ níu chân hắn không cho hắn thoát ra. Những lúc tỉnh hắn cố quyết tâm lần này sẽ là lần cuối hắn sẽ làm lại từ đầu, nhưng rồi hắn vẫn không có đủ nghị lực để thoát ra. Đêm nay hắn lại lên cơn ghiền và hắn phải kiếm một "con mồi" để thỏa mãn cơn nghiện của hắn. Mãi nghĩ miên man bỗng hắn giật mình khi nghe thấy tiếng động đang từ xa vọng tới...


*****


Ngồi lọt thỏm trong chiếc xích lô cũ kỹ, đưa mắt nhìn những ngôi nhà cao tầng khang trang vừa mới mọc lên, ông nghĩ lan man. Sao cuộc đời của nhiều người sướng thế, cũng cùng là một kiếp người mà kẻ ăn không hết người làm không ra. Ông bà già xưa nói " Không ai giàu ba họ, chẳng ai khó ba đời" có lẽ là chỉ muốn an ủi kiếp người nghèo. Giàu ba họ hay không thì ông chẳng biết, nhưng khó hơn ba đời thì ông thấy quá nhiều rồi. Ngay chính bản thân ông đây, từ đời ông bà cho đến cha mẹ của ông suốt đời vất vả một nắng hai sương, rồi cho đến ông lên thành phố lập nghiệp long đong hơn nửa đời người, cũng chưa có được một mái nhà yên ổn và đến đời con ông cũng thế, quanh năm vất vả chạy ăn hàng ngày.
Ngày còn trẻ, khi ông gom góp tiền được mấy chỉ vàng mua chiếc xích lô, những tưởng chỉ là bước đệm ban đầu trên con đường xây dựng sự nghiệp. Vâỵ mà thấm thoắt như chớp mắt đã mấy chục năm trôi qua, tóc ông nay đã bạc gần hết, con ông nay cũng đã lớn khôn, mà ông vẫn hàng ngày lầm lũi kiếm tiền cùng với chiếc xích lô. Nó vừa là bạn ông mỗi khi ông chưá đầy tâm sự, nó vừa là cái giường khi ông mệt mỏi muốn kiếm một giấc ngủ trưa, nó vừa là cái cần câu cơm khi giúp ông kiếm tiền hàng ngày. Theo thời gian thì nó cũng đã quá già cỗi như ông qua mấy lần chắp vá, dù sao thì nó cũng đã cùng ông chia xẻ những vui buồn trong cuộc sống qua bao tháng ngày.
Sức ông đã càng ngày càng yếu đi. Nhiều khi đẩy xích lô chở người lên dốc cầu, người đi xe cũng ái ngại cho ông khi ông cứ ho lên sù sụ và thở hổn hển. Một vài người khách tốt bụng thấy vậy bất nhẫn xuống xe, còn những kẻ vô tâm thì cười chê lão già sức yếu, chẳng xứng đáng chút nào với đồng tiền họ bỏ ra. Giờ đây, ông còn nghe phong phanh đâu là nay mai nhà nước sẽ cấm chạy cả xích lô, ba gác thì ông chưa biết phải xoay sở sống ra làm sao?
Hôm nay là một ngày ế khách. Nhìn trời thấy đã quá khuya, ông từ từ nhỏm dậy mệt mỏi leo lên đạp chiếc xích lô về nghỉ. Chiếc xe xích lô già nua rên lên cót két không ngừng. Lúc này ông đang chạy trên đường vắng, bỗng dưng một bóng đen bất ngờ nhào ra chặn xe của ông, tưởng là khách cần đi xe nên ông liền thắng nhanh lại. Bóng đen bây giờ đang cầm lăm lăm con dao trong tay, chỉa thẳng vào người ông quát:
- Xuống ngay.
Ông giật nẩy mình vội vàng rời khỏi yên xe bước xuống đất, còn chưa hiểu chuyện gì đã xảy ra, thì bóng đen đạp vào bụng ông luôn một đạp, làm cho ông té chúi nhủi trên đường. Hắn vội vàng leo lên xe xích lô của ông đạp thẳng luôn một mạch. Khi ông vừa hoàn hồn mới hiểu ra là mình bị cướp xe, liền lồm cồm bò dậy thì chiếc xe lúc này đã chạy tới ngã tư đường, bỏ ông một khoảng xa. Ông còn chưa kịp la lên, thì bỗng thấy một chiếc xe máy chạy từ xa lao tới, đụng luôn vào chiếc xích lô vừa chạy ra ngã tư. Chiếc xe máy đổ kềnh ra đường, bánh nó xoay tròn vòng vòng trong khi vẫn nổ máy, người trên xe lộn đi mấy vòng và nằm yên bất động trên đường. Lúc đó bóng đen vội nhảy từ trên chiếc xe xích lô xuống, nhìn chiếc xe máy và người đàn ông một chặp rồi bất ngờ dựng xe máy lên và rồ ga biến mất.
Ông chợt như nhận ra điều éo le vừa mới xảy ra. Trong một thoáng, trên mặt ông biến diễn nhiều tâm trạng. Ban đầu, là sự căm phẫn khi bị cướp đi phương tiện sinh sống hàng ngày, mà cái bọn chó chết, cái xe có đáng giá bao nhiêu đâu mà nó cũng cướp, tiếp theo, là sự kinh ngạc lúc chứng kiến tai nạn xảy ra, sau đó là sự mừng rỡ khi thấy tên cướp bỏ lại chiếc xích lô và cuối cùng là buồn cười, khi thấy hắn bỗng nhiên vớ được một món bẫm từ trên trời rơi xuống.
Ông lại gần thấy người đàn ông bất động nằm trên vũng máu, mắt anh ta nhắm ngiền và cả người bốc lên nồng nặc mùi rượu vẫn còn đang thở thoi thóp. Nhìn tới nhìn lui thấy đường vắng ngắt, ông phân vân không biết phải làm sao? Ông vội lay lay và kêu người đàn ông, nhưng người đàn ông vẫn nằm im bất động không có phản ứng. Ông quay lại xe xích lô tính bỏ đi vì cảm thấy cái vụ này nếu dính vào thì thật là phiền phức, song ông nghĩ tới nghĩ lui, chợt nhớ tới câu "Cứu một mạng người hơn xây mấy cái chùa" chi chi đó ông bèn tắc lưỡi:
- Thôi đành làm phước dzậy.
Ông bế người đàn ông lên xe và mau chóng chở anh ta tới bệnh viện.


*****



Đã mấy ngày nay hắn lượn lờ quanh ngã tư, nhưng hắn vẫn không thấy cô gái bán bún riêu đâu hết. Hắn thấy bồn chồn băng khuâng trong dạ, không biết cô gái bị bệnh hay sao mà không thấy. Tay hắn đút trong túi nắm chặt cái hộp tròn nhỏ, trong đó có một vật mà hắn muốn tặng cho cô. Trong một lần nói chuyện vu vơ với cô hắn hỏi:
- Sao thấy tai em có lỗ mà lại không đeo bông tai.
- Ui dào. Lo ăn còn mệt đứ đừ cả người, tiền dư đâu ra mà mua. - Cô nhăn mặt trả lời.
Hắn để câu đó của cô trong lòng.
Chiều nay hắn ăn mặc bảnh bao, lại ra ngã tư để kiếm cô và chợt mừng rỡ khi thấy bóng dáng gánh hàng rong quen thuộc. Nhưng hắn chợt thất vọng não nề, khi không thấy cô gái mà thấy một phụ nữ tuổi trung niên đang ngồi bán. Hắn ghé lại kêu một tô bún vừa ăn vừa bắt chuyện:
- Bác gái ơi. Cái cô hay bán ở đây đâu rồi nhỉ?
- À. Cháu hỏi con gái bác đó hả? Nó phải đi lo thăm nuôi ba nó trong trại giam. - Giọng người đàn bà chợt buồn.
- Bác nhà bị làm sao vậy bác? - Hắn hỏi giọng tò mò.
Người đàn bà mắt chợt đỏ hoe, đưa tay lấy vạt áo chậm chậm vào mắt rồi từ từ trả lời:
- Người ta nghi ông nhà tui ăn cướp xe của họ, nên họ tạm giam ổng để điều tra. Cả đời ổng chưa từng táy máy của ai một ngàn, làm sao lại đi làm chuyện tày trời như dzậy được. Trời ơi ngó xuống mà coi! Oan ức quá...- Người đàn bà như được khơi gợi nỗi đau thương liền khóc sụt sịt.
- Bác nhà sao lại bị nghi là ăn cướp vậy bác. - Hắn hỏi vẻ quan tâm.
- Chuyện là như dzầy. Đêm đó ông nhà tui trên đường về, bị một thằng nhảy ra ăn cướp chiếc xích lô. Nó cầm dao doạ ổng rồi đạp ổng một đạp té lăn chiêng. Nó lái chiếc xích lô lại đụng một thằng say rượu, làm thằng đó té bị thương. Thấy cái xe máy nó liền đổi ý, nó bỏ chiếc xích lô lại và lấy chiếc xe máy. Ông nhà tui tính thương người, chở thằng say đó tới bệnh viện rồi ổng để địa chỉ lại. Mấy hôm sau cánh sát tới nhà, mời ổng lên điều tra về chiếc xe máy. Họ nghi ổng âm mưu cùng đồng bọn cướp chiếc xe máy của người ta. Thiệt là làm phước mà lại mang họa vào thân... - Người đàn bà nức nở.
Đầu hắn lùng bùng khi nhớ lại đêm đó, nhớ lại cảnh hắn đạp té người đàn ông già, nhớ lại cảnh khi thấy chiếc xe máy đổ kềnh dưới đất còn rú ga...
Hắn nằm trên ghế đá công viên nhìn trời, đầu óc đan đầy ý nghĩ. Chưa bao giờ nội tâm hắn lại kích động như lần này. Có lúc hắn thấy mình thật ghê tởm, có lúc hắn lại thấy chỉ là chuyện bình thường như bao lần hắn vẫn làm. Hắn chẳng đau xót gì ông già lái chiếc xích lô, nhưng mỗi lần hắn nghĩ tới đôi mắt trong veo của cô gái, hắn lại thấy hắn thật là một con người bỉ ổi, mất nhân cách, độc ác, vô lương tâm. Hắn lại nghĩ tới tô bún trong chiều mưa buồn, nghĩ tới những chữ viết nguyệch ngoạc trên cuốn sổ đầy dầu mỡ, nghĩ tới quyết tâm thoát khỏi đám bùn đen đang níu chân hắn. Hắn chợt cười buồn bã, hắn còn có thể làm lại sao, có thể sao? Hắn lại thò tay vào túi, chiếc hộp tròn nhỏ như nóng lên trong tay hắn. Hắn chợt ngồi dậy cầm chiếc hộp mở ra run run, trong hộp là một đôi bông tai nhỏ xinh xắn, là món quà từ lâu hắn ấp ủ sẽ tặng cho cô gái. Mắt nhìn trân trân vào đôi bông tai, hắn đang mường tượng cô gái đang đeo đôi bông tai, đang nhìn hắn mỉm cười...Hắn cắn chặt môi đến tê tái và sau đó một lúc lâu hắn đứng dậy.
- Bác ơi. - Hắn gọi người phụ nữ bán bún riêu và ngập ngừng nói tiếp:
- Bác...bác...đưa cái này dùm cho con gái bác. Bác nói là cái anh hay ăn thiếu gởi cho con.
Người đàn bà đón lấy chiếc hộp tròn và hỏi vẻ nghi ngại:
- Cái gì trong này vậy cháu?
- Không có gì quan trọng đâu bác. Bác cứ đưa dùm cho cháu là được rồi. - Hắn nói giọng van lơn.
Người đàn bà nhìn hắn một lát định hỏi tiếp, nhưng thấy ánh mắt cầu khẩn của hắn, bà gật đầu bỏ chiếc hộp vào túi.
Hắn quay xung quanh nhìn đường phố, nhìn trời mây bao la thật lâu. Hít một hơi không khí trong lành thật sâu và nhắm hướng đồn cảnh sát, hắn mạnh chân bước tới...

Nguồn: Tác giả / VNthuquan - Thư viện Online
Được bạn: Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 1 tháng 6 năm 2009

lennel
15-06-2009, 15:43
Hai cha con


Vào một buổi chiều mùa xuân lạnh lẽo, trước cửa quán xuất hiện hai vị khách rất đặc biệt, một người cha và một người con. Nói đặc biệt là bởi vì người cha bị mù. Người con trai đi bên cạnh cẩn mẫn dìu người cha. Cậu con trai trạc mười tám mười chín tuổi, quần áo đơn giản, lộ rõ vẻ nghèo túng, nhưng từ cậu lại toát lên nét trầm tĩnh của người có học, dường như cậu vẫn đang là học sinh..

Cậu con trai tiến đến trước mặt tôi: "Cho hai bát mì bò!", cậu nói to. Tôi đang định viết hoá đơn, thì cậu ta hướng về phía tôi và xua xua tay. Tôi ngạc nhiên nhìn cậu ta, cậu ta nhoẻn miệng cười biết lỗi, rồi chỉ tay vào bảng giá treo ở trên tường, phía sau lưng tôi, bảo tôi rằng chỉ làm 1 bát mì cho thịt bò, bát kia chỉ cần rắc chút hành là được. Lúc đầu, tôi hơi hoảng, nhưng sau đó chợt hiểu ra ngay. Hoá ra, cậu ta gọi to hai bát mì thịt bò như vậy là cố tình để cho người cha nghe thấy, thực ra thì tiền không đủ, nhưng lại không muốn cho cha biết. Tôi cười với cậu ta tỏ vẻ hiểu ý.

Nhà bếp nhanh nhẹn bê lên ngay hai bát mì nóng hổi. Cậu con trai chuyển bát mì bò đến trước mặt cha, ân cần chăm sóc: "Cha, có mì rồi, cha ăn đi thôi, cha cẩn thận kẻo nóng đấy ạ!". Rồi cậu ta tự bưng bát mì nước về phía mình. Người cha không vội ăn ngay, ông cầm đũa dò dẫm đưa qua đưa lại trong bát. Mãi lâu sau, ông mới gắp trúng một miếng thịt, vội vàng bỏ miếng thịt vào bát của người con. "An đi con, con ăn nhiều thêm một chút, ăn no rồi học hành chăm chỉ, sắp thi tốt nghiệp rồi, nếu mà thi đỗ đại học, sau này làm người có ích cho xã hội." Người cha nói với giọng hiền từ, đôi mắt tuy mờ đục vô hồn, nhưng trên khuôn mặt đầy nếp nhăn lại sáng lên nụ cười ấm áp. Điều khiến cho tôi ngạc nhiên đó là, cái cậu con trai đó không hề cản trở việc cha gắp thịt cho mình, mà cứ im như thóc đón nhận miếng thịt từ bát của cha, rồi lại lặng lẽ gắp miếng thịt đó trả về.

Cứ lặp đi lặp lại như vậy, dường như thịt trong bát của người cha cứ gắp lại đầy, gắp mãi không hết. "Cái quán này thật tử tế quá, một bát mì mà biết bao nhiêu là thịt." Ông lão cảm động nói. Kẻ đứng ngay bên cạnh là tôi, chợt toát hết cả mồ hôi, trong bát chỉ có vài mẩu thịt tội nghiệp, quắt queo bằng móng tay, lại mỏng chẳng khác gì xác ve. Người con trai nghe vậy vội vàng tiếp lời cha: "Cha à, cha ăn mau ăn đi, bát của con đầy ắp không biết để vào đâu rồi đây này. " "Ừ, ừ, con ăn nhanh lên, ăn mì bò thực ra cũng có chất lắm đấy."

Hành động và lời nói của hai cha con đã làm chúng tôi rất xúc động. Chẳng biết từ khi nào, bà chủ cũng đã ra đứng cạnh tôi, lặng lẽ nhìn hai cha con họ. Vừa lúc đó, cậu Trương đầu bếp bê lên một đĩa thịt bò vừa thái, bà chủ dẩu dẩu môi ra hiệu bảo cậu đặt lên bàn của hai cha con nọ. Cậu con trai ngẩng đầu tròn mắt nhìn một lúc, bàn này chỉ có mỗi hai cha con cậu ngồi, cậu ta vội vàng hỏi lại: "Anh để nhầm bàn rồi thì phải?, chúng tôi không gọi thịt bò." Bà chủ mỉm cười bước lại chỗ họ: "Không nhầm đâu, hôm nay chúng tôi kỉ niệm ngày mở quán, đĩa thịt này là quà biếu khách hàng. " Cậu con trai cười cười, không hỏi gì thêm.

Cậu lại gắp thêm vài miếng thịt vào bát người cha, sau đó, bỏ phần còn thừa vào trong một cái túi nhựa. Chúng tôi cứ im lặng chờ cho hai cha con ăn xong, rồi lại dõi mắt tiễn hai cha con ra khỏ quán. Mãi khi cậu Trương đi thu bát đĩa, đột nhiên kêu lên khe khẽ. Hoá ra, đáy bát của cậu con trai đè lên mấy tờ tiền giấy, vừa đúng giá tiền của một đĩa thịt bò, được viết trên bảng giá của cửa hàng. Cùng lúc, Tôi, bà chủ, và cả cậu Trương chẳng ai nói lên lời, chỉ lặng lẽ thở dài, mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng.

(sưu tầm)

acaxomcui
15-06-2009, 16:14
Tính cách .Người đủ tính cách của một con người!đúng nghĩa một con người!

Ước gì những người đang làm chủ xã hội nầy có đủ tính cách như thế!

i like
15-06-2009, 21:24
văn Lên đánh người

đừng chơi ác

không biết có vác xác vể Nha trang - Tuy Hòa nổi không

---
i am looking for

tôi đang đi tìm

acaxomcui
15-06-2009, 21:54
văn Lên đánh người

đừng chơi ác

không biết có vác xác vể Nha trang - Tuy Hòa nổi không

---
i am looking for

tôi đang đi tìm


Hoàn toàn không hiểu gì cả!

acaxomcui
21-06-2009, 15:22
Ô Môn-là địa danh nổi tiếng của thành phố Cần thơ.Là nơi sản sanh nhiều văn nhân.Đăc biệt ,đây là quê hương của nghệ danh Mộc quán Nguyễn trọng Quyền,một bậc thầy sân khấu cải lương.


Mời các bạn xem một truyện ngắn của Đoàn thạch Biền -nói về Ô Môn.

---------------------------------------------------

HOA Ô MÔI ở Ô MÔN

Họp mặt bạn đọc Áo Trắng ở Long Xuyên xong, tôi nhờ Lộc - thổ công ở đây - chở tôi bằng xe Honda đến thăm một người bạn văn nghệ Ở huyện Ô Môn. Lộc nói:

- Cũng dễ thôi, huyện nằm trên đường chúng ta trở về Cần Thơ. Anh gặp ông bạn có chuyện gì vậy? Lấy bài đăng báo hả?

Tôi cười lắc đầu:

- Không. Ông ấy viết thư hẹn sẽ chiêu đãi tôi một món ăn đặc sản địa phương.

Lộc cười:

- Anh lúc nào cũng vậy. Chỉ món ăn mới quyến rũ được anh.

Qua một cây cầu, xe quẹo trái vào huyện Ô Môn. Tôi biết được là nhờ nhìn tấm bảng xanh chữ trắng gắn ở bên đường. Lộc vừa lái xe vừa kể chuyện tình bà Sử người Việt với ông Trăng người Khơme, đã tạo nên tên đất này. Hai người đã phải vượt qua nhiều khó khăn cách trở mới gặp được nhau. Nên họ đã "ôm-em-ôm-anh" thắm thiết không rời thành tên Ô Môn. Tôi bật cười thích thú với chuyện cười dân gian giải thích tên địa phương theo Lộc kể. Và tôi nghĩ thầm miền đất nào có tên gắn liền với một chuyện tình, miền đất đó sẽ rất có... tình.

Tôi nói địa chỉ của người bạn và Lộc lái xe chạy thẳng đến một bến sông. Dưới bến có những chiếc "tắc ráng" đậu san sát. Lộc dừng xe lại, hỏi tôi:

- Ông bạn anh tên gì?

- Văn Thành Duy.

- Ở đây hỏi bút danh không ai biết đâu . Anh có nhớ ông ấy nói ba ông ấy tên gì không?

Tôi cố nhớ địa chỉ người bạn đã viết trong thư: "Đến bến đò hỏi nhà ông Năm Thành ai cũng biết." Tôi nói lại với Lộc. Anh đến hỏi một thanh niên lái đò đang đứng rước khách trên bờ. Anh thanh niên gọi lớn xuống bến sông:

- Ê, út Hường. Có người hỏi thăm ba mày nè.

Một cô gái mặc áo bà ba màu hồng đang ngồi ở tắc ráng đậu phía xa, đứng dậy. Em nhanh nhẹn nhảy qua mấy chiếc tắc ráng đậu kế bên rồi leo lên bờ. Đi đến trước mặt tôi, em hỏi:

- Ông hỏi thăm ba em có chuyện gì vậy? Ông muốn mua cam hả?

Nhìn cái nốt ruồi trên mép trái của em, tôi nghĩ cô bé này chắc "lẹ miệng" lắm đây. Tôi trả lời:

- Không. Tôi đến thăm anh Duy.

Cô bé hất bím tóc đang đong đưa phía trước mặt ra phía sau rồi nói:

- Anh Duy đi Cần Thơ rồi.

Tôi nhíu mày vì người bạn sai hẹn. Tôi hỏi tiếp:

- Em có biết chừng nào anh Duy về không?

- Ảnh nói lên Hội Văn Nghệ Cần Thơ đón một người bạn ở Sài Gòn về chơi.

Lộc đứng bên nói xen vào:

- Đón ông này nè. Vậy chúng ta về Cần Thơ gặp ảnh.

Cô bé nói:

- Thôi, khỏi. Anh Duy có dặn bạn ảnh đến cứ chở về nhà. Ảnh sẽ về sau. Ông lên Cần Thơ không chừng hai người lại "lật" nhau.

Tôi rủ Lộc cùng đi chơi cho vui. Anh chỉ chiếc xe Honda rồi nói:

- Anh đi đi. Tôi về Cần Thơ báo cho bạn anh biết. Có gì sáng mai chúng ta gặp lại nhau.

Tôi nói:

- Chiều tối, tôi về lại Cần Thơ được mà.

Lộc cười:

- Dễ gì anh về được. Rượu gạo ở đây đâu có thiếu.

Lộc phóng xe chạy đi. Tôi theo cô bé leo xuống một chiếc tắc ráng gần bờ rồi bước qua những chiếc kế bên, để đến chiếc tắc ráng của em. Cô bé giật dây cho máy đuôi tôm nổ, chiếc tắc ráng từ từ lùi ra. Tôi ngồi đối diện với cô bé trong lòng tắc ráng hẹp mà dài. Hơi nước từ mặt sông phả lên mát rượi. Trên sông những chiếc tắc ráng xuôi ngược chở đầy trái cây và vật dụng gia đình bằng nhựa xanh đỏ. Tôi tò mò nhìn những cây mọc hai bên bờ, cố đoán xem cây nào là cây bần, cây tràm, cây ô môi... như đã đọc trong truyện. Nhưng tôi đành chịu thua vì mùa này chẳng có cây nào trổ bông để có thể nhận diện.

- Ông ở tuốt trên Sài Gòn làm sao quen với anh em ở tuốt dưới đây?

Tôi quay lại nhìn cô bé, nói:

- Tôi đã chọn thơ của anh Duy gửi lên đăng báo. Mấy tháng trước anh ấy có lên Sài Gòn nhờ tôi in giúp một tập thơ.

Cô bé la lên:

- Chết ông rồi!

Tôi giật mình, hỏi lại:

- Chuyện gì vậy?

- Ông xúi anh em in tập thơ phải không?

- Đâu có. Anh Duy tự nguyện in mà.

- Ba em cằn nhằn ảnh chuyện đó hoài. Làm vườn không lo làm cứ lo làm thơ. Mấy tháng trước ảnh nói với ba đưa cho ảnh ba triệu đồng làm vốn buôn bán. Ba tưởng ảnh mua cam quýt ở mấy vườn bên, đem lên Sài Gòn bán kiếm lời. Nào ngờ ít lâu sau ảnh đem về nhà một đống thơ.

Tôi bật cười:

- Cứ tưởng anh ấy đem tiền đi đánh bạc thua hết mới đáng buồn, chớ đem thơ về nhà là tốt rồi.

- Tốt gì? Thơ đâu có "ăn" được. Chất cả đống ở nhà đó. Mùa nước nổi vào nhà ảnh bắt em khiêng lên khiêng xuống đống thơ cất giữ. Cực muốn chết. Ông cũng làm thơ như anh em?

Tôi chẳng biết giải thích công việc của mình như thế nào cho em dễ hiểu. Tôi nói gọn:

- Tôi chuyên "mua bán" thơ văn.

Cô bé reo lên:

- Vậy ba em mừng lắm. Ông mua "mão" luôn đống thơ của anh em nghe. Giúp em đỡ cực.

Tôi chưa kịp trả lời thì cô bé lái qua phải, lách tránh một chiếc tắc ráng đang chạy thẳng về phía chúng tôi. Chiếc tắc ráng nghiêng hẳn qua bên phải, sóng tạt vào làm người tôi ướt đẫm. Tôi hoảng sợ nắm chặt hai lườn gỗ. Cô bé đột ngột rú ga bẻ lái qua trái, chiếc tắc ráng ngóc mũi lên khỏi mặt nước và phóng đi như mũi tên, tạo ra một tia nước bắn thẳng vào chiếc tắc ráng vừa chạy ngang qua. Tôi nghe có tiếng la ơi ới, tiếng chửi thề và tiếng cô bé cười khanh khách. Mặc dù vẫn còn hơi run vì sợ rớt xuống sông tôi cũng thầm khen cô bé lái giỏi.

Chiếc tắc ráng chạy từ từ rồi ghếch mũi vào một cây cầu gỗ. Cô bé tắt máy, nói:

- Đến nơi rồi. Mời ông lên nhà.

Ngôi nhà nằm sát bờ sông, mái ngói lợp đỏ tươi. Trước sân có hai cây cau cao vút và một cây dừa lùn với tay có thể hái được chùm trái xanh bóng. Một con chó vện chạy ra sủa vang, cô bé vỗ vỗ lên đầu nó rồi chúng tôi cùng bước vào nhà. Tôi vừa ngồi xuống ghế, cô bé đã chạy đến góc nhà giở một tấm bạt lên và nói:

- Đây đống thơ của anh em. Ông mua hết luôn nha.

Tôi cười nói:

- Từ từ. Đợi anh Duy về rồi tính. Ba má em đâu?

- Ba má em đang ở ngoài vườn.

- Bộ không có ai coi nhà sao?

- Ở đây đâu có trộm cắp mà sợ. Cả đống thơ để đó mà đâu có ai lấy mất cuốn nào.

Tôi thắc mắc chẳng hiểu sao cô bé có vẻ "căm thù" thi ca quá vậy? Chắc tại Duy đã bắt em khiêng đống thơ lên bộ ván ngựa mỗi khi nước vào nhà và bắt em phải canh chừng chuột bọ quậy phá?

- Ông uống nước dừa không để em hái?

- Tôi uống nước trà được rồi. Chúng ta ra vườn chơi đi.

- Ngoài vườn đâu có gì vui đâu mà chơi?

- Tôi muốn biết cây trái ở đây có khác với cây trái ở Lái Thiêu không?

Phía sau nhà là vườn cam rộng ngút mắt. Những lá cam xanh rì và những trái cam cũng xanh rì nằm lẫn vào nhau. Cô bé nói:

- Chừng tháng nữa ông trở lại cam sẽ chín vàng.

- Vườn nhà em rộng bao nhiêu?

- Hơn mười công đất. Trước kia ba em trồng cây ca cao nhưng không bán được nên đã chặt bỏ. Bây giờ trồng cam, quýt và bưởi.

Cô bé dắt tôi vào vườn quýt. Những trái quýt cũng còn xanh lè. Qua vườn bưởi cũng vậy. Những trái bưởi mới lớn bằng nắm tay. Tôi thở dài nói:

- Vậy là tôi vỡ mộng được ăn một bữa trái cây thỏa thích ở vườn.

Cô bé quay qua hỏi:

- Ông thích lạc hậu hay văn minh?

Tôi nghĩ chắc cô bé muốn hỏi tôi thích ở miệt quê "lạc hậu" hay ở thành thị "văn minh"? Sự thật tôi cũng đã ngán ở Sài Gòn ồn ào, náo nhiệt. Tôi thích ở miền quê yên tĩnh và ít xô bồ hơn. Nên tôi nói:

- Tôi thích lạc hậu.

Cô bé vụt chạy đi, mất dạng sau những tàn cây xanh rì. Một lúc sau em trở lại, đưa cho tôi một trái quýt nhỏ, vỏ vàng ửng. Em nói:

- Đó là trái quýt "lạc hậu" mùa trước còn sót lại . Còn trái "văn minh" nửa tháng nữa ông trở lại mới có. Đó là những trái chín sớm, trước mùa.

Tôi lắc đầu cười. Sử dụng ngôn ngữ như em thật hết ý! Tôi bóc vỏ trái quýt, đưa cho em một nửa. Cô bé xua tay:

- Em không thích "lạc hậu".

Tôi bỏ những múi quýt vào miệng nhai, ngọt lịm. Cô bé hỏi:

- Ông đói bụng chưa, để em lấy cơm nguội cho ông ăn.

- Thôi em khỏi mất công. Tôi đợi Duy về cùng ăn cơm cũng được.

- Đâu có mất công. Đây là cơm nguội.

Cô bé móc túi áo bà ba đưa cho tôi mấy trái xanh xanh.

Tôi ngạc nhiên hỏi:

- Chúng tên trái "cơm nguội" à?

- Em đâu có nói xạo. Ông ăn cho đỡ đói. Nó hơi chát một chút, vậy ông nên ăn với muối.

Cô bé lại móc túi áo bà ba lấy ra mấy trái bằng lóng tay màu nâu nâu.

- Trái "muối" à?

Cô bé gật đầu cười khúc khích. Nhìn cái nốt ruồi trên mép giật giật khi em cười, tôi biết mình đã đoán đúng. Cô bé này rất "lẹ miệng". Chắc lưỡi em dẻo như kẹo cao su. Tôi nghĩ phải tìm cách "phục thù", để cho em biết Sài Gòn đâu dễ bị qua mặt, chỉ vì không biết tên mấy trái cây miệt vườn.

Chúng tôi cùng đi ra bờ sông để đợi Duy về. Những chiếc tắc ráng vẫn chạy xuôi ngược ở dưới sông như xe cộ chạy trên đường phố. Tôi chỉ một cây có tàn lá rộng rạp sà xuống mặt sông, hỏi:

- Đó là cây ô môi phải không em?

Cô bé lắc đầu:

- Đó là cây còng - Em quay qua bên phải chỉ một cây cao cành lá thưa hơn - Đó mới là cây ô môi.

Tôi nhìn cái cây trầm trồ khen:

- Ô môi nở hoa đẹp quá!

- Ông đừng xạo. Mùa này đâu có hoa ô môi.

Tôi quay lại thật nhanh, chỉ đôi môi đỏ hồng của em và nói:

- Đây là hoa ô môi hay ô răng?

Cô bé đỏ mặt, bậm môi, cúi đầu suy nghĩ rồi em ngước lên hỏi:

- Vậy đố ông giải thích tên Ô Môn quê em?

Tôi mỉm cười nghĩ đây là cơ hội phục thù tốt. Tôi kể lại chuyện tình bà Sử ông Trăng như Lộc đã kể. Để cho em dễ hiểu, tôi minh họa bằng cách ôm chặt vai em và nói:

- "Ôm-em-ôm-anh" đọc nhanh thành Ô Môn... Á!

Tôi xuýt xoa chà bóp dấu răng cô bé cắn đỏ bầm trên cánh tay tôi. Trong khi đó em vừa cười nức nẻ vừa nói:

- Ông giải thích trật lất rồi. Ở đây đâu có vùng đất nào tên Ô-Môn-Á.

lennel
26-06-2009, 00:06
lụm bài nầy thấy hay hay..


o0o

Con Vẹt Xanh


Lưu Tư Kinh, là con trai duy nhất của bà mẹ quả phụ nghèo sống ở miền quê thưa người, xa lắc. Anh quyết chí lên thành phố mưu cầu tiến thân để sống tốt và giúp được mẹ già nơi quê nhà. Công việc và những lo toan chẳng bao giờ dứt… Lòng đầy nhớ thương, nhưng chẳng về mà thăm mẹ cho được, dù tháng nào anh cũng dành tiền gửi đều đặn về cho bà… Nhưng có lần trong thư mẹ anh gửi: Con trai ơi… đã quên mẹ rồi sao… Anh đọc thư mà nước mắt lã chã.

Rồi anh cũng đã tạm thu xếp mọi việc về quê thăm mẹ. Lòng tràn ngập hân hoan… Mẹ con lâu ngày gặp lại mừng mừng tủi tủi khôn xiết. Sờ nắn bờ vai con, người mẹ rưng rưng: Con ơi, mẹ nhớ con lắm…! Anh ôm lấy người mẹ dường như héo mòn đi qua năm tháng mà nhòa lệ: Mẹ ơi, con nhớ mẹ lắm…! Lần này con về mang cho mẹ Con Vẹt Xanh mua đắt tiền lắm, con đã nuôi dạy nó lâu… Khi con đi xa nó sẽ ở nhà bầu bạn với mẹ cho đỡ cô quạnh và mẹ cũng thấy con bên cạnh hàng ngày. Mẹ nghe chỉ bảo: Con tốn tiền đến vậy thật không thỏa đáng. Mẹ chỉ muốn thấy con hàng ngày… Anh bảo: Mẹ hãy kiên tâm, đến khi con tích lũy đủ tiền sẽ đón mẹ đi cùng.

Ở nhà được vài ngày, Lưu Tư Kinh chia tay mẹ lên đường trở lại thành phố, lại lao vào làm ăn, phấn đấu. Mẹ già ở nhà một bóng. Con Vẹt Xanh bên cạnh bà, thỉnh thoảng nó lại cất tiếng: Mẹ ơi, con Lưu Tư Kinh đây, con nhớ mẹ lắm… Mẹ ơi, mẹ vất vả quá, nghỉ tay một chút đi mẹ… Mẹ ơi mẹ khỏe mạnh nhé… Bà cảm thấy vui vẻ và ấm lòng hơn rất nhiều. Bà thương quý Con Vẹt Xanh vô cùng, tắm rửa, chăm sóc cho nó, trò chuyện hàng ngày như với con trai mình vậy.

Một năm, bà bị trọng bệnh, sau thời gian ngắn đã qua đời. Hàng xóm đã làm đám cho bà và tìm cách báo cho anh biết. Hẫng hụt, đau khổ, Lưu Tư Kinh dứt bỏ mọi công việc, ngay lập tức lên tàu xe trở về… Căn nhà trống không, vẫn còn mùi hương khói. Lọ tro của mẹ được đặt trên bàn hướng chính giữa. Anh nức nở thương xót mẹ và ân hận vô cùng đã không về chăm sóc và đưa được mẹ đến nơi an nghỉ cuối cùng.

Mệt mỏi và suy sụp, anh ôm tấm ảnh mẹ vào lòng thiếp đi lúc nào không biết. Anh mơ thấy mẹ hiền đang ngôi khâu vá bên anh, mỉm cười, quạt cho anh ngủ, thoang thoảng bên tai anh tiếng nói: Con ơi, mẹ nhớ con lắm… Anh sung sướng muốn nhào vào ôm lấy mẹ! Choàng tỉnh, không có ai xung quanh cả, nhưng tiếng nói : Con ơi, con có khỏe không… Mẹ nhớ con lắm… vẫn từ như rất gần đây đấy vọng đến… Anh đi nhẹ gần đến ban công sát vườn. Tiếng nói phát ra từ đó. Dưới ánh nắng hoàng hôn cuối cùng chiếu qua kẽ lá. Anh nhận ra Con Vẹt Xanh đang đậu trên cành cây! Anh đỡ nó lên tay, nó lại hót : Con ơi, con khỏe không? Mẹ nhớ con lắm… Con Vẹt đã gầy và tả tơi đi quá nhiều. Lưu Tư Kinh ôm con Vẹt vào ngực mình nức nở: Mẹ ơi, con thương nhớ mẹ vô cùng…

Ôi! Mẹ anh trước khi qua đời đã mở lồng thả Vẹt Xanh ra. Nhưng nó đã sống bầu bạn bên cạnh bà bao ngày, dường như thấu được tình cảm của Bà mà không bay đi, vẫn ở lại căn nhà nghèo trống trải này như đợi Lưu Tư Kinh trở về mà nhắn nhủ lời yêu thương của Bà với anh ấy…

acaxomcui
26-06-2009, 06:47
Những ai còn bên người Mẹ thân yêu,hãy luôn giữ lấy tình cãm của mẹ!

Nhớ Mẹ!

lennel
05-07-2009, 22:29
Elizabeth Báthory ( 1560 - 1614 )

http://chiase.anhso.net/as/08/02/19/2006442542.jpg (http://anhso.net)

Sinh: Tháng 8 -1560
Nơi sinh: Lâu đài Ecsed, Nyírbátor, Hungary
Mất: Ngày 21 - Tháng 8 -1614
Nơi mất: Lâu đài Cachtice, Slovakia
Nguyên nhân mất: không rõ
Di hài: Hỏa táng , Cachtice, Slovakia

Giới tính: Nữ
Tôn giáo: Cult
Chủng tộc: Da trắng
Khuynh hướng tình dục: Lưỡng tính ( quan hệ cả 2 giớ )
Công việc: Hoàng gia, Tội phạm

Quốc tịch: Hungary
Sơ lược về hành pháp: Người đàn bà khát máu - ô nhục của Hungary

Phụ thân: Baron George Bathory
Mẫu thân: Anna Bathory
Con gái: Anastasia Bathory (sinh. 1574, con ngoài giá thú)
Chồng: Count Ferencz Nádasdy (sinh 1555, cưới 8-May-1575, mất 4-Jan-1604)
Con gái: Anna Nádasdy (s. 1585)
Con gái: Katalin Nádasdy (s. 1594).
Con trai: Paul Nádasdy (s. 1598, m. 1650)
Người tình đồng giới: Klara Bathory (người dì đồng tính của Elizabeth)

Nơi bị bắt giữ 1610 to her death (Giam cầm trong 1 căn phòng trên toà tháp cao

NỮ BÁ TƯỚC KHÁT MÁU

Có 1 người phụ nữ rất nôỉ tiếng ở châu Âu vì sắc đẹp và tài ba. Nhưng tôi không muốn nói đến điều đó. Tôi muốn nói đến sự nổi tiếng cuả nàng trong giới Black Metal hơn. Bên cạnh Dracula, hoàng tử cuả bóng tối, nàng với biệt h “Blood Queen” được xem là biểu tựọng cuả cái ác thời trung cổ. Có 1 band nhạc lấy họ cuả nàng làm tên cuả mình và sau này trở thành 1 band Black Metal vĩ đại có sự nghiệp ghi âm to lớn nhất trong giới Black Metal. Có 1 band nhạc cực kỳ nổi tiếng là Cradle Of Filth đã dành trọn 1 album “ Cruelty And The Beast” để dành cho nàng, như muốn nàng được hồi sinh.

Câu chuyện về người đàn bà đã trở thành cảm hứng cho Bathory , Cradle Of Filth và Kamelot
Erzsébet ( Elizabeth ) Bathory ( 1560- 1614) , một nhân vật nổi tiếng không thua gì Vlad Dracul ( nguyên mẫu cho Dracula của Bram Stoker) bởi sự khủng khiếp trong những truyền thuyết về bà ta, thậm chí ở một chừng mực nào đó còn đáng ghê tởm hơn cả ngươì đồng hương Vlad của mình, bởi đơn giản chỉ vì lòng ham muốn bệnh hoạn sự trẻ mãi không già của mình mà bà ta đã tắm máu hơn 600 thiếu nữ đồng trinh. Cuộc đời thực của nữ Dracula, nữ bá tước Transylvania Elizabeth Bathory thực sự là một câu chuyện có những đoạn làm người ta buồn nôn và rợn tóc gáy

Nàng được mệnh h là 1 trong những người đàn bà đẹp nhất Châu Âu thời bấy giờ : ELIZABETH BATHORY.

Điểm qua về dòng họ Bathory

Gia đình Bathory có nguồn gốc từ bộ tộc Hung Nô Gutkeled, vốn thống trị một vùng rộng lớn ở Trung Âu( ngày nay là Ba Lan, Hungary, Slovakia và Rumani), có một địa vị quan trong trong nửa đầu thế kỉ 13.
Sau này, họ từ bỏ nguồn gốc bộ lạc dã man , lấy tên mới Bathory từ một phẩm chất của dòng tộc mình( Bátor nghĩa là dũng cảm). Quyền lực của họ đạt tới cực điểm vào giữ thế kỉ 16, nhưng theo đúng quy luật, đã suy tàn rất nhanh và sụp đổ hoàn toàn vào năm 1658. Lấy một cái tên cao quý không thể làm thay đổi một số những tập tính man rợ của một thời bộ lạc, để củng cố quyền lực của mình, những người thuộc họ Bathory đã lấy lẫn nhau, và hiển nhiên là sẽ phải có một số những kết quả không bình thường về di truyền học từ các cuộc hôn nhân cận huyết này.
Tuy nhiên không chỉ có vậy, một số những vấn đề về tâm thần đã xảy ra với nhiều người trong dòng họ, người ta cho rằng có một cái gen lặn "ma quỷ" nào đó đã xuất hiện và Elizabeth Bathory là trường hợp nổi bật nhất .

Cuộc đời của Elizabeth Bathory

Elizabeth Bathory sinh ra tại Hungary năm 1560, gần 100 năm sau cái chết của hòang tử bóng đêm Dracula. Một trong những người họ hàng tổ tiên của nàng là Steven Bathory đã từng phục vụ dưới quyền của hòang tử Dracula. Khi Elizabeth Bathory sinh ra, cha mẹ của nàng là vợ chồng Nam Tước George và Anna Bathory thuộc về tầng lớp cao quý và lâu đời nhất nước. Nàng học rất giỏi và vô cùng thông minh, có học vị cao và nói viết thông thạo tiếng Đức và tiếng Latinh. Nàng rất đẹp. Sắc đẹp cuả nàng đã được moị người sùng bái như một trong những người phụ nữ đẹp nhất châu Âu lúc bấy giờ.

Nữ bá tước Elizabeth Báthory.

Tuổi thơ của bà ta cũng bình thường như bao đứa trẻ khác, Elizabeth là một cô bé đúng mực và hoạt bát. Lớn lên cũng với những dặc quyền hoàng gia Hungari, thửa thiếu nữ, bà ta khá đẹp với gương mặt thanh tú và vóc người cao, mảnh mai, tuy nhiên nhân cách của bà ta lại không có sự phát triển tốt đẹp như ngoại hình.
Tuy bà ta không đẹp lắm nhưng mọi người vẫn khen ngợi vì Elizabeth là người của hoàng tộc và như thế có lợi cho họ. Vì vậy , lâu dần bà ta cho rằng nét đẹp nổi bật nhất của mình là làn da trắng mịn , nếu như ai nịnh bợ không được mặn mà , Elizabeth dĩ nhiên là sẽ rất căm hận.

Nàng có 1 người anh họ là thủ tướng của nước Hungary và chú Steven của nàng sau này là vua của xứ Ba Lan. Nhưng gia đình Bathory bên cạnh sự giàu có và nổi tiếng còn được mọi người biết đến với những tính cách quái dị, và những sở thích chả giống ai. Một người chú được biết đến là người tôn thờ ác quỷ, còn các thành viên khác trong gia đình thì hư hỏng và trụy lạc.

Vào ngày 8 tháng 5 năm 1575 vào lứa tuổi 15, Elizabeth Bathory lên xe hoa vớiBá tứơc Ferenc Nadasdy, một chàng trai 25 tuổi trong một đám cưới linh đình nhất vương quốc với 4500 khách mời tòan là giới thượng lưu của vùng Đông Âu. Bá tước này đã thêm chữ Bathory làm họ của mình và do đó nàng Elizabeth vẫn giữ nguyên được họ của tổ tiên. Sau lễ cưới họ cùng nhau dọn đến tòa lâu đài Castle Cséjthe vốn là một pháo đài giám sát ngôi làng Csejthel là một vùng đất nằm ở phía Tây Bắc Hungary. Nó nằm sâu heo hút trong ngọn núi Carpathian ( nằm ở trung tâm Rumani ngày nay, thường được biết đến với cái tên Transylvania), Lâu dài nằm tại một nơi hẻo lánh ,xa các khu đô thị, giưã những ngôi nhà của những người nông dân chất phác nằm rải rác trên các mỏm núi. Đây thực sự là địa bàn lí tưởng cho những tội ác của Elizabeth sau này.
http://chiase.anhso.net/as/08/02/19/mons775875.jpg (http://anhso.net)
Vợ chồng nàng còn sở hữu thêm 17 ngôi làng xung quanh vùng lân cận. Chồng nàng cũng từng dạy cho nàng nhiều cách tra tấn. Bá Tước Ferencz rất ít có thời gian ở nhà với vợ vì ông phải tham gia lãnh đạo cuộc chiến chống bọn Thổ. Anh luôn là một chiến binh dũng cảm, gan dạ trong chiến đấu, một anh hùng lực lượng vũ trang Hungary, xông pha trên mọi mặt trận hạ gục được nhiều tướng giặc. Với rất nhiều thành tích sáng chói chính phủ Hungary đã tặng cho chàng h hiệu “ Người hùng Đen Tối của Hungary”.

Vợ chồng họ sinh được 5 người con có tên là Anna, Ursula, Katharina, Andrej, Pavon (Ursula và Pavon chết sớm). Trong khi chồng mình chìm đắm trong những cảm xúc, tắm mình trong những biển máu của chiến tranh, trong suốt 25 năm cưới nhau, Elizabeth Bathory, một người không thích tìm thú vui ở bên ngoài lâu dài với những người nông dân chân lấm tay bùn, thường thui thủi có một mình trong tòa lâu đài trống vắng và cảm thấy cuộc đời trở nên tẻ nhạt và nhàm chán. Bà ta chỉ có một thú vui là tài trợ cho những kẻ kì lạ, có thể là phù thuỷ , pháp sư hay các nhà giả kim , họ dạy cho Elzabeth những học thuật của mình và bà ta mê mẩn với những điều huyền bí này. Tuy nhiên , với bà ta như thế chưa đủ.

http://chiase.anhso.net/as/08/02/19/Eliz218318.jpg (http://anhso.net)

Elizabeth không đơn độc trong những sở thích quái gở của mình , chính cô của bà ta đã nhận thấy những "tiềm năng" của cô cháu gái và đã dạy Elizabeth sự khoái lạc khi hành hạ thân thể người khác. Elizabeth giết thời gian bằng cách bát trói những con nợ của mình vào nhà ngục của lâu đài và hành hạ họ bằng những hình cụ của chồng, máu và tiếng la thét của họ làm bà ta vui thích , bà ta thích đứng trứoc mặt để đánh họ vì như thế bà ta có thể thấy gương mặt họ biến dạng vì đau đớn.
Một quả phụ già có tên mỹ miều là Dorothea Szentes, thường gọi là Dorka vốn là một mụ phù thủy thực sự đã dẫn nàng tìm đến thế giới những phù thủy và những ma thuật đen tối. Sau đó Dorka trở thành cánh tay, trợ thủ đắc lực cho Bathory, phát triển và truyền bá kích thích tư tưởng ác ********* cho Bathory và dạy cho nàng biết niềm vui, sự sung sướng khi gây ra những vết đau trên cơ thể những người khác. Cùng với Dorka, Elizabeth Bathory thắt chặt kỷ luật với những người hầu nữ cuả mình và hành hạ những kẻ vi phạm trong căn hầm ngầm của mình. Trong lâu đài còn có thêm những kẻ hỗ trợ khác cho nàng trong những trò chơi rùng rợn đó là bà hộ lý già Iloona Joo, bà vú Johannes Ujvary và một thiếu nữ có tên là Darvula, nghe đồn hình như là 1 trong những nhân tình của Bathory. Lực lượng cho cuộc vui khát máu đã đày đủ.

Với sự giúp đỡ của những kẻ này, Elizabeth Bathory biến tòa lâu đài thành một nơi âm u tàn ác , đầy ắp những tội lỗi với những dụng cụ tra tấn treo khắp nơi. Nàng luôn tìm cách bắt lỗi những người hầu của mình để được trừng phạt họ, hành hạ họ cho đến chết. Nàng như một con thú khát máu không biết no là gì. Nàng thường lột những nạn nhân của mình trần truồng, trói họ nằm dài trên mặt đất, dùng roi da đánh cho họ tan nát thịt xương và mỉm cười một cách khóai trá. Nàng hả dạ khi nhìn thấy những gương mặt của họ xoắn lại vì sợ hãi và kết thúc sự sợ hãi trên khuôn mặt đó bằng một ngọn lửa thiêu rụi thành tro tàn. Nàng thường ngắm nhìn say sưa những bộ da được lột ra một cách khéo léo của các nạn nhân. Môt sở thích khác của nàng là dùng tay cào nát thân thể nạn nhân sau khi đánh cho da thịt bê bết máu để thỏa mãn cơn thèm khát. Nàng cắt từng miếng thịt cuả họ rồi bắt họ phải nuốt chửng trở lại hoặc bắt họ phải ăn sống thịt của những cô gái khác. Các nạn nhân thường phải nhịn đói và khát đến kiệt sức lúc đấy thì sức kháng cự yếu hẳn đi dễ hành động hơn.. Cuối cùng nàng đốt cháy các nạn nhân cuả mình bằng rượu và đèn cầy.


.Bá tước Ferencz qua đời :

Chồng Elizabeth chết năm 1604 (có người cho rằng là 1600 hay 1602) vì bị một gái điếm ở Bucarest đâm khi ông này quịt không giả tiền , và Elizabeth mơ ngay đến việc có một người tình .Nhưng lúc này Elizabeth đã 43 tuổi, nhan sắc đã tàn ,nước da "thiên thần " đã khô héo , nàng mơ ước về một người tình tiêu tan và nàng trở nên căm thù thời gian đã lấy đi sự trẻ trung của mình.

Tuy nhiên việc tìm một ông chồng chỉ là mối quan tâm nhỏ nhặt của Elizabeth, vì sau khi chồng chết , nàng trở thành miếng mồi béo bở cho những đức ông muốn dựa dẫm uy quyền của dòng họ Bathory, Elizabeth thuộc vào chi họ đựoc kế thừa ngôi vua của Ba Lan, có thể sử dụng được 4 thứ tiếng trong khi ông hoàng Transylvania có thể nói là một anh nông dân , mù chữ và chỉ tắm duy nhất một lần trong năm vào ngày sinh nhật.

Vì vây, duy trì sắc đẹp và vẻ thanh xuân của mình trở thành mối quân tâm lớn nhất đối với Elizabeth, nàng hiểu rằng tất cả những tham vọng của mình, chính trị đều phụ thuộc vào đó, nếu không giữ được sự trẻ trung thì sẽ mất tất cả.
http://chiase.anhso.net/as/08/02/19/eliz875975.jpg (http://anhso.net)

Và đây chính là lúc Elizabeth Bathory đẩy sự tàn ác cuả mình lên đến cực điểm trong cuộc đời mình. Nàng càng ngày càng trở nên tàn bạo ác độc hơn. Một thời ký mới trong cuộc đời của Bathory bắt đầu. Đầu tiên nàng đuổi bà mẹ chồng mà nàng vô cùng căm ghét ra khỏi nhà.Tiếp theo nàng đắm chìm, tìm sự yên bình trong máu cuả các nạn nhân cuả mình như trước kia. Chỉ một thời gian ngắn sau khi chồng chết sự kiện này đã làm nàng thay đổi hòan tòan. Nàng bây giờ đã là một goá phụ gần 40 tuổi và tuổi gia đang rung chuông chờ đón. Nàng cũng chẳng muốn bước thêm bước nữa để gò bó mình làm gì. Elizabeth Bathory vô cùng lo lắng. Nàng sợ già. Nàng lo đến mất ăn mất ngủ. Nàng không muốn trở thành một góa phụ già nua xấu xí. Nàng tìm cách quên đi chuyện đó bằng cách tìm đến các lọai mỹ phẩm. Nhưng điều này đã phát sinh phản ứng phụ. Da mặt nàng nhăn nheo, bị tàn phá bởi dịnh ứng với những chất hoá học. Nàng ngày càng già hơn và trốn luôn trong ph*ng không dám ra ngòai. Hỡi ơi còn đâu sắc đẹp từng khuynh đảo cả vương quốc. Và một ngày nọ……

Một người hầu phòng vô tình kéo tóc nàng trong lúc chải đầu cho nàng khi nàng đang tắm. Bathory của chúng ta vô cùng giận dữ. Nàng dùng hết sức bình sinh tát một cái thật mạnh vào mặt con hầu khốn kiếp. Máu phọt ra ướt tay nàng và tay con hầu. ( Có tài liệu lại ghi là : máu giây ra tay bà ta khi dùng một cái đinh rạch mặt cô gái ) . Quả là 1 người đàn bà hung bạo. Nhưng có một chuyện lạ xảy ra. Khi máu con hầu chạm đến da nàng, nàng cảm nhận được một cảm giác lâng lâng khó tả. Da nàng như căng ra. Người nàng rạo rưc trở lại. Nàng cảm thấy như mình đang hồi xuân. Tuổi già như tan biến. Elizabeth thấy dường như chỗ da bị máu giây phải có vẻ như mềm mại trắng trẻo ra.
Ngay lập tức nàng hỏi ý kiến của các nhà giả kim của mình, bọn này để không làm phật lòng nữ chủ nhân đã bịa ra một câu chuyện : Rằng xưa lắm rồi, ở một nơi xa xôi, có lần máu của một cô gái trẻ đã tạo ra hiện tượng tương tự với làn da của một nhân vật quan trọng.
Với một bằng chững thuyết phục như vậy, không có lí gì Elizabeth lại không sung sướng vì đã tìm ra một bí quyết để bảo vệ sắc đẹp: Máu!!! Nàng đã biết nàng cần gì.

Nàng lập luận rằng một chút máu mà đã có tác dụng tốt thì nếu đựoc tắm trong máu của các cô gái đồng trinh , hoặc với những cô gái xinh đẹp thì uống máu họ, nàng có thể trẻ đẹp mãi mãi.
Nàng cũng được Cố vấn sắc đẹp của mình , một người đàn bà tên là Katarina, tán thành ý kiến đó. Thế là cùng với sự trợ giúp của một người hầu tin cẩn là Dorotta Szentes, hàng đêm Elizabeth bí mật lúng sục ,và bắt cóc các trinh nữ ở những ngôi làng chung quanh đẻ lấy máu tắm.
http://chiase.anhso.net/as/08/02/19/mons229319.jpg (http://anhso.net)


Một cuộc săn máu tàn ác bắt đầu. Cùng với sự giúp đỡ của Johannes Ujvary và Dorka, họ bắt giữ các thiếu nữ còn trinh trong vùng. Họ trói gô lại. Hành hạ. Đánh đạp. Bạo *********. Cuối cùng họ kéo lê nạn nhân (những cô gái trẻ còn trinh) đến một cái vại to giống như một cái bồn tắm mini, cởi hết quần áo và cắt động mạch tay của họ rồi hứng máu vào vại. Chờ đến khi nạn nhân chết hẳn, Elizabeth Bathory khoan khoái nhẹ nhàng bước vào thùng máu, tắm rửa vô cùng thích thú và thỏa mãn. Nếu may mắn bắt được một cô gái đẹp, nàng đối xử đặc biệt hơn, đó là nàng uống máu họ trong một cái bình vàng... Và nàng đã hiểu. Nàng đã tìm được bí mật của tuổi trẻ bất tận trong tư tưởng của Ma cà Rồng. Bây giờ với nàng, máu là sự sống!!!!

Mười năm sau đó, Elizabeth Bathory và những người hầu tin cẩn của mình tìm được máu từ hàng trăm cố gái trẻ đẹp, những thiếu nữ trong làng và những vùng lân cận, những cô gái được thuê mướn trong lâu đài cũng không thoát khỏi số phận.

ở Transylvania lúc đó , các ông bố bà mẹ cho rằng cần phải cho các cô con gái ở tuổi cập kê của mình được giáo dục trong một môi trường xã giao quý phái , như thế họ mới có thể tìm được những đám tốt.

Lợi dụng điều này, năm 1609, Elizabeth cho mở một "học viện" trong lâu đài cho các cô gái và ngay lập tức nhận được 25 cô từ các gia đình nghèo khó mơ một cuộc đổi đời. Được dãn dắt bởi Dorotta Szentes, những cô gái này đựoc "giáo dục " thật cẩn thận, lần lượt họ bị thủ tiêu cùng một kiểu với hàng trăm cô gái nông dân trước đó.

Họ giả h những người tìm người hầu cho bà Bá tước, mời những nạn nhân về lâu đài và hút máu họ. Các thiếu nữ đồng trinh này khi vào trong lâu đài, bị hành hạ, cắt xẻo và hút hết máu cho đến chết để cho nàng Elizabeth Bathory của chúng ta duy trì được tuổi trẻ của mình. Nhưng cũng có lúc Elizabeth Bathory phát hiện máu của các cô nàng nông dân thường có chất lượng không cao lắm : Sau 5 năm, nàng chỉ nhận thấy máu của các cô gái có đôi chút tác động lên làn da của mình, thế là nàng cho rằng máu của các thiếu nữ nông dân không tốt và cần có loại máu tốt hơn.Và nàng chuyển sang săn lùng các cô gái quý tộc vốn sạch sẽ và thuần khiết hơn. Một âm mưu ghê tởm đã hình thành và chắc bà ta cũng không thể ngờ đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến sự kết thúc của những truyền thuyết đẫm máu.

Cái kim trong bọc cũng có ngày lòi ra. Cùng với sự biến mất đi dần dần một cách bí ẩn của các cô gái quý tộc, Elizabeth Bathory không ngờ mọi việc lại diễn ra dễ dàng như thế, lần đầu tiên trong cái sự nghiệp ghê rợn của mình , Elizabeth làm việc ngày một bất cẩn hơn trong, tỏ ra cẩu thả khi vứt xác của bốn cô gái ra ngoài lâu đài sau một cơn mê muội vì khoái cảm.

Sai lầm đó khi được nhận ra thì đã quá muộn. Những người dân làng trong vùng bắt đầu có lời qua tiếng lại. Những người nông dân đã phát hiện ra các tử thi và dần dần , điều bí mật đẫm máu về sự mất tích của những cô gái trẻ đã lộ ra ánh sáng. Và tiếng ác đồn xa cuối cùng cũng đến tai hòang đế Hungary. Ngay lập tức ngài đã ra lệnh cho Bá Tước Cuyorgy Thurzo là anh họ của Bathory đồng thời cũng là thống đốc của vùng đột nhập lâu đài để điều tra mọi việc cặn kẽ .

Vào lúc 11h chiều giờ Hungary ngày 30 tháng 12 nă m 1610 một nhóm lính dưới sự chỉ huy của Bá Tước Cuyorgy Thurzo đã đột nhập vào lâu đài Csejthe vào ban đêm. Họ bị kinh hòang bởi những cảnh tượng khủng khiếp mà mình trông thấy.Tàn ác. Đẫm máu. Một cô gái đang giẫy chết đành đạch như 1 con ếch trong đại sảnh, máu bị rút hết hòan tòan. Một cô khác người bị dao cắt tan nát nhưng vẫn còn thoi thóp. Sau đó họ phát hiện được trong ngục tối còn khỏang chục cô gái trần truồng, 1 số bị tra tấn, số còn lại thì vô cùng hỏang lọan. Đào xới tung lâu đài lên họ phát hiện hơn 50 xác chết của các thiếu nữ khác.

Trong suốt năm 1611 một cuộc điều tra thống kê cho biết đã có 650 cô gái bị giết dưới tay bá tước phu nhân xinh đẹp của chúng ta. Vụ xử án diễn ra rất lớn với quy mô tòan quốc. Cả vương quốc đều rất quan tâm. Một bản sao biên bản xử án hiện nay vẫn còn lưu giữ tại Hungary là mốt bằng chứng chứng tỏ sự thật của câu chuyện này. Bốn kẻ đồng phạm của Elizabeth Bathory bị kết án tra tấn cho đến chết theo cách mà họ đã làm với những người khác. Joo Và Dorka thì bị dùng kìm rút hết các ngón tay rồi bị thiêu sống. Ficzco người đồng phạm nam thì bị đánh cho phọt hết máu và óc ra ngoài rồi thiêu rụi. Katharina thì bi chặt hết tay chân chết trong đau đớn. ( có thông tin cho rằng riêng với Katarina , không hiểu vì lí do gì đã đựoc coi là một nạn nhân và được thả tự do) .Và bà bá tước bị ép phải chứng kiến sự xử tử của các kẻ đồng phạm của mình và sau đó bị nhốt trong tòa lâu đài của mình. Nhưng nàng vẫn phải lãnh hình phạt thích đáng cho riêng mình. Elizabeth, vì dòng máu hoàng tộc , không bị thiêu sống mà bị Vua Hungary ra lệnh giam đến hết đời trong một căn phòng nhỏ xíu chính tại lâu đài của nàng. Những người thợ đá được điều đến để lấp kín cửa sổ và cửa cái dẫn đến căn phòng đó. Tại đó nàng sẽ trải qua những năm tháng cuối cùng của mình trong căn phòng chỉ có 1 khe nhỏ đủ để đưa thức ăn vào.

http://chiase.anhso.net/as/08/02/19/cach986187.jpg (http://anhso.net)

Vào ngày 21 tháng 8 năm 1614, 4 năm sau khi kết án, một viên cai ngục phát hiện thức ăn không được đ.ng đến nữa. Nhìn lén qua khe cửa anh ta thấy nữ Bá tước nằm úp mặt xuống sàn nhà. Bá tước hút máu Elizabeth Bathory chết khi 54 tuổi và không bao giờ thốt ra một từ ân hận vì những điều khủng khiếp mà mình đã làm



...............................

The Old Man
05-07-2009, 23:15
Sáng Chúa Nhật đọc bài post mới máu me là hư hết một ngày đẹp.
Muốn xoá nó đi nhưng lở đã đọc rồi.

Không ngờ Lennel phát bịnh trầm trọng.
Từ bài viết con lật đật bị chặc chân bỏ vô lu rồi tới những chuyện buồn uỷ mị.
Bây giờ đến những chuyện giết người tắm máu.

:evil::evil:Hôm nay trăng tròn Lennel đi dạo Web?:evil::evil:

xichlox
05-07-2009, 23:23
Mấy cái hình minh họa coi hấp dẫn hể lol
Con mụ già Elizabeth Bathory này mà giờ còn sống chắc dám tung lên youtube đoạn phim (hài lol) vừa rồi cho bà con xem và bình chọn.

lennel
07-07-2009, 00:58
Sáng Chúa Nhật đọc bài post mới máu me là hư hết một ngày đẹp.
Muốn xoá nó đi nhưng lở đã đọc rồi.

Không ngờ Lennel phát bịnh trầm trọng.
Từ bài viết con lật đật bị chặc chân bỏ vô lu rồi tới những chuyện buồn uỷ mị.
Bây giờ đến những chuyện giết người tắm máu.

:evil::evil:Hôm nay trăng tròn Lennel đi dạo Web?:evil::evil:

len xin lỗi Bác Tom tại len hông biết..
nếu post ko đúng len nhờ Bác Tom xóa giúp len

kính!

....

len ko để ý vụ trăng tròn méo.. len ngẫu hứng là chính thoai.. ...

lennel
29-07-2009, 16:16
"Đọc bài viết 'Tình mẫu tử' của blogger Sunny Nhung, độc giả Hồng Ánh đã gửi cho chuyên mục Chơi Blog một câu chuyện xúc động bạn sưu tầm được, như một món quà nhỏ chia sẻ với độc giả. Dù đã đọc tới lần thứ 3 mà bạn vẫn rơi nước mắt!"

Hồng Ánh (anhoptin1@yahoo.com)


.....


Suốt thời thơ ấu và cả khi lớn lên, lúc nào tôi cũng ghét mẹ tôi. Lý do chính có lẽ vì bà chỉ có một con mắt. Bà là đầu đề để bạn bè trong lớp chế giễu, châm chọc tôi.

Mẹ tôi làm nghề nấu ăn để nuôi tôi ăn học. Một lần bà đến trường tìm tôi khiến tôi phát ngượng. Sao bà lại có thể làm như thế với tôi? Tôi lơ bà đi, ném cho bà một cái nhìn đầy căm ghét rồi chạy biến. Ngày hôm sau, một trong những đứa bạn học trong lớp la lên: "Ê, tao thấy rồi. Mẹ mày chỉ có một mắt!".

Tôi xấu hổ chỉ muốn chôn mình xuống đất. Tôi chỉ muốn bà biến mất khỏi cuộc đời tôi. Ngày hôm đó đi học về tôi nói thẳng với bà: "Mẹ chỉ muốn biến con thành trò cười!".



Mẹ tôi không nói gì. Còn tôi, tôi chẳng để ý đến những lời nói đó, vì lúc ấy lòng tôi tràn đầy giận dữ. Tôi chẳng nghĩ gì đến cảm xúc của mẹ. Tôi chỉ muốn thoát ra khỏi nhà, không còn liên hệ gì với mẹ tôi. Vì vậy, tôi cố gắng học hành thật chăm chỉ, và sau cùng, tôi có được một học bổng để đi học ở Singapore.

Sau đó, tôi lập gia đình, mua nhà và có mấy đứa con. Vợ tôi là con nhà gia thế, tôi giấu nàng về bà mẹ của mình, chỉ nói mình mồ côi từ nhỏ. Tôi hài lòng với cuộc sống, với vợ con và những tiện nghi vật chất tôi có được ở Singapore. Tôi mua cho mẹ một căn nhà nhỏ, thỉnh thoảng lén vợ gửi một ít tiền về biếu bà, tự nhủ thế là đầy đủ bổn phận. Tôi buộc mẹ không được liên hệ gì với tôi.

Một ngày kia, mẹ bất chợt đến thăm. Nhiều năm rồi bà không gặp tôi, thậm chí bà cũng chưa bao giờ nhìn thấy các cháu. Khi thấy một bà già trông có vẻ lam lũ đứng trước cửa, mấy đứa con tôi có đứa cười nhạo, có đứa hoảng sợ. Tôi vừa giận vừa lo vợ tôi biết chuyện, hét lên: "Sao bà dám đến đây làm con tôi sợ thế? Đi khỏi đây ngay!". Mẹ tôi chỉ nhỏ nhẹ trả lời: "Ồ, xin lỗi, tôi nhầm địa chỉ!" và lặng lẽ quay đi. Tôi không thèm liên lạc với bà trong suốt một thời gian dài. Hồi nhỏ, mẹ đã làm con bị chúng bạn trêu chọc nhục nhã, bây giờ mẹ còn định phá hỏng cuộc sống đang có của con hay sao?

Một hôm, nhận được một lá thư mời họp mặt của trường cũ gởi đến tận nhà, tôi nói dối vợ là phải đi công tác. Sau buổi họp mặt, tôi ghé qua căn nhà của mẹ, vì tò mò hơn là muốn thăm mẹ. Mấy người hàng xóm nói rằng mẹ tôi đã mất vài ngày trước đó và do không có thân nhân, sở an sinh xã hội đã lo mai táng chu đáo. Tôi không nhỏ được lấy một giọt nước mắt.

Họ trao lại cho tôi một lá thư mẹ để lại cho tôi:

"Con yêu quý,
Lúc nào mẹ cũng nghĩ đến con. Mẹ xin lỗi về việc đã dám qua Singapore bất ngờ và làm cho các cháu phải sợ hãi. Mẹ rất vui khi nghe nói con sắp về trường tham dự buổi họp mặt, nhưng mẹ sợ mình không bước nổi ra khỏi giường để đến đó nhìn con. Mẹ ân hận vì đã làm con xấu hổ với bạn bè trong suốt thời gian con đi học ở đây.

Con biết không, hồi con còn nhỏ xíu, con bị tai nạn và hỏng mất một bên mắt. Mẹ không thể ngồi yên nhìn con lớn lên mà chỉ có một mắt, nên mẹ đã cho con con mắt của mẹ. Mẹ đã bán tất cả những gì mẹ có để bác sĩ có thể thay mắt cho con, nhưng chưa bao giờ mẹ hối hận về việc đó. Mẹ rất hãnh diện vì con đã nên người, và mẹ kiêu hãnh vì những gì mẹ đã làm được cho con. Con đã nhìn thấy cả một thế giới mới, bằng con mắt của mẹ, thay cho mẹ..

Mẹ yêu con lắm,
Mẹ của con...".


NGOÍSAO.NET

phamchihuy
29-07-2009, 16:24
Lại đào mồ nửa!
:punk::punk::punk::punk::punk:

acaxomcui
29-07-2009, 16:30
Thương mẹ vĩ đại quá!Cám ơn len!



Lại đào mồ nửa!
:punk::punk::punk::punk::punk:


Bác chỉ quen lướt...mà không chịu xem!

i like
31-07-2009, 07:38
Tôi nghiệm ra một điều: Những người sắc sảo thì chẳng hiền hòa tí nào

Tôi vác rổ bút và túi thơ sang diễn đàn khác tìm bạn mới và bắt đầu từ đầu, tập viết a b c với các bạn mới. Tôi biết rằng phải tốn một thời gian dài thì mới có thể dần dần hiểu nhau, rồi mới có ý văn lời thơ trong tiếng nói chung, tôi vẫn đi trên con đường này với hy vọng rằng một ngày nào đó tôi lại có những dòng cảm xúc để viết thật thỏa mái

Còn ở đây tôi muốn nói rằng: ngoài những lời văn sắc sảo và ý thơ mênh mông thì bạn chẳng là gì đối với tôi, tôi không muốn làm bạn buồn, nhưng bạn đừng nên làm cao

Thật đúng như lời ai đó đã viết: 'Trong mối tình đầu tôi mượn bóng hình em'
Em ở đây chỉ là nguồn cảm hứng

acaxomcui
31-07-2009, 09:38
Nếu ..một ngày nào đó,không là thời gian,chỉ là không gian tồn tại..một màu tím phai dần trước mắt,lại màu tím nhạt nhòa..hình bóng em cũng nhạt nhòa..không chỉ là nổi buồn,mà lại là nổi sợ,tôi đánh mất em mà tôi hiểu đó là chắc chắn,rất chắc chắn vì đó là lẽ đương nhiên !!!

lennel
08-08-2009, 23:42
Tác Giả: Nguyễn Quốc Văn




Thuở tôi còn nhỏ, nhà tôi nghèo đến mức cứ trông thấy cơm là tôi thèm có thể khóc lên được vì thương thân, tủi phận...
Vào ngày họ làm đám giỗ cụ tằng tổ, tuy chỉ bé như cái kẹo, nhưng do được cụ trưởng họ bổ theo lệ một suất đinh, tôi cũng được gọi đến để trình diện trước bàn thờ tiền nhân.
Đến lượt, tôi phủ phục xuống trước ban thờ lớn đang nghi ngút hương trầm. Lúc ngẩng đầu lên, tôi thấy một mâm xôi gấc vàng óng ánh những mỡ gà; bên trên là một cái thủ lợn lớn. Vái xong, tôi đứng dậy, lầm rầm khấn...
Mâm xôi níu chân tôi lại. Thừa lúc cụ trưởng họ quay ra ngoài gọi một tay đinh khác vào trình tổ, tôi thò tay véo một nắm xôi nhỏ, giấu lẹm vào túi áo nâu. Lẻn ra ngoài ngõ, tôi ngồi tựa lưng vào một đụn rạ, lấy xôi ăn trộm được ra ăn.
Chính ngọ, mâm lễ được hạ xuống. Cụ đồ Bỉnh, trưởng họ nhìn chăm chắm vào chỗ xôi bị khuyết, giọng lạc đi:
- Các cụ thương con cháu nghèo nên chỉ nếm tí chút hương hoa...
Thấy tôi tái mặt đi, cụ trưởng họ hỏi:
- Có đúng như vậy không, cháu?
Tôi lí nhí:
- Không đúng! Cháu thèm quá nên đã véo một miếng...
- Trời ơi ! Bố tôi đứng bên cạnh kêu lên.
Rồi ông nắm lấy tay tôi, lôi xềnh xệch về nhà.
Tôi ăn đến cái roi mây thứ mười thì cụ trưởng họ tới. Cụ nắm lấy cái roi trong tay bố tôi, can:
- Cháu nó trót dại. Nhưng nó đã không lừa ai. Con nên tha trước, rồi dạy dỗ sau...
Bố tôi buông roi, chắp hai tay, lạy:
- Con xin lĩnh lời thầy. Xin thầy xá tội bố chưa dạy bảo con đến nhẽ...
- Thôi được - Cụ trưởng họ nói - Ra ngoài rằm, con cho nó đến nhà ta học lấy ít chữ nghĩa thánh hiền...

- o O o -

Lớp học toàn trẻ con trong xóm. Dĩ nhiên cụ đồ chỉ dạy chữ nho. "Nhân chi sơ, tính bản thiện", sáu chữ này thầy dạy viết và giải nghĩa mất vị chi là chín buổi. Rồi "Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín", "Trung, hiếu, tiết, nghĩa"...Về sau, thầy bình cả thơ Đường luật. Hầu hết là thơ tứ tuyệt, do thầy trước tác...
Cụ đồ về với tổ tiên vào đúng ngày xã tôi khánh thành trường cấp một xây ở cạnh một ngôi chùa cổ. Năm ấy, tôi đến trường học chữ quốc ngữ. Càng lên các lớp trên, vốn chữ nho thầy đồ Bỉnh truyền cho chúng tôi cứ ngày một rơi rụng dần. Riêng tôi, học thầy hơn một ngàn chữ, lúc ấy không nhớ nổi lấy vài trăm...Bố tôi hay phàn nàn rằng, trước lúc mất, thầy dặn đã viết riêng cho tôi một bài thơ, nhưng không rõ cụ ghi vào tờ giấy nào. Mà có tìm thấy nó, không biết tôi có còn đủ chữ để đọc và hiểu rõ nghĩa không !
Mấy chục năm đã trôi qua, lòng tôi vẫn canh cánh bài thơ cuối cùng cuả thầy. Tiếc là cả dòng họ lục tìm mọi bút tích cuả cụ đồ, vẫn tịnh không thấy.
Hè vừa qua, tôi vượt gần hai ngàn cây số về thăm quê. Rồi bố tôi và tôi - một tóc đã trắng như mây, một mái đầu cũng đã điểm nhiều sợi bạc - lại dắt nhau đến nhà thờ họ. Bố tôi bảo bài trí trên bàn thờ họ thầy tôi đã xếp đặt lại ngay sau ngày tôi véo nắm xôi kia, đến hôm nay vẫn chưa hề thay đổi. Trước bài vị tổ tiên, vẫn hai chiếc độc bình lớn, một cắm thanh gươm, một cắm cây bút lông theo thế nghiêng vào nhau...
Tôi mở to mắt, ngạc nhiên, kêu lên thảng thốt:
- Bố ơi ! Bài thơ thầy để lại kia kia kìa ! Chỉ độc có một chữ...
Bố tôi bảo tôi đọc bài thơ. Nghe xong, ông ngồi sụp xuống, ôm lấy mặt. Một lát sau, ông nắm lấy tay tôi, khẽ khàng nói:
- Bố biết con học cao, đi nhiều, biết lắm. Song bố cũng cứ hỏi thật: con đã thấu chữ "nhân" thầy để lại chưa?
Nghe bố hỏi, mặt tôi đỏ rần lên vì xấu hổ...











Em Gái Một Nhà Văn

Tác Giả: Nguyễn Quốc Văn






Nhà có hai anh em.
Lần ba uống rượu say, chơi trong đám bài, cãi lộn, bị người ta đấm một quả vào mặt, ngã vật vào tường, ai cũng tưởng con bạc ngủ. Đám bạc tan nghe người ta kêu, má kêu xích lô đến đón. Bả khóc rú lên khi thấy ba đã lạnh cứng...
Lúc ấy hai anh em đang chơi nhảy lò cò. Thấy má khóc hai đứa chạy vô ngó, thấy ba ngủ như mọi lần say rượu, lại ra ngõ chơi...
Rồi má đến ở nhà chú xích lô. Má có thêm em Tèo, em Tuột, em Thôi, em Út Lớn, em Út Nhỏ... Trước má còn ghé thăm, sau hai anh em trông mỏi mắt, dắt nhau đến nhà chú xích lô, thấy má khóc lại dắt nhau về với bà nội.
Chuyện ấy xảy ra đã lâu lắm, tưởng như không còn ở trên đời, nếu Tết vừa rồi, người em không khóc nấc lên trước bàn thờ bà nội và ba má.
Em có một tổ hợp may mặc. Tèo, Tuột, Thôi, Út Lớn, Út nhỏ đứa làm bảo vệ, đứa đứng máy, ăn lương theo sản phẩm, bữa trưa được người chị cho không, khỏi tính vô lương.
Người anh là một nhà giáo. Anh mắc lỗi (anh hay bảo thế) đam mê văn chương, đàn bà và rượu... Nên nghèo cũng chẳng phải do số kiếp.
Từ khi người em làm nên, thương anh, hay cho tiền xài. Cũng không rõ có phải vì thế hay vì hậm hực bởi nỗi bất công ở đời anh thề nguyền không đụng đến văn chương nữa... Bạn bè bảo anh là nhà văn không có tác phẩm. Đã thế, việc trường lớp anh cũng bỏ bê, khiến bà hiệu trưởng đã ba lần khuyên anh nên tự làm đơn xin thôi việc. Anh cóc cần đơn từ. Ai đuổi cứ đuổi. Đời anh bị đuổi từ lúc nhỏ xíu rồi.
Người anh bị đuổi thiệt.
Anh trở thành thằng nghèo, không có tiền, không có đàn bà và cũng chẳng có văn chương. Anh vẫn độc thân. Trơ trọi trên đời.
Anh mò đến đám bạc. Không phải để chơi. Có tiền đâu mà chơi, mà để xin tiền.
Chẳng có ai cho lấy một xu.
Cướp thì không dám. Anh bèn thò tay định thó vài ngàn trên chiếu... Một quả đấm còn nặng hơn cả búa tạ thoi vào bụng, ruột gan tưởng nát hết. Đám bạc ù chạy, bỏ lại cả một số tiền. Anh chết vật đè lên chúng...
Người em thuê xích lô đến. Chị lẳng lặng bế anh đặt lên xe, lẳng lặng vơ hết số tiền trên chiếu bỏ vô giỏ... Về đến nhà thì anh tỉnh lại, miệng vẫn còn ri rỉ máu.
Lúc ấy sắp giao thừa.
Và như ta đã biết, trước bàn thờ, chị đã khóc.
Tèo, Tuột, Thôi, Út Lớn, Út Nhỏ khóc theo. Rồi họ xúm vào lau rửa, xoa bóp, bón cháo... cho anh. Họ thấy anh hao hao giống mình.
Ít lâu sau, anh khoẻ lại. Nằng nặc đòi em xếp chân bảo vệ. Người em chiều ý. Với một điều kiện.
Điều kiện ấy là anh làm bảo vệ không lĩnh lương, mọi sinh hoạt em lo cho. Nửa thời gian còn lại, mỗi ngày phải viết một trang sách, kể về chính cuộc đời của mấy anh em. Khi nào cuốn sách viết xong, anh sẽ được lãnh một số tiền đủ mua một căn nhà nhỏ để tự lập.
Trời ơi, viết hết 365 trang thì người ta thành nhà văn hẳn hoi! Mà mong ước của người em chỉ là anh thành người tốt...
Người anh nhận lời và bắt tay vào việc.
Những trang đầu viết xong, anh đưa cho em đọc. Em khóc và đặt những trang ấy lên bàn thờ.
Anh xúc động, đêm ấy viết 20 trang.
Mới có nửa năm, cuốn sách đã viết xong.
Người em đã bỏ tiền ra in nó. Không biết có đúng không, chị khoe với anh trai mình cuốn sách lời hai mươi triệu.
Chị đưa cả số tiền ấy cho anh. Và giục anh đi tìm một căn nhà, đúng như chị đã hứa.
Người anh đã khất lần... Anh còn muốn viết nữa, viết nữa.... và anh đã trở thành một nhà văn. Bây giờ chỉ cần nói bút danh này, bút danh kia của anh là đã có nhiều người nhận ra anh.
Và cũng chỉ đến bây giờ, do anh đã quá nổi tiếng, nên tôi mới tiết lộ rằng, cuốn sách đầu tiên in ra của anh, hiện nay đang nằm trên gác nhà tôi, đủ cả 5000 bản. Người em là bạn thân của tôi. Chị rất tin cái gác nhà tôi biết giữ mồm giữ miệng, chí ít là đến lúc anh đã thành danh.

acaxomcui
11-08-2009, 13:22
Lúc nầy nghỉ hè,...vậy mà sao lennel không viết nửa?

tatthanh
11-08-2009, 14:32
Nhiều quá nhưng công nhận truyện nào cũng hay và ý nghĩa ... tiếp đi bạn

lennel
10-09-2009, 15:34
Trời nắng như đổ lửa, ánh nắng cháy bỏng phủ trên hòn đảo đơn độc giữa biển.

Hắn không biết mình đang ở đâu. Hắn chỉ biết mình vừa thoát chết. Con tàu chìm mau sau khi va phải đá ngầm đêm qua. Thuyền cấp cứu và phao cấp cứu được thả nhanh xuống biển nhưng quá nhiều hành khách kinh hoảng nên sự hỗn loạn diễn ra, hậu quả là đa số thuyền cấp cứu bị lật. Có lẽ hắn là người duy nhất còn sống sót. Hắn văng xuống biển khi thuyền cấp cứu của hắn bị lật. Hắn bơi rất giỏị Nhưng bơi giỏi đến mấy thì có ích gì khi ở giữa biển? Hắn kiệt lực khi trời tờ mờ sáng.

Khi mọi hy vọng, mọi nỗ lực đã tàn, chỉ còn lại cảm giác rã rời cả thể xác lẫn tinh thần, hắn chỉ muốn nhắm mắt buông xuôi cho thân xác chìm xuống biển, hắn chỉ thèm được nghỉ ngơi, chỉ khao khát được yên nghỉ. Cái chết lúc bấy giờ chẳng có gì đáng sợ như người ta vẫn thường nói. Ngay lúc đó, một vật gì chạm vào tay hắn. Một cái phao!

Có lẽ nó là một trong những cái phao cứu sinh của con tàu đó. Hy vọng sống còn lại trỗi dậy trong hắn. Hắn chụp lấy nó, ôm chặt. Hắn trôi trên biển đến trưa giữa ánh nắng gay gắt chói chang. Những cuộn sóng ập đến, nhấc bổng hắn lên rồi ném xuống... nước biển mặn chát trong miệng hắn. Hắn không dám mở miệng ra nữa. Cổ họng khô đắng, hắn bắt đầu thấy chóng mặt. Bỗng hắn thấy một chấm đen ở phía chân trờị Hắn mở to mắt... môt con tàu! Hắn đập chân như điên, cố bơi về hướng đó, một tay giữ cái phao, một tay quơ lia lịa trong không khí, miệng gào to. Chiếc tàu lớn dần rồi nó quẹo sang hướng khác. Hắn cuống cuồng bơi theo một cách tuyệt vọng. Hắn kêu gào, hắn khóc rống lên, tay quơ điên dại. Con tàu từ từ mất dạng. Hắn không bơi nữa, không la hét nữa mà chết lặng, mắt ngây dại như vừa trông thấy một ảo ảnh. Rồi hắn bật khóc, khóc nức nở. Hắn mặc cho sóng đưa đẩy, lênh đênh trên biển. Đêm xuống. Đêm trên biển lạnh buốt. Hắn không còn bao nhiêu sức lực nữạ Hắn chỉ biết bám chặt lấy cái phao, đầu óc trống rỗng. Một cuộn sóng lớn ập xuống, hất văng cái phao khỏi tay hắn. Chới với trong tuyệt vọng, trong màn đêm dày đặc, giữa sóng nước mênh mông, hắn nghĩ thầm "Thế là hết”. Hắn muốn buông xuôi tay nhưng bản năng đòi quyền sống. Hắn nổi người trên biển, sóng đưa hắn đị Cuối cùng, cái gì đến phải đến. Hắn kiệt lực hoàn toàn và vào đúng lúc hắn sắp để mặc cho thân xác chìm xuống biển thì một bên vai hắn chạm vào cái gì cứng như đá. Hắn quơ tay sờ soạng. Đúng, tay hắn chạm mặt đá cứng! Đất liền à? Hắn không rõ. Hắn leo lên, loạng choạng. Hắn ngồi xuống. Đến giờ phút này, cái mệt rã rời ập đến, bản năng đòi hỏi được đền đáp. Hắn ngất đi. Hắn tỉnh lại khi ánh nắng chói chang rọi trên mặt hắn. Nắng rát bỏng. Cổ họng hắn khô đắng, người hắn bừng bừng như lên cơn sốt. Gượng đứng dậy, hắn lảo đảo bước đi, nhìn quanh. Nước mênh mông. Hắn đang ở trên một hòn đảo nhỏ, đường kính khoảng hơn ba mươi mét. Có lẽ đây là ngọn một quả núi dưới biển. Trên đảo không có cây cối, vài chỗ có đất, còn toàn là đá, mặt lồi lõm, rải rác những tảng đá lớn nhỏ...

Không chết dưới biển cũng chết ở đây. Hắn nghĩ thầm, mà cái chết này có lẽ còn ghê gớm hơn. Hắn thất thểu bước đị Sau khi xem xét hòn đảo nhỏ, hắn hoàn toàn tuyệt vọng. Liệu người ta có tìm đến đây không? Nơi này có trên bản đồ hàng hải không? Những người đi tìm dấu vết con tàu đắm đêm kia có ngờ rằng có người trôi giạt đến đây không? Nơi đây cách chỗ đắm chừng bao xa? Nhiều ý nghĩ quay cuồng trong đầu óc bừng bừng của hắn. Hắn thấy đói cồn cào và khát, khát ghê gớm. Có thể sẽ có người đến đây nhưng bao giờ? Ngày mai, tuần tới, tháng tới? Hắn lấy gì ăn? Lấy gì uống? Làm thế nào sống đến lúc có người xuất hiện? Mà người ta đến đây làm gì chứ?
Hắn lại thấy đói, cái đói cồn cào, nhộn nhạo trong bụng hắn. Đã gần hai ngày đêm không được ăn gì, chỉ uống mà lại uống toàn nước biển! Hắn nghĩ thầm "Tình trạng này mình sống được bao lâu?"

Ánh mắt thẫn thờ của hắn vô tình trông thấy một cái gì nổi trên mặt biển. Hắn nhìn kỹ... hình như một cái thùng gỗ. Hắn đứng dậy, bước tới để nhìn cho rõ. Sóng đang đưa nó vào bờ. Đúng rồi, một cái thùng gỗ. Thùng gì vậy? Hắn bước tới nữa, sát mép hòn đảọ Sóng đánh nước bắn lên chân hắn. Cái thùng đã đến vừa tầm tay hắn, hắn nắm lấy nó, hai tay nhấc lên. Đó là một cái thùng gỗ hình vuông mỗi cạnh độ sáu mươi phân. Nắp thùng có then càị Hắn mở rạ Trong thùng có một cái hộp bằng giấy dầu, khá dày và một cái can bằng nhựạ Nước chỉ mới lọt vào độ một phân. Hắn mừng muốn hét lên vì hắn thấy thủy thủ trên tàu dùng những cái can như vậy để chứa nước ngọt. Hắn mở nắp cái hộp giấy dầu... hơn nửa hộp bánh bích quy! Hắn mở can nước, nếm thử... đúng là nước ngọt! Hắn dốc vào miệng... nước! Trời ơi, nước ! Nước không màu không mùi sao lúc này lại ngon thế ! Đặt can nước xuống, hắn bốc bánh ăn ngấu nghiến. Ăn được mươi cái, hắn sực nhớ. Không, không được phí phạm! Phải nghĩ đến những ngày tớị Hắn nhìn can nước, còn nhiều, ít nhất phải tám lít. Hắn đếm bánh... còn bảy mươi lăm cáị Hắn tính nhẩm "mỗi ngày ăn mười cái thì được hơn bảy ngày, không, vậy thì phí quá, sáu cái thôi, sáng trưa và tối, mỗi bữa hai cái và một ngụm nước... như thế sẽ được hơn mười hai ngày... Rất có thể trong thời gian đó sẽ có tàu, thuyền đi ngang qua đâỵ Có thể lâu hơn... mình phải ăn bớt đi, một ngày bốn cái thôi... nhưng như vậy làm sao sống nổi?... Không sao, người ta có thể nhịn đói lâu hơn nhịn khát, mình phải thật tiết kiệm nước...". Hắn xếp tất cả chỗ bánh vào hộp giấy dầu, vặn chặt nắp can nước, bỏ tất cả vào thùng gỗ, đóng nắp cài then cẩn thận rồi đi quanh đảo, nhìn tứ phíạ Không có bóng dáng một chiếc tàu nào, chỉ nước mênh mông.

Trời bắt đầu tốị Hắn tìm một chỗ khá bằng phẳng để nằm, đặt cái thùng gỗ bên cạnh. Người hắn vẫn hâm hấp như sốt. Hắn nghĩ thầm "Có lẽ cái thùng này rơi từ một trong những chiếc thuyền cấp cứu đêm kia... không biết nó sẽ cứu mình hay chỉ kéo dài cái chết của mình?" Suy nghĩ miên man và hắn thiếp đi. Khi hắn tỉnh giấc, mặt trời đã lên. Hắn mở thùng gỗ, lấy ra hộp bánh và can nước. Hắn ăn hai cái, không dám ăn nhiều hơn. Hắn nhâm nhi từng chút hương vị ngọt ngào của đường, trứng, sữa và bơ. Chưa bao giờ hắn thấy bánh bích quy ngon như thế. Ăn xong, hắn uống nước, chỉ dám uống một ngụm rồi cẩn thận xếp hộp bánh và can nước vào thùng gỗ. Người hắn vẫn như trong cơn sốt. Ánh nắng bắt đầu gay gắt. Vậy là đã bốn ngày trôi qua, hai ngày trên biển, hai ngày trên đảọ Liệu hắn có còn trông thấy đất liền không? Có còn gặp lại gia đình, người thân không? Hắn là nhà sưu tập tem. Hắn đi từ lúc đến nhiều nước để xem những con tem quý mà người ta báo cho hắn đến coi... hắn không đem theo nhiều tiền mặt, chỉ có ngân phiếụ Tập ngân phiếu đã chìm theo con tàụ Hắn bỗng sực nhớ, thò tay vào túị Nó vẫn còn. Hắn lấy ra một tờ giấy năm mươi đô-la nhầu nát và một cái kính lúp khá lớn. Cái kính dùng để coi tem. Cái bật lửa nạm vàng ở túi kia đã rơi mất. Nhưng những thứ còn lại này sẽ giúp gì được cho hắn? Hắn bỏ tờ giấy bạc và cái kính lúp vào túi áo rồi ngồi thừ người, nghĩ ngợi mông lung. Tối hôm đó, hắn ăn hai cái bánh và uống một ngụm nước rồi nằm ngủ. Ngày nóng như thiêu, đêm lạnh cắt thịt, lại không chỗ trú, thế là hắn ốm, hắn lên cơn sốt dữ dộị Hắn rên rỉ trong cơn nhức đầu ghê gớm, trong cái lạnh của đêm trên biển, trong cơn đói khát... hắn ngủ hay ngất đi lúc nào không hay.

Sáng hôm sau hắn vẫn thấy trong người bừng bừng và cơn nhức đầu mới càng ghê gớm. Hắn ăn hai cái bánh rồi uống một ngụm nước. Cổ họng khô khốc, hắn muốn uống thêm một ngụm nữa nhưng không dám. Hắn đứng dậy, lảo đảo đi quanh. Lát sau, hắn trở lại bên thùng gỗ. Ngay khi sắp ngồi xuống thì hắn thấy thấp thoáng hình dáng một con tàu xa mãi phía chân trờị Hắn đứng bật dậy, quên cả đói khát, mệt mỏị Cơn nhức đầu cũng biến mất. Chạy nhanh đến mép hòn đảo, hắn giơ tay vẫy một cách điên cuồng. Con tàu từ từ mất dạng. Hắn quỵ xuống, gục mặt khóc nức nở. Thế là hết ! Khóc chán, hắn đứng dậy trở về chỗ cái thùng. Bỗng trong đầu hắn nảy ra ý nghĩ "ừ, sao mình không nghĩ ra nhỉ? Sao mình ngu quá vậy?". Hắn bước đến bên cái thùng gỗ, mở nắp lấy hộp bánh và can nước ra ngoàị Hắn giơ cao cái thùng gỗ, đập mạnh xuống đất. Lát sau, hắn gom tất cả mảnh vụn lại thành một đống. Cầm cái kính lúp trong tay, ngắm nghía thầm nghĩ "ánh nắng xuyên qua mặt kính hội tụ đủ để làm bắt lửa... nếu có tàu đi ngang qua mình sẽ đốt... họ sẽ thấy khói...". ý nghĩ khác bỗng đến: "Nếu có tàu đi ngang qua ban đêm thì sao, lúc mình đang ngủ?". Lắc đầu chán nản. Tuy thế, hắn vẫn hy vọng. Cơn nhức đầu trở lạị Miệng hắn đắng nghét. Ánh nắng bắt đầu thiêu đốt thân xác khốn khổ của hắn. Nheo mắt nhìn ra biển... có cái gì... một cái thùng gỗ nữa ! Hắn đứng bật dậy, chạy tớị Nó đang tấp vào bờ. Ngay sau đó, hắn nhận ra đó là một cái thùng rỗng, không có nắp. Định quay đi thì hắn sực nhớ "Ô... phải có thật nhiều khói...". Hắn đến bên mép đảo, cái thùng vừa đến đúng tầm với của hắn. Nó lớn hơn cái thùng kia, gần gấp đôị Hắn lại đập nát nó ra, chất thêm vào đống gỗ trước. Bây giờ thì chỗ gỗ ấy đủ để quay chín một con heo. Xế chiều, hắn ăn hai cái bánh và uống một ngụm nước. Hắn vẫn sốt, cơn nhức đầu vẫn không giảm. Đêm xuống, hắn mệt nhọc thiếp đi...

Sáng hôm sau, hắn thức giấc trong cảm giác kỳ lạ. Cơn sốt vẫn còn nhưng đỡ nhức đầu một chút. Hắn thấy hình như có cái gì khác thường trên đảọ Nặng nhọc, hắn đứng dậy nhìn quanh và hắn thấy... Cách hắn độ bảy, tám thước, một con chuột khá to đang đứng trên một tảng đá lớn. Nó dáo dác nhìn quanh. Hắn sững người giây lát rồi cười chua chát " mày cũng sẽ chết khô trên hòn đảo này như tao thôi!". Có lẽ nó cũng ở trên con tàu đó, trong hầm chứa lương thực, trôi giạt đến đâỵ Hắn bỗng thấy thích thú vì không phải chỉ có mình hắn trên đảo nàỵ Hắn có bạn ! Con chuột nhảy xuống và biến mất sau những tảng đá. Không nghĩ đến nó nữa, hắn mở hộp lấy ra hai cái bánh nhấm nháp từng chút. Nửa giờ sau, hắn ăn hết cái bánh, không để rơi vãi đi đâu một chút nàọ Uống một ngụm nước rồi hắn đứng dậy đi quanh đảọ Vẫn trên trời dưới nước, nước mênh mông, không một bóng tàu thuyền nàọ Hắn đi quanh, nhìn về phía xa hút tầm mắt, hy vọng, trông mong...

Lát sau, khi đã mệt, hắn trở lại chỗ cũ. vừa ngồi xuống thì hắn nghe có tiếng động. Hắn lắng taị Cái gì vậy? Tiếng động lại phát ra, ngay bên cạnh hắn, trong hộp bánh. Hắn mở to mắt. Một lỗ thủng bên thành hộp. Con chuột ! Hắn chụp lấy cái hộp và nhanh như cắt, con chuột thò đầu ra, nhảy xuống, chạy mất trước khi hắn kịp có phản ứng.
Nó ăn bánh của mình. Đồ khốn ! Hắn lấy hết bánh ra và đếm lạị Hắn đã ăn mười cái thì phải còn sáu mươi lăm cái, bây giờ chỉ còn bốn mươi cái nguyên vẹn, mười cái bánh vỡ và vụn bánh... nó ăn hết gần mười ngày lương thực quý giá của hắn. Mắt hắn tóe lửa nhìn quanh, không thấy nó đâu cả. Nhưng làm sao giết được nó? Hắn cởi áo khoác, đặt tất cả bánh nguyên và vỡ vào rồi cuộn lạị Hắn vét tất cả vụn bánh, để dành cho bữa chiềụ Từ bây giờ hắn sẽ không rời gói bánh quý giá này nữa. Xẩm tối, sau khi ăn xong chỗ vụn bánh, uống một ngụm nước, hắn lại thấy nhức đầụ Hình như cơn sốt tăng thêm. Hắn nằm xuống, hai tay ôm gói bánh và mau chóng rơi vào giấc ngủ mê mệt.
Sáng hôm sau, khi thức giấc, hắn hốt hoảng khi thấy vụn bánh rơi vãi đầy trên ngực hắn và trên mặt đất, đá, cạnh hắn. Cái áo rách một lỗ lớn. Nó cắn thủng áo mình để ăn bánh! Điên cuồng, hắn giở tung cái áo rạ Chỉ còn hai mươi cái nguyên vẹn, chỗ còn lại là bánh vỡ và vụn bánh. Hắn ngồi đờ người một lúc rồi đứng dậy "Nó phải chết!".
Hắn gói chỗ bánh lại và xách đị Hắn đi tìm con chuột. Chẳng thấy nó đâu cả. Lát sau, nhức đầu và mệt lả vì cơn sốt và đói khát, hắn ăn hết chỗ vụn bánh rồi trở lại chỗ cũ để can nước. Hắn uống một ngụm nước rồi vặn nắp can thật chặt trong khi đầu óc nghĩ cách bắt con chuột. Làm thế nào để bắt nó bằng hai tay? Hắn lại đi tìm nó. Vẫn không thấy bóng dáng nó đâu cả. Thất thểu quay trở về, hắn đi men theo mép đảọ Đi ngang một tảng đá lớn hình bầu dục, một đầu bẹt, chìa ra biển như một cái cầu nhảy ở hồ bơi, nửa dưới nước, nửa trên cạn. Con chuột đang bơi ở đó. Hắn đứng lạị Nó đã thấy hắn. Nó giương đôi mắt tròn xoe nhìn hắn như trêu chọc. Hắn bước đến. Ngay lập tức, nó lặn xuống và mất hút. Hắn đứng chờ và chỉ chút xíu sau, hắn thấy nó nổi lên ở đằng kia, cách hắn vài mét, nó nhảy lên bờ. Hắn mới bước được hai bước thì nó đã biến mất sau những tảng đá. Cơn giận cùng cơn sốt làm hắn ngây ngất cả ngườị Hắn không biết phải làm gì.

Ánh nắng lại tiếp tục thiêu đốt da thịt hắn. Hắn chợt nghĩ ra một cách để giấu bánh. Trên đảo có vài chỗ có đất. Hắn đến đó, dùng cái cán của chiếc kính lúp để đào đất. Hắn đào từng chút, từng chút. Khi mồ hôi đã ướt đẫm áo sơ mi thì cái hố cũng vừa xong. Hắn đặt gói bánh vào đó, lấp đất lại, kiếm một tảng đá chận lên trên. Vậy là yên trí. chỉ có hắn mới biết chỗ giấu bánh và chỉ có hắn mới có thể lấy được mà thôị
Suốt buổi chiều, hắn ngồi chịu trận cho cái nắng ác độc hành hạ thịt dạ Cơn sốt vẫn đeo đẳng, đầu nhức dữ dộị Trời tối, hắn đào đất, lấy gói bánh và chỉ dám ăn một cái, uống một ngụm nước. Hắn lấp đất và chặn tảng đá lại như cũ.
Đêm đó hắn ngủ ngon.

Sáng hôm sau, hắn quan sát bốn phía mặt biển một lúc rồi quay trở lại chỗ chôn bánh. Lật tảng đá, đào đất lên để rồi hắn bật khóc. Cái áo rách tung. Có một lỗ ngầm bên dưới chỗ giấu bánh. Hắn mở cái áo rách bươm để nhìn thấy cảnh đau lòng. Chỉ còn chín cái nguyên vẹn, vài cái bánh vỡ và ít vụn bánh. Hắn vừa khóc vừa quỳ xuống liếm hết chỗ bánh vụn. Hắn gói chỗ bánh còn lại vào cái áo rách nát rồi nặng nề đứng dậy, trở lại chỗ để can nước, ngồi thẫn thờ nhìn ra biển. Lại một ngày cực hình. Ánh nắng hành hạ hắn không chút xót thương, cái nắng ghê hồn làm da thịt hắn như bốc khóị Cơn sốt vẫn không giảm. Đầu hắn nhức như búa bổ. Đêm xuống, hắn ăn một cái bánh, uống một ngụm nước rồi đi nằm. Trải cái áo rách trên đất, hắn đặt tất cả bánh lên đó rồi nằm đè lên. Bánh vỡ cũng được miễn con chuột không thể ăn trộm...
Hắn giật mình thức giấc lúc nửa đêm. Hình như có tiếng động. Ở đâu? Có cái gì động đậy dưới lưng hắn. Hắn ngồi dậy. Ánh trăng soi rõ cảnh không thể tin được. Con chuột đào một lỗ trên mặt đất, cách hắn vài tấc, đi ngầm dưới đất đến dưới lưng hắn. Chỉ còn ba cái bánh! Như hóa điên, hắn đứng dậy nhìn quanh. Ánh trăng tuy sáng nhưng không đủ để thấy nó, mà có lẽ nó cũng đã chạy mất rồị. Hắn không ngủ được nữa. Hắn ngồi đến sáng. Khi mặt trời đã lên cao, hắn ăn nửa cái bánh rồi không chịu nổi, hắn ăn hết nửa còn lạị Bây giờ chỉ còn hai cái. Hắn uống một ngụm nước rồi nghĩ ngợi trong cơn nhức đầu lẫn chóng mặt. Sau hai ngày nữa, hắn sẽ ăn gì? Hắn không dám nghĩ nữa. Nặng nhọc đứng dậy, hắn bước quanh, dõi mắt ra xa mong gặp bóng dáng một con tàụ Vẫn trời nước mênh mông... tuyệt vọng, hoàn toàn tuyệt vọng.

Một ngày nữa trôi qua, hắn không thấy bóng dáng con chuột đâu cả. Đêm đó hắn ăn một cái bánh, uống một ngụm nước rồi ngủ. Hắn thức giấc trong cơn sốt hầm hập và cơn khát cháy cổ. Lại cái nắng cay nghiệt đang hành hạ hắn. Có lẽ hắn ngủ mê vì cơn sốt và đói khát. Gượng ngồi dậy, hắn với tay lấy can nước. Can nước bổng lên, nhẹ tênh! Ánh mắt ngây dại của hắn nhìn sững cái can nhựạ Chỉ còn một chút nước đọng ở đáy can. Gần đáy can, có một lỗ thủng nhỏ, vết răng chuột gặm... Hắn ngất đi. Khi hắn tỉnh lại thì mặt trời đã đứng bóng. Hắn không nghĩ ngợi được gì nữa. Hắn ăn nốt cái bánh còn lại rồi tiếp tục ngồi hứng ánh nắng trừng phạt. Đêm đó hắn nói sảng nhiều trong giấc ngủ. Sáng hôm sau, hắn uống một ngụm nước khi vừa thức giấc. Chả còn gì để ăn. Gắng gượng ngồi dậy, đi quanh nhưng đầu gối hắn cứ muốn khuỵu xuống. Lát sau, không thể đi nổi nữa, hắn xách can nước còn lại một chút trở về chỗ cũ. Con chuột đâu nhỉ? Một ý nghĩ chợt lóe trong đầu hắn.

"Tại sao mình không ăn nó? Nó là món thịt tươi duy nhất trên đảo này... ít ra mình cũng sống được thêm vài ngày nữa..." Hắn đi tìm con chuột và thấy nó. Nó đứng lấp ló sau một tảng đá gần đó, đôi mắt tròn xoe tinh quái như trêu chọc, thách thức hắn. Giả như hắn còn mạnh khỏe thì cũng chưa chắc bắt được nó, giờ đây hắn quá yếụ Biết rằng không thể nào bắt được nó, hắn chán nản ngồi xuống. Chợt hắn nghĩ ra một cái mẹọ
"Giả chết ! Nó sẽ đến gần mình, bò lên người mình, có thể nó sẽ bò lên tay, ngay bàn tay mình..."
Thế là hắn nằm xuống trong ánh nắng hỏa ngục. Hắn không biết mình sẽ chịu đựng được bao lâụ Mắt hắn nhức nhối tuy đã nhắm chặt. Đúng lúc hắn sắp bỏ cuộc thì nó đến. Quả nhiên nó mắc bẫy hắn thật. Nó bò lên chân hắn, đến đùi, bụng rồi nhảy xuống. Hắn tưởng nó bỏ đi nhưng không, nó lại nhảy lên, bò trên ngực hắn. Hắn chờ mong nó bò xuống tay hắn nhưng nó đứng im. Hắn không thể chờ đợi lâu hơn nữạ Thu hết sức lực, hắn chụp mạnh và ngồi bật dậy, mắt hắn hoa lên vì ánh nắng. Hắn không nhanh bằng nó, nó chạy mất.
Đêm đó, cơn sốt vẫn hành hạ hắn.
Sáng hôm sau, hắn không còn sức lực để đứng dậy nữạ Hắn đã uống hết những giọt nước cuối cùng.
Trưa hôm đó, hắn thấy các ngón tay bắt đầu tê dạị Hắn biết đó là triệu chứng đầu tiên của sự thiếu nước trong cơ thể. Chiều hôm đó, cảm giác tê dại lan dần trên cánh tay. Sáng hôm sau, cảm giác tê dại đã ở mặt. Hắn biết đã đến những giờ phút cuối cùng của cuộc đời hắn. Không còn hy vọng gì nữa. Hắn cố gượng ngồi dậy nhưng lại gục xuống. Hắn nằm nghiêng một bên và trông thấy con chuột. Nó đứng cách hắn khoảng bốn, năm mét, đang nhìn hắn. Không có nước thì sao mà sống được nhỉ? Không có nước thì sao cứ nhởn nhơ thế kia? Lại có vẻ mập mạp nữạ Hắn chợt hiểụ Trên đảo có những hốc đá giống như hang chuột mà tay hắn không thể cho vào lọt, ban đêm rất lạnh, ban ngày nóng, quá nóng nên nước bốc hơi, hơi nước đó bám vào bờ đá như một thứ nước cất không còn muốị Nó liếm lớp nước đó. Vậy là nó may mắn hơn mình. Hắn thấy tức tốị Nó hại mình, nó sống lâu hơn mình. Hắn nhìn nó, nó vẫn nhìn hắn. Nó bước tới vài bước, nghe ngóng. Thấy hắn nằm im, nó bước tới bước nữa, nữa... hai thước, một thước, nửa thước. Hắn vung tay ra nhưng cánh tay hắn run rẩy rồi rũ xuống. Con chuột chạy mất.

Đầu hắn nhức dữ dội, hắn ngất đị Hắn tỉnh lại khi mặt trời đã hơi chếch bóng, có lẽ khoảng một giờ trưạ Không phải tự nhiên hắn thức tỉnh mà có cái gì chạm vào tay hắn.
Con chuột ! Nó đang gặm tay hắn ! Nó ăn hắn ! Hắn không ngờ đến chuyện nàỵ Hắn định ăn nó và giờ đây nó ăn hắn ! Hắn rụt tay lại, con chuột chạy mất. Cái đói khát, mệt mỏi bỗng biến đâu mất. Không ! CANH BẠC này hắn phải thắng, con chuột sẽ không ăn được hắn, hắn không để nó được toại nguyện. Hắn rùng mình giữa cái nắng ghê gớm khi nghĩ rằng con chuột sẽ ăn dần thân thể hắn, mỗi ngày một chút: tay chân, ruột gan... xác hắn sẽ nuôi nó trong nhiều ngày và hắn sẽ phải chết một cách đau đớn... Không, hắn phải thắng !

Ý nghĩ ghê gớm đã hình thành trong đầu hắn.

Hắn sẽ dùng cái kính lúp để đốt đống gỗ và hắn sẽ nằm trong đó, ngọn lửa sẽ thiêu xác hắn ra tro, nó sẽ không ăn được tí gì của thân thể hắn. Nhưng chỗ củi đó liệu có đủ để thiêu hắn ra tro không? Hắn chua chát nghĩ thầm, có lẽ không đủ. Nhưng ít ra mình cũng đã chết để không thấy nó ăn thịt mình. Hắn không thể chịu nổi ý nghĩ bị ăn sống. Gom hết tàn lực, hắn gượng ngồi dậy, lết dần đến đống gỗ. Chỉ độ tám thước thôi sao mà hắn thấy xa quá. Cuối cùng hắn cũng đến nơị Nghỉ một chút rồi hắn lấy cái kính lúp rạ Mặt trời hơi nghiêng, có lẽ khoảng hai giờ. Tay hắn run quá, không cầm vững được cái kính. Hắn xoay sở và sau cùng đặt gác nó lên một cục đá nhỏ. Ánh nắng gay gắt xuyên qua mặt kính hội tụ, chưa đầy một phút sau, trên mặt một tấm ván đã nám đen, bốc khóị Đống ván đã quá khô vì nhiều ngày phơi nắng... một đốm lửa đỏ xuất hiện trên mặt miếng ván, khói bốc nhiều hơn, vết cháy đen loang rộng. Ngay lúc đó, hắn thấy con chuột bên kia đống ván, lưng quay về phía hắn. Nó đang ngậm trong miệng một con cá nhỏ. Con cá chỉ bằng hai ngón taỵ Hắn chợt thấy đói cồn cào, quên cả việc đang làm, vừa bò vừa lết lại chỗ con chuột. Nó vừa nhả con cá ra, có lẽ nó bị sóng đánh văng lên bờ. Con chuột nghe tiếng hắn, nó ngoạm lấy con cá và chạy mất. Đầu óc hắn quay cuồng vì cố gắng quá sức, hắn quỵ xuống. Rủi thay, đầu hắn va phải một cục đá, hắn suýt ngất đi, nhưng không, hắn vẫn tỉnh, cảm thấy một luồng hơi nóng hắt tới từ phía sau lưng. Chậm chạp quay đầu lại, hắn thấy ngọn lửa đã bừng lên, đống gỗ khô nẻ bắt cháy nhanh chóng. Hắn đang nằm cách đống lửa khoảng sáu, bảy thước. Hắn cố lết lạị Cơ thể hắn không còn chút sức lực nàọ Hắn ước sao mình được nằm trong đống lửa đó. Hắn cố nữa, cố nữa, nhưng chỉ được nửa thước. Hơi nóng hắt vào mặt hắn, lên người hắn. Hắn chợt ân hận "sao lúc nãy mình không ráng lăn xuống biển nhỉ?... Mà không biết có nổi không?...". Hắn ngất đi. Khi tỉnh lại hắn thấy trời chưa tối hẳn, ánh nắng hoàng hôn còn trên đảọ Đống gổ đã cháy hết, chỉ còn đống than hồng đang tàn. Những cuộn khói trắng bốc cao trên nền trời màu cam. Giờ thì hoàn toàn tuyệt vọng. Từng thớ thịt trong cơ thể hắn đau nhức rã rờị

Màn đêm xuống dần.

Hắn vẫn thức, vẫn tỉnh và biết con chuột đã đến. Nó đang cắn ngón chân của hắn. Hắn không thấy đau, chỉ thấy nhột vì cơ thể hắn giờ đã tê dạị Hắn không sợ, không kinh hoảng vì sắp bị ăn sống nữa mà chỉ thấy chua chát.
Mình đã thua !
Hắn không thể cử động dù chỉ một đốt ngón taỵ Hắn nhắm mắt lạị Con chuột vẫn gặm ngón chân hắn. Hắn bỗng thấy ngứa ngáy khắp người và ngay sau đó hắn nghe có tiếng động.
Tiếng xích sắt loảng xoảng và tiếng người lao xao:
- Đây rồi, có một người ở đây!
- Tôi đã nói mà... rõ ràng có khói...
- Kìa, đống than đang tàn kìa...
- Anh ta còn sống không?
- Không biết, để tôi coi...
Họ đặt hắn lên một cái băng-ca, khiêng ra ca-nô để chuyển lên tàu. Lúc đến mép hòn đảo, hắn sực nhớ, hắn mấp máy môi. Qua ánh đèn măng-sông sáng rực, một người trông thấy, cúi xuống hỏi:
- Anh muốn nói gì?
Hắn thì thào, yếu ớt:
- Trong túi... áo tôi... có năm mươi... đô-la... lấy ra...
Người đó làm theo lời hắn và hỏi:
- Để làm gì?
- Trên tàu... có bánh... bích quy không?
- Có.
- Có nước... ngọt không?
- Có.
- Bán cho tôi... năm mươi đô-la... cả bánh và... nước... bỏ lên đảo cho tôi... tôi đã thắng...
Người đó nói lại cho những người kia nghe. Họ nghĩ hắn mê sảng. Nhưng có một người nói:
- Chắc có chuyện gì đấy, cứ làm theo lời anh ta và lấy tiền đi.
Hắn gắng gượng cho đến khi thấy họ mang hai thùng bánh rất to và hai thùng nước bỏ lên đảo, lúc đó, một màn đen phủ chụp lấy người hắn.
Con tàu không nhổ neo cho đến sáng hôm sau. Họ tiếp nước biển và tiêm thuốc hồi sức cho hắn. Họ muốn biết chuyện gì đã xảy ra với con tàu, với những hành khách... Dù rất yếu, hắn vẫn đủ sức cho họ biết có lẽ hắn là người duy nhất sống sót.
Hắn hỏi mượn một cái ống dòm, nhìn về hòn đảọ
Hắn thấy con chuột đang đứng trên thùng bánh, hai chân trước cầm một cái bánh, gặm ngon lành, cặp mắt dáo dác nhìn quanh...

hana_vip
10-09-2009, 16:36
Hana thích mấy bài truyện ngắn của Hoa Học Trò nhưng mà không có time ngồi gõ

lennel
07-10-2009, 15:15
Tôi đã bắt đầu biết... nói dối

--------------------------------------------------------------------------------




Thủa nhỏ, tôi được dạy rằng, phải sống trung thực không dối trá với bản thân mình và với mọi người vì đó là con đường sáng duy nhất của kiếp người.

Khi đó, tôi chưa hiểu thế nào là trung thực, thế nào là dối trá mà chỉ biết rằng những hành động nào của tôi làm vừa lòng người lớn, được khen là ngoan ngoãn thì đấy là những hành động trung thực. Nhưng đến một hôm, tôi đã biết sự thật trong những lời khen ấy.

Tôi bắt đầu biết nói dối, những lời nói dối chân thành nhất của đời mình. Tôi có ngừơi bạn quanh năm lênh đênh trên con tàu nhỏ, đã cũ, đi câu mực, đánh cá trên biển, vài tháng mới trở lại đất liền vài ngày.

Một lần, anh đi biển và thời tiết thay đổi đột ngột khiến biển động dữ dội.

Nhà anh chỉ còn người mẹ già ốm yếu. Vì quá lo lắng cho con trai, bệnh tim tái phát khiến bà phải vào viện trong tình trạng hôn mê. Khi đó gió biển gào thét dữ dội.

Các bác sĩ quyết định phải mổ ngay nhưng họ không thể tiến hành ca mổ trong lúc bà mẹ lâm vào tình trạng hôn mê, suy kiệt tinh thần hoàn toàn.

Trong những lúc tỉnh táo ngắn ngủi, bà thều thào hỏi bảo đã tan chưa, con trai bà đã về chưa? Khi đó có một người làng bên cho biết đã tìm thấy mãnh vỡ của con tàu nhà bà dạt vào bờ biển. Bà hỏi các bác sĩ nhưng không ai trả lời.

Tôi đứng ở đó và thật rồ dại khi trung thực kể cho bà nghe rằng con bão khủng khiếp lắm, kéo dài vài ngày nữa mới thôi, con tàu đã bị vỡ, sóng sô vài mãnh vào bờ, con trai bà (bạn thân của tôi) không biết số phận ra sao?

Các bác sĩ không kịp cản tôi.

Câu chuyện tôi vừa kể đã đánh gục những sức lực yếu ớt cuối cùng của bà. Bà nấc nhẹ và thiếp đi. Bác sĩ bó tay. Tôi tình cờ phạm phải một tội ghê ghớm mà suốt đời tôi không tha thứ cho mình. Sau khi tan bão người bạn tôi sống sót trở về do một chiếc tàu khác cứu.

Anh không trách tôi mà chỉ gục bên mộ mẹ khóc nức nở. Sự trung thực ngu ngốc đã vô tình khiến tôi phạm sai lầm khủng khiếp.

Trong truyện ngắn nổi danh "Chiếc lá cuối cùng" của O.Henrry, một bệnh nhân tin chắc mình sẽ chết. Cô đếm từng chiếc lá rụng của tán cây ngoài cứa sổ và tin rằng đó là chiếc lá đồng hồ số phận của cô.

Khi chiếc lá cuối cùng rơi xuống, cô sẽ chết. Nhưng chiếc lá cuối cùng không bao giờ rụng xuống. Cô gái bình phục, sống khỏe mạnh mà không biết rằng chiếc ls cuối cùng đó chỉ là một chiếc lá giả do một họa sĩ muốn cứu cô vẽ lên vòm cây trơ trụi.

Như vậy sự thật không phải được nhìn thấy bằng mắt, được cảm nhận bằng tri thức. Nếu tôi không kể về cơn bão tôi thấy, mãnh ván tàu vợ tôi được nghe thì có lẽ người mẹ ốm yếu ấy không chết.

Nếu như không có chiếc lá giả kia, cô gái sẽ chết vì bệnh tật và vì tuyệt vọng. Sự thật trong đời sống con người phải đồng nghĩa với tình yêu nữa. Chỉ có điều gì cứu giúp con người, làm cho con người mạnh mẽ lên, hướng con người về ánh sáng...điều đó mới là sự thật.

Còn tất cả những hành động, những lời nói cho dù đúng với mẳ mình thấy, tai mình nghe, tri thức của mình hiểu nhưng chúng khiến cho người khác, hoặc cho niềm tin cuộc sống, mất đi sức mạnh tinh thần dẫn đến việc hủy hoại đời sống thì đều không phải là trung thực. Nếu chúng là sự thật, đó là sự thật của một con quỷ không biết yêu thương con người.

Một lời nói dối trong tình yêu có thể cứu người và một lời nói thật phũ phàng có thể giết ngừơi. Tất nhiên chúng ta sẽ chọn lời nối dối chân chính.

Tuy vậy để phân biệt khoảng cách giữa những lời nói này cũng là một điều khó khăn và tùy thuộc vào từng hoàn cảnh đặc biệt. Bạn có biết nói dối thế nào để lời nói dối ấy là lời nói dối chân thành, chứa đầy tình yêu thương con người?

Đơn giản thôi. Bạn hãy giữ lấy một trái tim tha thiết với cuộc đời và đồng loại.

(Sưu tầm)

lennel
10-10-2009, 13:35
Ông lão và con lừa

st.


Ông lão nhà quê và đứa cháu bàn nhau đem con lừa ra hội chợ bán. Để con lừa khỏi mệt mỏi hầu có thể bán được giá cao, họ buộc chân lừa lại và hai ông cháu khệ nệ gánh con lừa đi.

Đi được một đoạn, người đi đường thấy thế phá ra cười và bảo: "Có con lừa mà không chịu cỡi lại khiêng nó. Sao mà ngu thế!" Ông lão nhận thấy mình ngu thật, vội để con lừa xuống, cởi trói cho nó, và để đứa cháu cỡi lên lưng lừa, còn ông thì đi theo sau.

Một lúc sau, khách bộ hành trông thấy thế, mắng thằng cháu: "Mày là đồ bất hiếu bất mục! Sao lại để Ông mày già yếu thế mà đi bộ Chính mày phải đi bộ mới phải!" Một lần nữa, nghe theo ý khách bộ hành, Ông già leo lên lưng con lừa, đứa cháu bước theo sau.

Đến một đoạn đường khác, ba cô gái đi qua thấy vậy, một cô bảo: "Tội nghiệp thằng bé, phải đi khập khễnh theo sau, trong khi ông già tưởng mình khôn ngoan lại ngồi chễm chệ trên lưng lừa!" Ông già nhận thấy ý kiến đúng, bảo thằng cháu cùng lên ngồi trên lưng lừa.

Rồi một toán người khác đi ngang qua lại phê bình: "Sao lại bắt con lừa đáng thương ấy chở nặng như vậy? Họ không biết thương hại con vật già nua của họ tí nào cả. Ra đến hội chợ thì họ chỉ còn mảnh da lừa để bán!" Một lần nữa, hai ông cháu xuống đi bộ, để con lừa đi thong dong đằng trước.

Vẫn chưa hết, một khách qua đường thấy vậy than rằng: "Sao họ không để con lừa vào lồng kính mà thờ! Họ đi mòn giầy của họ để bảo vệ con lừa. Đúng là ba con lừa!"

Bấy giờ Ông lão mới trả lời: "Vâng, chính tôi là con lừa! Nhưng từ nay về sau, dù người ta khen hay chê tôi, dù người ta nói điều gì hay không nói điều gì, tôi chỉ làm theo đầu óc của tôi mà thôi!"

acaxomcui
10-10-2009, 14:14
Mình đã xem truyện nầy hồi còn bé.Bây giờ xem lại cũng thấy hay,có ý nghĩa cho bản thân.Cám ơn lennel!

khoadiep
29-10-2009, 20:43
TIỀN CÔNG
Tôn Phương Hữu

Tiểu mạch vừa trổ bong phơi màu chưa được bao lâu, thì có sâu bệnh hút hạt lúa non. Bí thư chi bộ sai Cẩu Nhi phun thuốc cho ruộng mạch nhà ông. Cẩu Nhi vâng vâng dạ dạ, lập tức khoác bình phun ra đồng. Nào ngờ, phun xong thuốc buổi sáng, buổi chiều Cẩu Nhi tìm bí thư chi bộ đòi tiền công. Bí thư chi bộ tỏ ra hết sức ngạc nhiên, cứ thừ người ra nhìn Cẩu Nhi, y như không quen biết, lâu lắm mới nói:
-Trước kia giúp tôi làm việc, có bao giờ cậu đòi tiền công tôi đâu?
Cẩu Nhi đáp:
-Nhưng ông cũng chưa khi nào vị thế mà giảm số tiền đóng góp cho tôi. Hiện giờ đi ra ngoài làm thuê, mỗi ngày cũng kiếm được chín, mười đồng cơ mà. Ông là bí thư chi bộ, trả năm đồng cũng được.
Bí thư chi bộ suy nghĩ một lát rồi nói với Cẩu Nhi:
-Cậu chờ đã, mấy hôm nữa ta trả.
Ngay tối hôm ấy, ông bí thư đem việc này nói với bố mẹ, anh trai, em trai, chú bác…của Cẩu Nhi. Nghe xong người nào người nấy hết sức ngạc nhiên, gọi Cẩu Nhi đến nhao nhao mắng nhiếc.
-Giúp người khác một chút việc cũng đòi tiền công àh? Vậy Lôi Phong giúp người ta làm việc tốt có thu tiền công đâu? Bà con hàng xóm với nhau, nhà ai chẳng có lúc tối lửa tắt đèn cần giúp đỡ? Năm kia mẹ anh ốm, ông bí thư đích thân lên bệnh viện huyện nhờ người quen, đến ủy ban xã xin cứu tế, ông ấy có lấy tiền công đâu nào?
Cẩu Nhi cãi lại:
-Việc này khác việc ấy, tính chất không giống nhau.
Mọi người hỏi:
-Không giống nhau chỗ nào, chẳng đều là giúp nhau đó sao?
Cẩu Nhi đáp:
-Thế tại sao nhà mình giúp nhà ông ấy nhiều, ông ấy giúp nhà mình ít?
Mọi người bảo;
-Ông ấy là bí thư chi bộ của mọi nhà, một năm giúp anh một lần là được rồi.
Cẩu Nhi nói:
-Vấn đề là bản thân ông bí thư phun được thuốc lại không phun, cứ sai người khác phun. Nếu ông ấy ốm liệt giường liệt chiếu, nhờ tôi giúp nhà ông ấy phun thuốc, mà tôi đòi tiền công, thì tôi không phải là con người!
Sự việc càng tranh luận càng ầm ĩ. Kết quả ngay đến người thôn khác cũng biết. Ông bí thư bực tức vô cùng, đã cầm mười đồng giao cho Cẩu Nhi. Ông bảo:
-Chỉ có một chút việc cỏn con mà cũng làm ầm lên, có đáng không hả? Tiền công trả cậu rồi, từ nay trở đi tôi không bao giờ dùng cậu nữa.!
Bố Cẩu Nhi nghe nói Cẩu Nhi đã lấy tiền công của bí thư chi bộ tỏ ra vô cùng ngạc nhiên, đã cầm gậy đuổi đánh con từ đầu làng đến cuối làng. Bố Cẩu Nhi vừa đuổi vừa mắng, sắc mặt mỗi lúc một tái mét, ông bảo Cẩu Nhi đã rước họa vào nhà, có lẽ tai nạn lớn sắp giáng xuống đầu!
Anh trai Cẩu Nhi là gia đình đẻ con ngoài quy định, vừa nghe nói Cẩu Nhi cầm tiền của bí thư chi bộ, hai vợ chồng đã tái mặt hoảng hốt bảo nhau, tới đây tiền phạt chắc chắn sẽ tăng gấp vài lần. Chị dâu Cẩu Nhi chửi em chồng xơi xơi, không biết điều, bí thư chi bộ nhờ chú giúp phun thuốc là tín nhiệm ở chú! Chú đi làm thuê ở ngoài được vài buổi, thì có gì là ghê gớm! Tám đời nhà chú không trông thấy tiền thì đã sao nào? Ngay đến tiền của bí thư chi bộ chú cũng dám đòi, thì đúng là chú đã phản lại chú.
Em trai Cẩu Nhi muốn đi bộ đội, đương nhiên không thể thiếu nhận xét của bí thư chi bộ. Bây giờ thấy anh hai làm phật lòng ông bí thư, tỏ ra hết sức hoang mang, cứ khuyên Cẩu Nhi đem trả lại tiền. Cẩu Nhi bảo:" Tiền do lao động mà có, việc gì phải đem trả". Em trai bực quá chửi Cẩu Nhi:
-Anh đúng là con chó.
Cẩu Nhi vẫn nhất quyết không trả tiền, bố Cẩu Nhi biết ngay vấn đề ngày càng nặng nề. Tối đến bố Cẩu Nhi lẳng lặng đem năm mươi đồng đến nhà bí thư chi bộ, ông bảo, đã đánh Cẩu Nhi một trận, thằng nhỏ đã nhận lỗi, trả lại tiền công, xin ông bí thư chớ giận!
Ông bí thư rất độ lượng, ông bảo:
-Tôi đâu có tầm thường chấp nhặt với cậu ấy?
Bố Cẩu Nhi vừa đi khỏi thì chị dâu Cẩu Nhi cũng đến. Chị dâu Cẩu Nhi lấy ra tờ một trăm đồng để lên bàn, nịnh bợ ông bí thư, chị nói:
-Cẩu Nhi đã biết sai, có điều xấu hổ không tiện đến, đã nhờ em đưa trả tiền công.
Ông bí thư tỏ ra hết sức độ lượng. Ông bảo:
-Tiêu rồi thì thôi, nói làm gì, nói làm gì?
Chị dâu Cẩu Nhi vừa bước khỏi cổng thì em trai Cẩu Nhi lại đến nhà ông bí thư..
Em trai Cẩu Nhi vừa đi khỏi, thì chị ruột Cẩu Nhi cũng bước vào nhà ông bí thư…
Vài hôm sau, ông bí thư gọi Cẩu Nhi đến, giơ ra một tập tiền, tươi cười bảo:
-Cậu nhận của ta mười đồng tiền công, người thân của cậu lại đưa đến bằng này tiền, làm thế nào bây giờ?
Cẩu Nhi tươi cười đáp:
-Họ là họ, tôi là tôi, tiền này là tiền này, tiền kia là tiền kia, khoản nào ra khoản đó, khác nhau chứ, thưa ông!
Nói xong sải bước đi liền.
Ông bí thư cảm thấy hết sức bực tức, ném thật mạnh tập tiền trong tay, y như bị nỗi nhục vô cùng lớn, ông hậm hà hậm hực chửi một câu gì đó….

Theo “Kinh điển truyện ngắn cực ngắn”

lennel
28-11-2009, 19:51
Xin thầy hãy dạy cho con tôi _ Abraham Lincoln





(Trích thư của Tổng thống Mỹ Abraham Lincoln gửi thầy hiệu trưởng ngôi trường nơi con trai ông theo học)


Con tôi sẽ phải học tất cả những điều này, rằng không phải tất cả mọi người đều công bằng, tất cả mọi người đều chân thật. Nhưng xin thầy hãy dạy cho cháu biết cứ mỗi một kẻ vô lại ta gặp trên đường phố thì ở đâu đó sẽ có một con người chính trực; cứ mỗi một chính trị gia ích kỷ, ta sẽ có một nhà lãnh đạo tận tâm. Bài học này sẽ mất nhiều thời gian, tôi biết; nhưng xin thầy hãy dạy cho cháu biết rằng một đồng đôla kiếm được do công sức lao động của mình bỏ ra còn quý giá hơn nhiều so với năm đôla nhặt được trên hè phố...


Xin thầy dạy cho cháu biết cách chấp nhận thất bại và cách tận hưởng niềm vui chiến thắng.


Xin hãy dạy cháu tránh xa sự đố kỵ.


Xin dạy cháu biết được bí quyết của niềm vui chiến thắng thầm lặng. Dạy cho cháu biết được rằng những kẻ hay bắt nạt người khác nhất lại là những kẻ dễ bị đánh bại nhất...


Xin hãy giúp cháu nhìn thấy thế giới kỳ diệu của sách... nhưng cũng cho cháu có đủ thời gian để lặng lẽ suy tư về sự bí ẩn muôn thuở của cuộc sống: đàn chim tung cánh trên bầu trời, đàn ong bay lượn trong ánh nắng và những bông hoa nở ngát bên đồi xanh.


Xin giúp cháu có niềm tin vào ý kiến riêng của bản thân, dù tất cả mọi người xung quanh đều cho rằng ý kiến đó hoàn toàn sai lầm...


Xin hãy dạy cho cháu biết cách đối xử dịu dàng với những người hoà nhã và cứng rắn với những kẻ thô bạo. Xin tạo cho cháu sức mạnh để không chạy theo đám đông khi tất cả mọi người đều chỉ biết chạy theo thời thế.


Xin hãy dạy cho cháu biết phải lắng nghe tất cả mọi người những cũng xin thầy dạy cho cháu biết cần phải sàng lọc những gì nghe được qua một tấm lưới chân lý để cháu chỉ đón nhận những gì tốt đẹp...


Xin hãy dạy cho cháu biết cách mỉm cười khi buồn bã, xin hãy dạy cháu biết rằng không có sự xấu hổ trong những giọt nước mắt.


Xin hãy dạy cho cháu biết chế giễu những kẻ yểm thế và cẩn trọng trước sự ngọt ngào đầy cạm bẫy.


Xin hãy dạy cho cháu rằng có thể bán cơ bắp và trí tuệ cho người ra giá cao nhất, nhưng không bao giờ cho phép ai ra giá mua trái tim và tâm hồn mình...


Xin hãy dạy cho cháu ngoảnh tai làm ngơ trước một đám đông đang gào thét... và đứng thẳng người bảo vệ những gì cháu cho là đúng...


Xin hãy đối xử dịu dàng với cháu nhưng đừng vuốt ve nuông chiều cháu bởi vì chỉ có sự thử thách của lửa mới tôi luyện nên được những thanh sắt cứng rắn.


Xin hãy dạy cho cháu biết rằng cháu phải luôn có niềm tin tuyệt tối vào bản thân, bởi vì khi đó cháu sẽ luôn có niềm tin tuyệt đối vào nhận loại.


Đây quả là một yêu cầu quá lớn, tôi biết, thưa thầy. Nhưng xin thầy cố gắng hết sức mình, nếu được vậy, con trai tôi quả thật là một cậu bé hạnh phúc và may mắn.

acaxomcui
28-11-2009, 20:33
Truyện nầy lennel có giới thiệu rồi mà!
Chắc lo học bài nhiều quá nên ..quên.

lennel
29-11-2009, 07:54
Ơ hơ.....

để rảnh len sửa lại bài khác

lennel
25-12-2009, 15:08
Một Chuyện Tình Cảm động đầy Nước Mắt

------

LIÊN THỤC HƯƠNG

Trang Hạ dịch


Nguồn : internet

Lời người post lại

Câu chuyện này mình đọc lâu rồi, giờ tìm lại thấy hay nên post lên cho mọi người đọc. Có lẽ bạn đã đọc ở đâu đó, những câu chuyện cảm động như thế này trên mạng rất nhiều.




---o0o---


Những hiểu lầm vô tình nối tiếp, đã làm vấp những bước chân của hạnh phúc. Khi số mệnh bắt ta trả giá, tất cả đã trở nên muộn màng. Đây là một câu chuyện có thực và đầy nước mắt.

1. Mẹ ở quê lên

Sau khi kết hôn hai năm, chồng tôi bàn với tôi đón mẹ lên ở chung để chăm sóc bà những năm tuổi già.

Chồng tôi mất cha từ ngày anh còn nhỏ, mẹ chồng tôi là chỗ dựa duy nhất, mẹ nuôi anh khôn lớn, cho anh học hết đại học.

“Khổ đau cay đắng” bốn chữ ấy vận đúng vào số phận mẹ chồng tôi! Tôi nhanh chóng gật đầu, liền đi thu dọn căn phòng có ban công hướng Nam, phòng có thể đón nắng, trồng chút hoa cỏ gì đó.

Chồng tôi đứng giữa căn phòng ngập tràn nắng, không nói câu nào, chỉ đột ngột bế bổng tôi lên quay khắp phòng, khi tôi giãy giụa cào cấu đòi xuống, anh nói: “Đi đón mẹ chúng ta thôi!”.

Chồng tôi vóc dáng cao lớn, tôi thích nép đầu vào ngực anh, cảm giác anh có thể tóm lấy cả thân hình mảnh mai bé nhỏ của tôi, nhét vào trong túi áo. Mỗi khi chúng tôi cãi cọ và không chịu làm lành, anh thường nhấc bổng tôi lên đầu quay tròn, cho đến lúc tôi sợ hãi van xin anh thả xuống. Nỗi sợ hãi hạnh phúc ấy làm tôi mê mẩn.

Những thói quen ở nhà quê của mẹ chồng tôi mãi không thể thay đổi. Tôi thích mua hoa tươi bày trong phòng khách, mẹ chồng tôi sau này không nhịn được bảo: “Bọn trẻ các con lãng phí quá, mua hoa làm chi? Nào có thể ăn được như cơm!”.

Tôi cười: “Mẹ, trong nhà có hoa nở rộ, tâm trạng mọi người cũng vui vẻ”.
Mẹ chồng tôi cúi đầu cằn nhằn, chồng tôi vội cười: “Mẹ, người thành phố quen thế rồi, dần dần mẹ sẽ quen thôi!”.

Mẹ chồng tôi không nói gì nữa, nhưng mỗi lần thấy tôi mang hoa về, bà vẫn không nhịn được hỏi mua hoa mất bao nhiêu tiền, tôi nói, thì bà chép miệng. Có lần thấy tôi xách túi lớn túi nhỏ đi mua sắm về, bà hỏi cái này bao nhiêu tiền cái kia giá bao nhiêu, tôi cứ kể thật, thì bà chép miệng càng to hơn. Chồng tôi véo mũi tôi nói: “Đồ ngốc, em đừng nói cho mẹ biết giá thật có phải đỡ hơn không?”.

Cuộc sống hạnh phúc đã lẳng lặng trôi những âm điệu không êm đềm.
Mẹ chồng tôi ghét nhất là thấy chồng tôi dậy nấu bữa sáng, với bà, làm đàn ông mà phải vào bếp nấu nướng cho vợ, làm gì có chuyện ngược đời đó?
Trên bàn ăn sáng, mặt mẹ chồng tôi thường u ám, tôi giả vờ không nhận thấy. Mẹ chồng tôi bèn khua bát đũa canh cách, đấy là cách phản đối không lời của bà.

Tôi là giáo viên dạy múa ở Cung thiếu niên, nhảy múa đã đủ mệt rồi, mỗi sáng ủ mình trong ổ chăn ấm áp, tôi không muốn phải hy sinh nốt sự hưởng thụ duy nhất ấy, vì thế tôi vờ câm điếc trước sự phản ứng của mẹ chồng. Còn mẹ chồng tôi thỉnh thoảng có giúp tôi làm việc nhà, thì chỉ làm tôi càng bận rộn thêm.

Ví như, bà gom tất thảy mọi túi nilông đựng đồ và đựng rác trong nhà lại, bảo chờ gom đủ rồi bán đồng nát một thể, vì thế trong nhà chỗ nào cũng toàn túi nilông dùng rồi; Bà tiếc rẻ không dùng nước rửa bát, để khỏi làm bà mất mặt, tôi đành phải lén lút rửa lại lần nữa. Có một buổi tối, mẹ chồng tôi bắt gặp tôi đang lén rửa lại bát, bà đóng cửa phòng đánh “sầm” một cái, nằm bên trong khóc ầm ĩ.

Chồng tôi khó xử, sau việc này, suốt đêm anh không nói với tôi câu nào, tôi nũng nịu, làm lành, anh cũng mặc kệ. Tôi giận dữ, hỏi anh: “Thế em rốt cục đã làm sai cái gì nào?”.

Anh trừng mắt nhìn tôi nói: “Em không chịu nhường mẹ đi một chút, ăn bát chưa sạch thì cũng có chết đâu?”.

Sau đó, cả một thời gian dài, mẹ chồng tôi không nói chuyện với tôi, không khí trong gia đình gượng gạo dần. Thời gian đó, chồng tôi cũng sống rất mệt mỏi, anh không biết nên làm vui lòng ai trước.

Mẹ chồng tôi không cho con trai nấu bữa sáng nữa, xung phong đảm nhận “trọng trách” này. Mẹ chồng tôi ngắm con trai ăn sáng vui vẻ, lại nhìn sang tôi, ánh mắt bà trách móc tôi làm không trọn trách nhiệm của người vợ. Để tránh bị khó xử, tôi đành ăn tạm gói sữa trên đường đi làm.

Lúc đi ngủ, chồng tôi hơi buồn trách, hỏi tôi: “Rodi, có phải em chê mẹ anh nấu cơm không sạch nên em không ăn ở nhà?”. Lật mình, anh quay lưng về phía tôi lạnh lùng, mặc kệ tôi nước mắt tủi thân lăn tràn trề.

Cuối cùng, chồng tôi thở dài: “Rodi, thôi em cứ coi như là vì anh, em ở nhà ăn sáng được không?”. Thế là tôi đành quay về ngồi ở bàn ăn ngần ngại mỗi sáng.

Sáng đó, tôi húp bát cháo do mẹ chồng nấu, đột nhiên lợm giọng, mọi thứ trong dạ dầy tống tháo hết ra ngoài, tôi cuống cuồng bịt chặt miệng không cho nó trào ra, nhưng không được, tôi vứt bát đũa (chú thích: người Trung Quốc ăn cháo bằng đũa, không dùng thìa như ở Việt Nam) nhảy bổ vào toa-lét, nôn ọe hết.

Khi tôi hổn hển thở được, bình tâm lại, thấy mẹ chồng tôi đang khóc lóc than thân trách phận bằng tiếng pha rặt giọng nhà quê, chồng tôi đứng ở cửa toa-lét giận dữ nhìn tôi, tôi há miệng không nói được nên lời, tôi đâu có cố ý.

Lần đầu tiên tôi và chồng tôi bắt đầu cãi nhau kịch liệt, ban đầu mẹ chồng tôi ngồi nhìn chúng tôi, rồi bà đứng dậy, thất thểu đi ra khỏi cửa. Chồng tôi hằn học nhìn tôi một cái rồi xuống nhà đuổi theo mẹ.
..

2. Những tháng ngày tăm tối

Suốt ba ngày, chồng tôi không về nhà, cũng không gọi điện. Tôi đang giận, tôi nghĩ từ ngày mẹ chồng tôi lên đây, tôi đã cực nhục đủ rồi, còn muốn gì tôi nữa? Nhưng kỳ lạ làm sao, tôi vẫn cứ buồn nôn, ăn gì cũng chẳng thấy ngon, thêm vào đó việc nhà rối ren, tâm trạng tôi cực kỳ tồi tệ. Sau đó, một đồng nghiệp bảo tôi: “Rodi, trông sắc mặt cậu xấu lắm, đi khám bác sĩ xem nào”.

Kết quả khám của bác sĩ là tôi đã có thai. Tôi hiểu ra sáng hôm đó vì sao tôi nôn ọe, trong cảm giác hạnh phúc có xen lẫn chút oán trách, chồng tôi và cả bà mẹ chồng đã từng sinh nở, vì sao họ không hề nghĩ đến lý do ấy? Ở cổng bệnh viện, tôi gặp chồng tôi.

Mới chỉ ba hôm không gặp mặt, chồng tôi đã trở nên hốc hác. Tôi đáng lẽ định quay người đi thẳng, nhưng trông anh rất đáng thương, tôi không nén được gọi anh lại. Chồng tôi nghe tiếng thì nhìn thấy tôi, nhưng làm như không quen biết, trong mắt anh chỉ còn sự căm thù, ánh nhìn ấy làm tôi bị thương.

Tôi tự nói với mình, không được nhìn anh ấy, không được nhìn anh ấy, tôi đưa tay vẫy một chiếc taxi chạy qua. Lúc đó tôi mong muốn làm sao được kêu lên với chồng tôi một tiếng: “Anh ơi, em sắp sinh cho anh một đứa con rồi!” và được anh bế bổng lên, quay tròn hạnh phúc, những cái tôi mơ ước không xảy ra, trên chiếc taxi, nước mắt tôi chầm chậm rơi xuống.

Vì sao một vụ cãi nhau đã làm tình yêu trở nên tồi tệ như thế này? Sau khi về nhà, tôi nằm trên giường nhớ chồng, nhớ đến sự căm thù trong mắt anh. Tôi ôm một góc chăn nằm khóc. Đêm đó, trong nhà có tiếng mở ngăn kéo. Bật đèn lên, tôi nhìn thấy gương mặt đầy nước mắt của chồng tôi. Anh ấy đang lấy tiền.

Tôi lạnh lùng nhìn anh, không nói gì. Anh coi như không có tôi, cầm tiền và sổ tiết kiệm rồi đi. Có lẽ anh đã quyết định rời bỏ tôi thật sự. Thật là một người đàn ông khôn ngoan, tình và tiền rạch ròi thế. Tôi cười nhạt vài cái, nước mắt lại “ồn ào” lăn xuống.

Ngày hôm sau, tôi không đi làm. Tôi dọn lại toàn bộ suy nghĩ của mình, đi tìm chồng nói chuyện một lần cho rõ. Đến công ty của chồng, thư ký hơi lạ lùng nhìn tôi, bảo: “Mẹ của tổng giám đốc Trần bị tai nạn giao thông, đang trong viện”.

Tôi há hốc mồm trợn mắt, chạy bổ tới bệnh viện, khi tìm được chồng tôi, mẹ chồng tôi đã mất rồi. Chồng tôi không nhìn tôi, mặt anh rắn lại.

Tôi nhìn gương mặt gầy gò trắng bệch xanh tái lại của mẹ chồng, nước mắt tôi tuôn xuống ào ạt, trời ơi! Sao lại ra thế này? Cho đến tận lúc chôn cất bà, chồng tôi cũng không hề nói với tôi một câu, thậm chí mỗi ánh mắt đều mang một nỗi thù hận sâu sắc.

Về vụ tai nạn xe, tôi phải hỏi người khác mới biết đại khái là, mẹ chồng tôi bỏ nhà đi mơ hồ ra phía bến xe, bà muốn về quê, chồng tôi càng theo bà càng đi nhanh, khi qua đường, một chiếc xe buýt đã đâm thẳng vào bà…

Cuối cùng tôi đã hiểu sự căm ghét của chồng, nếu buổi sáng hôm đó tôi không nôn, nếu chúng tôi không cãi nhau, nếu như… trong tim anh ấy, tôi chính là người gián tiếp gây ra cái chết của mẹ anh.

Chồng tôi im lặng dọn đồ vào ở phòng mẹ, mỗi tối anh về nhà nồng nặc hơi rượu. Và tôi bị lòng tự trọng đáng thương lẫn sự ân hận dồn nén tới không thể thở được, muốn giải thích cho anh, muốn nói với anh rằng chúng ta sắp có con rồi, nhưng nhìn vào đôi mắt lạnh lùng của anh, tôi lại nuốt hết đi những lời định nói. Thà anh đánh tôi một trận hoặc chửi bới tôi một trận còn hơn, cho dù tất cả đã xảy ra không phải do tôi cố ý.

Ngày lại ngày cứ thế trôi đi trùng lặp, chồng tôi về nhà ngày càng muộn. Tôi cố chấp, coi anh còn hơn kẻ lạ. Tôi là cái thòng lọng thắt trong trái tim chồng tôi.

Một lần, tôi đi qua một tiệm ăn châu Âu, xuyên qua lớp cửa kính trong suốt kéo dài từ trần nhà xuống sát mặt đất, tôi nhìn thấy chồng tôi ngồi đối diện một cô gái trẻ, anh nhè nhẹ vuốt tóc cô gái, tôi đã hiểu ra tất cả.

Ban đầu tôi sững sờ, rồi tôi bước vào tiệm ăn, đứng trước mặt chồng, nhìn anh trân trối, mắt khô cạn. Tôi chẳng còn muốn nói gì, cũng không thể nào nói gì. Cô gái nhìn tôi, nhìn chồng tôi, đứng lên định bỏ đi, chồng tôi đưa tay ấn cô ngồi xuống, và, anh cũng trân trối nhìn tôi, không hề thua kém.

Tôi chỉ còn nghe thấy tiếng trái tim tôi đang đập thoi thóp, đập thoi thóp từng nhịp một từng nhịp một cho tới tận ranh giới tái xanh của cái chết. Kẻ thua cuộc là tôi, nếu tôi cứ đứng thế này mãi, tôi và đứa bé trong bụng tôi sẽ cùng ngã.

Đêm đó, chồng tôi không về nhà, anh dùng cách đó để nói cho tôi biết: Cùng với cái chết của mẹ chồng tôi, tình yêu của chúng tôi cũng đã chết rồi.

Chồng tôi không quay về nữa. Có hôm, tôi đi làm về, thấy tủ quần áo bị động vào, chồng tôi quay về lấy vài thứ đồ của anh. Tôi không muốn gọi điện cho chồng tôi, ngay cả ý nghĩ ban đầu là giải thích mọi chuyện cho anh, giờ cũng đã biến mất hoàn toàn.

Tôi một mình sống, một mình đi bệnh viện khám thai, mỗi lần thấy những người chồng thận trọng dìu vợ đi viện khám thai, trái tim tôi như vỡ tan ra. Đồng nghiệp lấp lửng xui tôi nạo thai đi cho xong, nhưng tôi kiên quyết nói không, tôi điên cuồng muốn được đẻ đứa con này ra, coi như một cách bù đắp cho cái chết của mẹ chồng tôi.

Khi tôi đi làm về, chồng tôi đang ngồi trong phòng khách, khói thuốc mù mịt khắp phòng, trên bàn nước đặt một tờ giấy. Không cần liếc qua, tôi đã biết tờ giấy viết gì.

Trong hai tháng chồng tôi không về nhà, tôi đã dần dần học được cách bình tĩnh. Tôi nhìn anh, gỡ mũ xuống, bảo: “Anh chờ chút, tôi ký!”. Chồng tôi cứ nhìn tôi, ánh mắt anh bối rối, như tôi.

Tôi vừa cởi cúc áo khoác vừa tự dặn mình: “Không khóc, không khóc…”. Mắt rất đau, nhưng tôi không cho phép nước mắt được lăn ra. Treo xong áo khoác, cái nhìn của chồng tôi gắn chặt vào cái bụng đã nổi lên của tôi. Tôi mỉm cười, đi tới, kéo tờ giấy lại, không hề nhìn, ký lên đó cái tên tôi, đẩy lại phía anh.

“Rodi, em có thai à?”.

Từ sau khi mẹ chồng gặp tai nạn, đây là câu đầu tiên anh nói với tôi. Tôi không cầm được nước mắt nữa, lệ “tới tấp” tràn xuống má.

Tôi đáp: “Vâng, nhưng không sao đâu, anh có thể đi được rồi!”.

Chồng tôi không đi, trong bóng tối, chúng tôi nhìn nhau. Chồng tôi nằm ôm lấy người tôi, nước mắt thấm ướt chăn. Nhưng trong tim tôi, rất nhiều thứ đã mất về nơi quá xa xôi, xa tới mức dù tôi có chạy đuổi theo cũng không thể với lại.

Không biết chồng tôi đã nói “Anh xin lỗi em!” với tôi bao nhiêu lần rồi, tôi cũng đã từng tưởng rằng tôi sẽ tha thứ, nhưng tôi không tài nào làm được, trong tiệm ăn châu Âu hôm đó, trước mặt người con gái trẻ ấy, ánh mắt lạnh lẽo chồng tôi nhìn tôi, cả đời này, tôi không thể nào quên nổi. Chúng tôi đã cùng rạch lên tim nhau những vết đớn đau. Phía tôi, là vô ý; còn anh, là cố tình.

3. Hận cũ hóa giải, nhưng quá khứ không bao giờ trở lại!

Trừ những lúc ấm áp khi nghĩ đến đứa bé trong bụng, còn với chồng, trái tim tôi lạnh giá như băng, không ăn bất cứ thứ gì anh mua, không cần ở anh bất cứ món quà gì, không nói chuyện với anh.

Bắt đầu từ lúc ký vào tờ giấy kia, hôn nhân cũng như tình yêu đã biến mất khỏi đời tôi. Có hôm chồng tôi thử quay về phòng ngủ, anh vào, tôi ra phòng khách, anh chỉ còn cách quay về ngủ ở phòng mẹ.

Trong đêm thâu, đôi khi từ phòng anh vẳng tới tiếng rên khe khẽ, tôi im lặng mặc kệ. Đây là trò anh thường bày ra, ngày xưa chỉ cần tôi giận anh, anh sẽ giả vờ đau đầu, tôi sẽ lo lắng chạy đến, ngoan ngoãn đầu hàng chồng, quan tâm xem anh bị làm sao, anh sẽ vươn một tay ra tóm lấy tôi cười ha hả. Anh đã quên rồi, tôi lo lắng là bởi tôi yêu anh, còn bây giờ, giữa chúng tôi còn lại gì đâu?

Chồng tôi dùng những tiếng rên ngắt quãng để đón ngày đứa bé chào đời. Dường như ngày nào anh cũng mua gì đó cho con, các đồ dùng của trẻ sơ sinh, đồ dùng của trẻ em, ngay cả sách thiếu nhi, từng bọc từng bọc, sắp chất đầy gian phòng anh.

Tôi biết chồng tôi dùng cách đó để cảm động tôi, nhưng tôi không còn cảm thấy gì nữa. Anh đành giam mình trong phòng, gõ máy tính “lạch cà lạch cạch”, có lẽ anh đang yêu đương trên mạng, nhưng việc đó đối với tôi không có ý nghĩa gì.

Đêm cuối mùa xuân, cơn đau bụng dữ dội khiến tôi gào lên, chồng tôi nhảy bổ sang, như thể anh chưa hề thay quần áo đi ngủ, vì đang chờ đón giây phút này tới. Anh cõng tôi chạy xuống nhà, bắt xe, suốt dọc đường nắm chặt bàn tay tôi, liên tục lau mồ hôi trên trán tôi.

Đến bệnh viện, anh lại cõng tôi chạy vào phòng phụ sản. Nằm trên cái lưng gầy guộc và ấm áp, một ý nghĩ hiện ra trong đầu tôi: “Cả cuộc đời này, còn ai có thể yêu tôi như anh nữa không?”.

Anh đẩy cửa phòng phụ sản, nhìn theo tôi đi vào, tôi cố nén cơn đau nhìn lại anh một cái nhìn ấm áp. Từ phòng đẻ ra, chồng tôi nhìn tôi và đứa bé, anh cười mắt rưng rưng. Tôi vuốt bàn tay anh. Chồng tôi nhìn tôi, mỉm cười, rồi, anh chậm rãi và mệt mỏi ngã dụi xuống. Tôi gào tên anh… Chồng tôi mỉm cười, nhưng không thể mở được đôi mắt mệt mỏi…

Tôi đã tưởng có những giọt nước mắt tôi không thể nào chảy vì chồng nữa, nhưng sự thực lại khác, chưa bao giờ có nỗi đau đớn mạnh mẽ thế xé nát thân thể tôi.

Bác sĩ nói, phát hiện chồng tôi ung thư gan đã vào giai đoạn cuối cùng, anh gắng gượng cho đến giờ kể cũng đã là kỳ tích. Tôi hỏi bác sĩ phát hiện ung thư khi nào? Bác sĩ nói năm tháng trước, rồi an ủi tôi: “Phải chuẩn bị hậu sự đi!”.

Tôi mặc kệ sự can ngăn của y tá, về nhà, vào phòng chồng tôi bật máy tính, tim tôi phút chốc bị bóp nghẹt. Bệnh ung thư gan của chồng tôi đã phát hiện từ năm tháng trước, những tiếng rên rỉ của anh là thật, vậy mà tôi nghĩ đó là…

Có hai trăm nghìn chữ trong máy tính, là lời dặn dò chồng tôi gửi lại cho con chúng tôi:

“Con ạ, vì con, bố đã kiên trì, phải chờ được đến lúc nhìn thấy con bố mới được gục ngã, đó là khao khát lớn nhất của bố… Bố biết, cả cuộc đời con sẽ có rất nhiều niềm vui hoặc gặp nhiều thử thách, giá như bố được đi cùng con suốt cả chặng đường con trưởng thành, thì vui sướng biết bao, nhưng bố không thể.

Bố viết lại trên máy tính, viết những vấn đề mà con có thể sẽ gặp phải trong đời, bao giờ con gặp phải những khó khăn đó, con có thể tham khảo ý kiến của bố…

Con ơi, viết xong hơn 200 nghìn chữ, bố cảm thấy như đã đi cùng con cả một đoạn đời con lớn. Thật đấy, bố rất mừng. Con phải yêu mẹ con, mẹ rất khổ, mẹ là người yêu con nhất, cũng là người bố yêu nhất…”.

Từ khi đứa trẻ đi học mẫu giáo, rồi học Tiểu học, Trung học, lên Đại học, cho đến lúc tìm việc, yêu đương, anh đều viết hết.

Chồng tôi cũng viết cho tôi một bức thư:

“Em yêu dấu, cưới em làm vợ là hạnh phúc lớn nhất đời anh, tha thứ cho những gì anh làm tổn thương em, tha thứ cho việc anh giấu em bệnh tình, vì anh muốn em giữ gìn sức khoẻ và tâm lý chờ đón đứa con ra đời…
Em yêu dấu, nếu em đang khóc, tức là em đã tha thứ cho anh rồi, anh sẽ cười, cảm ơn em đã luôn yêu anh… Những quà tặng này, anh sợ anh không có cơ hội tự tay tặng cho con nữa, em giúp anh mỗi năm tặng con vài món quà, trên các gói quà anh đều đã ghi sẵn ngày sẽ tặng quà rồi…”.

Quay lại bệnh viện, chồng tôi vẫn đang hôn mê. Tôi bế con tới, đặt nó bên anh, tôi nói: “Anh mở mắt cười một cái nào, em muốn con mình ghi nhớ khoảnh khắc ấm áp nằm trong lòng bố…”.

Chồng tôi khó khăn mở mắt, khẽ mỉm cười. Thằng bé vẫn nằm trong lòng bố, ngọ nguậy đôi tay hồng hào bé tí xíu. Tôi ấn nút chụp máy ảnh “lách tách”, để mặc nước mắt chảy dọc má…



---HẾT--

bihoctinhoc
26-12-2009, 13:48
...phải chi cô ta có thể bỏ thời gian ra mà tim hiểu về cuộc sống mẹ chồng con dâu :) chuyện này đã là bao đời mà Len có nghĩ thế không!, ý bi là cách ứng xử cách khôn ngoan để nới lòng người mẹ chồng này hơn. Lúc đầu ai cũng vậy sẽ phải khó chịu nhưng nếu chịu hiểu mẹ chồng hơn, cho đó là sự thay đổi mới & chấp nhận sự thay đổi bởi vì thay đổi hoàn cảnh sống sẽ không dễ chịu. Nhưng khi ta chấp nhận ta sẽ quen dần và dễ sống dễ thở hơn. Thay đổi là chấp nhận cho những cái mới sẽ đến sẽ khó chịu nhưng rồi sẽ quen :)


Bi tiếp nối Len một chuyện tình về hoa "Hoàn Lan". Chuyện này bi lưu lại từ một người thầy đã gửi bi đọc và bi post trên đây cùng chia sẻ với nhưng con tim yêu thương....

Câu chuyện

"Thương Nhớ Hoàng Lan"


Tôi sinh ra dưới một mái chùa. Nghe kể rằng sư phụ tôi khi ấy còn trẻ, một hôm đi ngang bỗng động tâm hỏi: "Mô Phật, sao sau chùa lại phơi tã lót?" Nghe chuyện đời cha tôi, thầy bảo: "Hãy nhớ ngày này. Nếu có cơ duyên, mười năm sau ta sẽ trở lại". Trở về thầy bỏ tăng viện, lên một ngọn núi hẻo lánh trong rú xa, dựng mấy nếp nhà cổ. Từ ấy, thầy ẩn tu, hiếm khi xuống núi.

Lớn lên, tôi giống cha tôi như đúc và rất được mẹ yêu chiều. Cha tôi mắt sáng, mũi cao, tiếng nói trầm ấm, tính tình hiền hoà trung thực. Khi còn là một chú tiểu đầu để chỏm, người đã nổi tiếng thông minh, mười lăm tuổi chép rành kinh chữ Hán. Rồi vì học giỏi, được cử làm giáo sư ở trường Trung học Bồ Đề, một trường phổ thông tư thục của Giáo hội. Lúc người sắp được phong Đại Đức thì gặp cô bé nữ sinh tinh nghịch, có đôi mắt hút hồn, đôi môi đầy đam mê và cái tính thích gì thì làm cho bằng được. Ban đầu, cô bé chỉ định quấy phá chơi để thử bản lĩnh của thầy. Nhưng rồi tình yêu là lửa, chính người muốn đốt lại cháy. Cả chùa ngẩn ngơ khi người thanh niên đạo hạnh vòng tay trước sư cụ trụ trì: "Yến bệnh nặng đã bốn tháng rồi, sợ rằng cô ấy chết. Thầy dạy con tu hành để cứu chúng sinh. Nay con có thể cứu một sinh linh, sao lại khước từ?" Cha tôi rời chùa, cô Yến khỏi bệnh rồi hai người thành vợ thành chồng. Ông bà tôi để lại một ngôi nhà, cha tôi cho dỡ đi, xây vào chỗ đó một ngôi chùa tư. Đã không bỏ đời theo đạo được, thì ông đem đạo về giữa đời. Sau khi đã có con, ông vẫn ăn chay, mặc áo nâu và tụng kinh sớm chiều. Có lần mẹ tôi đi chợ mua một xâu ếch, những con ếch theo phản xạ cứ chắp hai chân trước vái lia lịa. Một bà đi ngang bảo mẹ tôi: "Mấy con ếch lạy khéo không thưa thầy M.H" Rồi bà cười ha hả: "Đi tu mà chẳng chót đời, làm thân con ếch cho người lột da". Tính mẹ tôi mau nước mắt, cứ vừa đi vừa khóc thút thít cho đến lúc tới nhà. Tối đó bà kèo nhèo mãi, năn nỉ mãi cha tôi tội gì không để tóc, ngả mặn, làm người trần cho sướng cái thân. Tu kiểu này, người ta nói không chịu nổi. Cha tôi chỉ cười, dường như chẳng để tâm. Cả đời người không tranh giành với ai mà như có phép thần thông, chạm vao đâu thì phất lên đến đó. Cơ sở làm hương trầm của người càng phát triển, mẹ tôi càng béo đẹp ra thì lời đàm tiếu của thiên hạ càng rần rần. Cuối cùng, chẳng hiểu vì sao, mẹ bỗng đột ngột bỏ đi mất tăm...

Cô ruột tôi giận lắm, bảo: "Mẹ mi là con yêu tinh, khi trước đã phá đời tu của cha mi, chừ lại phá luôn đời tục của ổng." Ai cũng khuyên đăng báo tìm, nhưng cha tôi chỉ nói "Đừng". Ông không trách móc gì, nhưng có lẽ ông buồn, tiếng tụng kinh đêm khuya nghe chừng khắc khoải. Chao ôi, với những con thuyền khắc khoải ấy, kiếp nào cha mới đến Tây Phương?

Cơ sở làm hương từ đó phó mặc cho cô tôi. Cô tôi cho chặt cây, nhổ cỏ, sửa sang lại khu vườn sáng sủa. "Thiệt là hư sự, ai đời lập chùa mà lại trồng hoàng lan trong sân. Mùi hoàng lan là mùi ma, hèn chi ma chướng nó phá cho như thế ni."

Tôi dân dấn nước mắt nhìn người ta chặt cây hoàng lan, cành lá vứt bừa bãi trên mặt đất. Ngày xưa, gội đầu xong mẹ tôi thường hái hoa giấu vào búi tóc cho thơm. Bây giờ người đã đi, hoa cũng không còn...

Năm tôi mười tuổi, có vị Đại Đức trên núi về thuyết pháp ở chùa Diệu Đế. Tôi đi theo cô tôi đến nghe. Khi trở về tôi xin xuất gia. Cha tôi bảo: "Kinh sách ở đây, chuông mõ ở đây, con còn đi đâu?" Tôi chỉ lắc đầu...

Nơi thầy tôi ẩn tu là Bích Vân am - am Mây Biếc. Mười năm khai sơn, thầy đã cùng đồ đệ trồng hơn hai chục mẫu bạch đàn và ba ngàn giò phong lan đủ loại. Các sư huynh dạy tôi chăm hoa, tưới cây mỗi sáng. Buổi chiều đi học ở trường Nam Giao. Năm mười lăm tuổi tôi bắt đầu chướng tính. Sư huynh hạch tôi: "Bạch thầy, Đăng Ninh trốn học, la cà ở quán cà phê Tím. Người quanh đó ai cũng chê cười, họ nói cô ruột Ninh làm hương giàu có, cúng dường nhiều tiền nên thầy thả cho Ninh tha hồ tự tung tự tác". Tôi ức, lầm lì không nói, thầy cũng không quở. Tính thầy rất nghiêm, không mấy khi la rầy mà đồ đệ ai nấy tuân lời răm rắp. Chỉ riêng với tôi, không hiểu sao thầy đặc biệt khoan thứ. Sợ thầy phạt, đợi lúc sắp tụng kinh, tôi biện bạch: "Bạch thầy, ngày xưa cha con thường bảo: tu trên núi, tu giữa chợ mới là khó. Không ở giữa đời, làm sao hiểu đời đục mà tránh?" Thầy hỏi: "Ai bảo con là đời đục? Đời không đục, không trong." Tôi hụt hẫng, không hiểu ý thầy định nói gì.

Tu trên non bây giờ thật ra cũng không phải dễ. Thầy tôi tránh đời vào núi sâu nhưng rồi vườn lan Mây Biếc nổi tiếng quá nên người trần lại kéo lên thưởng ngoạn. Thứ bảy, chủ nhật, học trò đạp xe lác đác trắng trên con đường mòn tới thảo am. Mấy cô nữ sinh nhỏ tuổi mê hoa ngẩn ngơ ngắm bông súng tím trong hồ, chạy vào tới tận hiên, chỗ thầy ngồi viết sách. Thầy không quở, cũng không ngẩng lên nhìn. Một cô bé chạy đến gần tôi, nhìn những làn sương li ti mà tôi đang xịt lên những chồi đang đơm nụ. Cô hỏi tôi tên hoa, tôi giảng: "Đây là giống Tiểu Hồ điệp, nghĩa là bươm bướm nhỏ. Em thấy không, trông xa chấp chới như đàn bướm cải màu vàng". Cô chìa tay với những ngón búp măng, hứng sương. Tôi cau mày: "Này, đừng nghịch". Cô bé cứ đùa với những bụi nước, chẳng để ý lời tôi. "Anh cứ tưới đi, em cũng là Lan". Tôi cáu, xịt cho nước rơi ướt cả tóc, cả áo cô bé. Mấy cô bạn cười rúc rích, khi về có cô còn nói vọng lại: "Con Lan hên quá, gặp chú tiểu vừa đẹp trai vừa quậy". Tôi tủm tỉm cười. Sư huynh tôi cáu kỉnh: "Mấy con Thị Màu đời nay quá quắt lắm. Bay không biết quyến rũ sư tăng là tội đoạ địa ngục hử?" Tôi cự: "Người ta chỉ đùa thế, có gì mà gọi là quyến rũ".
Từ đó, vài hôm một lần, Lan lại đến giúp tôi tưới hoa. Tôi dạy cho cô biết về phong lan, đây là cả một thế giới còn đa dạng hơn thế giới người. Phượng Vĩ đỏ rực, Tuyết Điểm thì trắng, Vũ Nữ thì như đang múa trước giò. Lan phụng phịu: "Hoa nào cũng có tên riêng, chỉ em không có". Tôi nhìn khuôn mặt cô, đôi mắt trong trẻo với cái miệng hồn nhiên như trẻ thơ. "Vậy tôi đặt cho cô một cái tên. Tên cô là Tinh Khôi".
Thầy biết tình thân giữa tôi và Lan. Sư huynh không vui lòng, thầy chỉ bảo: "Không can gì". "Bạch thầy, người này có bạn thì người kia có bạn, rồi con gái kéo đến đầy thảo am, còn cái thể thống gì nữa?" Thầy gật đầu. Chiều lại, tôi mài mực hầu thầy, thầy đem cho tôi xem bộ tranh mười bức vẽ mục đồng chăn trâu. "Đây là thập mục ngưu đồ, cũng là quá trình tu học của một con người. Trâu không là trâu, mà chính là cái tâm ta đó". Tôi động lòng, hỏi: "Bạch thầy, con xem bức vẽ cuối cùng, không còn trâu, chẳng còn người, chỉ còn trăng soi. Vậy cớ gì phải sống trong dây trói. Ngày xưa Tuệ Trung Thượng Sĩ là bậc ngộ đạo mà không kiêng rượu thịt, vì chay mặn chỉ là hình tướng bên ngoài, không can hệ đến sự giác ngộ bên trong". Thầy cười: "Đúng, con ạ, với bậc đắc đạo là thế. Nhưng khi ta còn là một người phàm, thì cũng như con trâu kia, phải có sợi dây buộc, có người chăn dắt. Đến khi cái tâm vững rồi, sáng rồi mới có thể như trâu đen thành trâu trắng, không ràng không buộc, chẳng những nhởn nhơ trên cỏ xanh mà còn bay lên chín rầng mây". Tôi vái thầy mà thưa: "Con hiểu rồi, nhưng nhà chùa chẳng thể xua đuổi ai. Từ mai con xin thôi không giữ vườn lan nữa."
Mấy hôm sau, Lan thấy sư huynh ra tưới vườn, còn tôi thì chẻ củi. "Anh không thích phong lan nữa sao?". "Không. Muôn hồng nghìn tía, chẳng qua cũng chỉ để nhìn trong chốc lát. Một đời tôi chỉ riêng nhớ hoàng lan". Tôi giảng cho cô bé biết hoa hoàng lan cánh mảnh mai, vàng như màu chim hoàng yến. Thuở trước, cứ rằm, mồng một, các bà hàng hoa lại đến mua, họ gói hoa trong lá chuối, từng gói nhỏ xinh xinh toả thơm ngây ngất. Lan bảo: "Thích ghê, em chưa thấy bao giờ". Ừ, loài cây ấy có lẽ giờ đây đã tiệt giống rồi hay sao, nhiều lần theo sư huynh đi chợ mua bông chuối, tôi để ý tìm mà không thấy nữa. Tôi lớn lên, lòng bâng khuâng như thiếu vắng một thứ gì, cứ mơ hồ nhớ nhớ, thương thương...
Cuối năm, anh em tôi kẻ kéo người đẩy, chở phong lan xuống phố đổi gạo. Ông chủ tịch hội hoa cảnh hài lòng lắm khi thấy những giò mũm mĩm với chồi xanh đầy nụ. Ba bao gạo lớn được bưng ra. "Cha ơi, con có làm một ít bánh trái cây để cúng dường".Tôi nghe tiếng, quay lại, sững người vì thấy Lan. Ông chủ tịch âu yếm bảo: "Cúng dường thì phải cung kính. Con phải tự lên chùa lạy Phật mà dâng". Tôi hãi hồn, vội nói: "Thôi thôi, khỏi phiền nữ thí chủ. Nhận ngay ở đây". Lan bật cười, lại cái cười tinh khôi. Rồi Lan nhìn tôi buồn thiu: "Sao lâu nay anh không ra vườn? Em lên chùa, biết anh trong bếp mà mấy chú không cho vào. Riết rồi em buồn không muốn đến nữa".
Mấy buổi sau, tôi theo các bạn cùng lớp vào quán. Lan ngồi ở đó, sau chiếc bàn con bên cửa sổ. Các bạn tôi ai cũng nhìn về phía Lan, còn cô bé thì chẳng nhìn ai, cứ lặng lẽ một mình. Ngồi ở một bàn xa mà tôi như thấy cả bầu trời hoàng hôn tím, tím ngát ngoài kia đang in trong đôi mắt Lan. Mãi đến khi chúng tôi ra về, Lan mới ngoái nhìn, ánh mắt thơ ngây mà não nùng. Bỗng dưng đỏ mặt, rồi tôi thấy hoảng sợ vì mình đã đỏ mặt...
Một người con gái chiều nào cũng ngồi ở quán Tím, chẳng bao lâu đã thành đề tài để bọn con trai bàn tán.
"Con Lan sữa tươi trông xinh vậy chứ nó mắc bệnh sợ đàn ông. Đếch thằng nào đến gần được, nó tránh như tránh tà". "Không phải đâu, nó giữ giá để chờ lấy Việt kiều, thằng Hùng ở Cali về ngày nào cũng trực ở nhà nó". "Giữ giá cái gì, nó ưa thằng Quắn chạy bàn ở cà phê Tím. Tao thấy nó ngồi một bàn với thằng Quắn, khóc rưng rức". Tôi im lặng, một lát sau mới bảo: "Khó tin". "Ở đời chuyện gì mà chẳng có thể xảy ra - bạn tôi nói, vẻ ông cụ non - Chiều qua chính mắt tao thấy nó chạy ra sau quầy đưa bức thư cho thằng Quắn".
Đạp xe về đã đến quá lăng Tự Đức, tự nhiên tôi bứt rứt không chịu được. Tôi quay xe, đạp về nhà Lan. Mưa phùn lướt thướt trên con đường về Bao Vinh xa tắp. Mẹ Lan hỏi: "Nhà chùa có việc gì mà nhắc cháu lên? Thấy Quắn về nhắn, tôi cho cháu đi ngay rồi". Tôi tái mặt, không kịp chào, đạp xe đi như tên bắn. Tim tôi dội thình thịch vì âm vang những lời nói của sư huynh khi Lan mới lên thảo am lần đầu: "Cô gái này đẹp đẽ thanh tú nhưng đuôi mắt quá dài, môi mỏng, cổ cao, tai nhỏ. Đấy là tướng hồng nhan mệnh yểu."... Trời chập choạng tối, tới Nam Giao. Nhìn dáo dác hai bên đường, tình cờ thấy Quắn và Lan cùng ngồi trong quán ốc. Quắn gọi rượu, đang ép Lan uống, Lan lắc đầu, Quắn cố nài. Tôi đi vào, đấm mạnh vào mũi Quắn: "Đồ lừa đảo. Từ nay chừa cái thói dỗ gái đi". Quay sang Lan, tôi nạt: "Đi về!" Không biết Lan có bị một thứ thuốc mê gì không, mặt ngây ngây như bị bỏ bùa. Tôi chở Lan đi. Quắn biết tôi có võ Thiếu lâm nên đành chịu phép, hậm hực chùi máu mũi nhìn theo, cái nhìn của một con thú mất mồi...
Trên đường về, Lan tỉnh lại, gục mặt vào lưng tôi, khóc: "Em nhờ Quắn chuyển đến anh nhiều thư, anh có nhận được không?" Tôi cau mặt: "Em khờ lắm, sao lại đi với thằng Quắn?" "Quắn bảo em uống vài chén cho ấm rồi lên đàn Nam Giao chờ Ninh đến". "Em đừng quên, tên em là Tinh Khôi. Đừng dại dột để bọn lưu manh làm nhơ bẩn". Nước mắt Lan chảy thấm qua chiếc áo lam của tôi, thấm vào đến da thịt. Dừng xe, tôi ngồi xuống vệ cỏ ven đường. Lan ngồi bên tôi. "Đêm nào nằm mơ cũng thấy anh dắt em đi thăm vườn phong lan. Mình về trồng lan trong sân nhà em đi, có thích hơn không?" Tôi không trả lời, ngắt những cọng cỏ, vò nát trong đôi tay run run. Trên kia, trăng sáng quá, tròn và rực rỡ như chiếc mâm vàng giữa trời. Bỗng nhiên lòng tôi miên man nhớ những câu chuyện cha tôi vẫn kể ngày xưa... "Em có thích nghe chuyện cổ tích không?" "Thích". Tôi kể cho Lan nghe chuyện người tử tù đội chiếc mâm vàng đầy nước đi từ cổng hoàng cung vào trước ngai vua mà không sánh ra ngoài một giọt, Lan nghi ngờ: "Sao có người làm được như thế?" Tôi gật đầu: "Ngày ấy, nhà vua cũng đã hỏi như vầy. Vị thiền sư trả lời: "Bệ hạ hứa nếu y làm được thì sẽ tha tội chết. Vì lẽ sống chết của y, nên dù việc khó vô cùng mà y vẫn chăm chăm làm bằng được. Nay nếu bệ hạ cầu giải thoát cũng như người này cầu sống thì việc tu hành dù khó mấy cũng có thể vượt qua". Lan ngước nhìn tôi, lần đầu tiên tôi nhận ra trong hai cái giếng êm như nhung của mắt cô bé những tia sáng ương ngạnh lạ lùng. "Em hiểu rồi. Anh xem tu hành là chuyện sinh tử của anh. Vậy nếu em lại xem anh là chuyện sinh tử của em thì sao? Anh và em, ai đi trọn đường, ai bỏ cuộc?" Tôi bảo: "Em nói gì thế? Chuyện sống chết mà nghe cứ như là trò chơi sấp ngửa của trẻ con". Lan cười... Bàn tay nhỏ nắm lấy tay tôi, ngón thon vuôn vuốt như cánh hoa ngậm sữa. Vẻ đẹp này có phải phù du? Vẻ đẹp này là sắc hay không? Chỉ thấy ngợp vì trăng. Trăng sáng quá. "Thôi, về đi em". Tôi đạp xe, trước mặt tôi chập chờn lấp loá những con đường. Những mê lộ giữa đạo và đời, giữa ma và Phật...
Việc lộn xộn ở quán ốc chẳng mấy ngày đã đồn đến chùa. Cô tôi biết, tốc lên ngay. Tôi bảo: "Cô đừng lo. Chẳng có chuyện gì đâu". "Không có lửa làm sao có khói. Ăn ốc, đánh lộn, dành gái. Thế còn gì là tu hành? Tau mà gặp con ma nữ đó, tau tước từ dưới tước lên". Tôi ngẩn người một lúc rồi hiểu ra, không nín được cười. Cô bực tức: "Cháu tưởng chuyện gì cũng cười là xong sao?"
Quả là chuyện không thể cười mà xong. Mấy hôm sau, gia đình Lan mời tôi về.
"Con ma nữ" đã uống hai mươi viên Sedusen, may sao nhà biết được, chở đi cấp cứu. Mẹ Lan chắp tay lạy tôi như lạy Bồ Tát: "Bác biết tính con Lan lắm, từ nhỏ nó đã nói là làm, đã làm là làm tới cùng. Sợ e cứu thoát lần này, nó lại tự sát lần nữa. Con cứu nó cho bác đi con". Tôi cuống quýt: "Bác bảo con làm sao được?" "Con cứ giả vờ ừ đi, bây giờ nó mới lớn, tính còn ngông cuồng, vài ba năm nữa chững chạc rồi tự nhiên nó hiểu ra". Ông chủ tịch hội hoa cảnh mắt đỏ au, nhìn tôi chờ đợi một lúc rồi bảo vợ: "Nói như bà cũng khó. Chú Ninh đây tướng mạo khôi ngô, trước sau rồi sẽ có phước được che lọng vàng. Lẽ nào vì con mình mà để người ta mang tai mang tiếng". Tôi thở dài: "Cháu đi tu không phải là mong lọng vàng che đầu. Chỉ vì nguyện giữ thân trong sạch để tụng cho mẹ cháu một nghìn lần kinh Thuỷ Sám". Nhớ tới mẹ, tôi bất giác đau đớn trong lòng, đứng dậy đi...
Tôi về chùa, từ ấy không đi đâu. Thầy bảo: "Sao con bỏ học?" Tôi nói: "Suối ở xa, con muốn ra triền núi đào giếng". Tôi tự đày mình trong những nhát cuốc trên sỏi đá, đêm về tụng kinh, vẫn đôi khi chợt nghe tiếng mình khắc khoải. Có lúc nửa đêm chợt tỉnh, thấy thầy ngồi bên giường, lâm râm niệm chú. Tôi hốt hoảng vùng dậy: "Bạch thầy". Thầy tôi bảo: "Con giật mình, nói mê luôn, hất tung cả chăn." Tôi nói: "Con tỉnh rồi. Rước thầy đi nghỉ, con xin ra bệ Phật niệm Cầu An". Thầy lặng lẽ một lúc rồi bảo tôi: "Tâm không an, có cầu cũng vô ích". Tôi gật đầu thú nhận. Bao nhiêu đêm, cứ chợp mắt là thấy Lan hiện ra, mảnh dẻ, thanh thoát, đầu đội chiếc mâm vàng sóng sánh nước đi thẳng đến bờ vực. Tôi nghe tiếng thét của nàng vang động cả giấc mơ, nàng nhào xuống rơi thẳng vào không gian mênh mông như chiếc lá lìa cành trước gió. "Thầy ơi, nếu vào Niết bàn mà phải đạp lên một chiếc lá, Phật có làm không? Xin thầy cho con hay, trời đất nặng hơn hay chiếc lá nặng hơn?" Thầy nhìn vào mắt tôi: "Chỉ có con tự trả lời được thôi. Ngày mai con hãy về, cứ nhìn thẳng vào nghiệp duyên mà tự quyết định lòng mình." Tôi lắc đầu: "Thầy quên sao? Con đã thề khi nào đào xong giếng mới xuống núi".
Ra xuân, đường lên núi khô ráo. Hai tay tôi ướt bùn đỏ, những giọt nước đầu tiên đã úa ra từ lòng đất sâu. Tôi chạy về chùa, định vào trình thầy nhưng người đang làm lễ. Có người thí chủ dâng hương trong bệ Phật, mùi trầm mới thơm thơm trong không gian.
Đang dội nước rửa tay, tôi nghe có người bước đến: "Chú Ninh!"
Tôi ngẩng lên. Mẹ của Lan. "Bác lên chùa cầu cho em đi bình an..." Bà đưa cho tôi một cái túi nhỏ, rồi vừa quay đi vừa đưa khăn lau mắt.
Những dòng chữ trong thư, mảnh mai và run run như những cánh lan:
"Bốn trăm ngày chờ anh ở quán Tím, cuối cùng em cũng hiểu ra là mình thua cuộc. Đã đi mà chẳng tới, lẽ ra thì phải chết. Nhưng em chết thì anh làm sao yên lòng đi trọn con đường tu. Vì vậy, em đã quyết định lấy chồng xa xứ. Trong cái túi này là cây hoàng lan con, em nguyện tìm cho anh bằng được rồi mới ra đi. Em vẫn nhớ lời anh nói, một đời anh chỉ thích hoàng lan...
Người ta cứ bảo em khôn, lấy ông Việt kiều đi Tây đi Mỹ cho sướng chứ theo chi chú tiểu trọc đầu. Nhưng đi Tây đi Mỹ không phải là chí nguyện của em. Lấy một người mình không thương, đến một nơi xa lạ với em còn khổ hơn là chết. Xin anh hãy tụng cho em một lần kinh cầu siêu thoát, một lần thôi..."
Bất giác, tôi oà khóc. Nước mắt theo nhau lăn trên má tôi như ép cho hết những dòng tục luỵ cuối cùng. "Cứ khóc đi con" - Thầy vỗ về khi thấy tôi luống cuống che mặt - "Thầy chưa nghe nói gỗ đá thành Phật bao giờ". Tôi nức nở: "Bạch thầy, thầy có cho con trồng cây Hoàng Lan không?"
Thầy bảo: "Cỏ cây vô tội, sao mình không thể bao dung?" Rồi một tay dắt tôi, một tay cầm túi cây đến bên góc vườn, thầy tự mình trồng xuống.
Tôi tưới cây bằng nước giếng chùa. Hoàng lan lớn lên, năm này qua năm khác, nở hoa vàng mong manh. Mong manh như tất cả những gì đẹp trên thế gian.
Tôi cầm lòng thôi thương, thôi nhớ.




(Truyện Ngắn của Trần Thùy Mai)

lennel
20-02-2010, 15:42
Janice Anderson Connolly








Vào ngày đầu tiên tôi đi dạy, tất cả các giờ học đều trôi chảy. Cho đến giờ thứ bảy, giờ cuối cùng trong ngày.

Khi tôi bước tới lớp, tôi nghe thấy tiếng bàn ghế gãy. Trong một góc phòng tôi thấy một học sinh đang đè một đứa khác xuống sàn nhà.

"Nghe này, thằng ngu kia!" đứa nằm dưới hét lên. "Tao cóc thèm để ý đến con em gái của mày đâu!"

"Mày đừng có đụng vào nó, mày nghe tao chứ?" đứa ở trên hăm dọa.

Tôi yêu cầu chúng không đánh nhau nữa. Bất ngờ cả 14 cặp mắt nhìn thẳng vào mặt tôi. Tôi biết trông tôi không có vẻ gì là thuyết phục cho lắm. Cả hai tên gườm gườm nhìn nhau và nhìn tôi rồi đi từ từ về chỗ ngồi. Vào lúc đó, giáo viên phòng bên cạnh ló đầu vào phòng, hét bọn học trò của tôi ngồi vào chỗ, im lặng và nghe lời tôi. Tôi cảm thấy mình thật bất lực.

Tôi cố gắng dạy theo giáo trình đã soạn nhưng chỉ gặp những khuôn mặt gườm gườm cảnh giác đề phòng. Khi hết giờ, tôi giữ cậu học trò đã gây ra vụ đánh nhau. Cậu ta tên là Mark. "Thưa cô, không nên phí thời gian với tụi em," cậu ta nói. "Tụi em là những thằng ngu." Và Mark rời khỏi phòng.

Lặng người đi, tôi rơi mình xuống ghế và bắt đầu suy nghĩ xem tôi có nên trở thành giáo viên hay không. Có lẽ cách giải quyết tốt nhất là nên từ bỏ? Tôi tự nhủ sẽ cố một năm rồi sau khi tôi lập gia đình vào mùa hè tới tôi sẽ làm điều gì đó có ích hơn.

"Tụi nó quậy cô phải không?" Đó là người giáo viên đã vào lớp tôi lúc nãy. Tôi gật đầu.

"Đừng có suy nghĩ nữa," anh ta nói. "Tôi dạy chúng trong những lớp phụ đạo vào mùa hè, và hầu như chắc chắn tụi nó sẽ không tốt nghiệp nổi. Đừng có phí thời gian với bọn này."

"Ý anh là sao?"

"Chúng sống trong những túp lều ngoài đồng. Chúng là những lao động nay đây mai đó. Chúng chỉ đến trường khi chúng thích thôi. Đứa trẻ thứ hai đã quấy rối em gái của Mark khi chúng đi hái đậu chung. Tôi đã phải la chúng vào bữa trưa. Cứ phải giữ chúng im lặng và làm việc. Nếu chúng gây ra điều gì, cứ kêu tôi."

Khi tôi lấy đồ ra về. Tôi không thể nào quên được hình ảnh khuôn mặt của Mark khi cậu ta nói "Chúng em là những thằng ngu." Thằng ngu. Từ này cứ vang lên trong đầu tôi. Tôi quyết định tôi phải làm điều gì đó thật mạnh mẽ.

Vào buổi chiều hôm sau tôi bảo với người đồng nghiệp của tôi đừng vào lớp tôi nữa. Tôi cần điều khiển những đứa trẻ này theo cách của tôi. Tôi quay lại lớp và nhìn vào mắt từng học sinh. Rồi tôi bước tới bảng và viết ECINAJ.

"Đó là tên của tôi," tôi nói. "Các em có thể nói cho tôi biết đó là gì không?"

Bọn trẻ nói rằng tên của tôi "kỳ cục" và chúng chưa bao giờ thấy một cái tên như vậy. Tôi lại bước tới bảng và viết chữ JANICE. Nhiều đứa nhỏ bật kêu lên và chúng nhìn tôi vui vẻ.

"Các em nói đúng, tên của tôi là Janice," tôi nói. "Tôi bị thiểu năng đọc, nghĩa là chứng đọc khó. Khi tôi bắt đầu đi học, tôi không thể viết tên của tôi chính xác. Tôi không thể đọc chữ và các con số thì bay mất tiêu khỏi đầu tôi. Tôi bị đặt biệt danh "Đứa ngu". Đúng vậy đó - Tôi đã từng là một "đứa ngu". Bây giờ tôi vẫn còn cảm giác được những âm thanh khủng khiếp đó và sự xấu hổ của mình."

"Vậy sao cô thành giáo viên được?" một đứa trẻ hỏi.

"Vì tôi ghét những biệt hiệu đó và tôi không ngu si và tôi rất ham học. Lớp học của chúng ta cũng vậy. Nếu các bạn thích biệt danh "thằng ngu", các bạn không cần ở đây. Hãy đổi qua lớp khác. Không có ai ngu ở trong lớp này."

"Tôi sẽ không dễ dàng với các em," tôi tiếp tục. "Chúng ta sẽ làm việc và làm cho tới khi các em nắm bắt được. Các em sẽ tốt nghiệp và tôi hy vọng một số em sẽ vào được đại học. Đó không phải là chuyện tếu - đó là một lời hứa. Tôi sẽ không muốn nghe từ "ngu" một lần nào nữa. Các em có hiểu không?"

Bọn trẻ dường như ngồi nghiêm chỉnh hơn.

Chúng tôi làm việc rất chăm chỉ và tôi bắt đầu thực hiện được một phần lời hứa. Đặc biệt Mark là một đứa trẻ rất thông minh. Tôi đã nghe cậu ta nói với một đứa khác "Cuốn sách này rất hay. Chúng tớ không đọc sách trẻ con ở đây." Cậu đang cầm cuốn sách "To Kill a Mockingbird".

Tháng ngày trôi qua, và sự tiến bộ thật tuyệt vời. Một ngày kia Mark nói với tôi "Mọi người vẫn nghĩ chúng em ngu vì chúng em hay nói sai ngữ pháp." Đó là thời điểm tôi chờ đợi. Từ lúc đó chúng tôi học chuyên sâu về ngữ pháp, bởi vì bọn trẻ muốn thế.

Tôi thật sự tiếc nuối khi thấy tháng Sáu tới, bọn trẻ đang muốn học thật nhiều. Tất cả học trò đều biết tôi sẽ lập gia đình và dời đi xa. Tôi thấy rõ bọn trẻ xúc động mỗi khi tôi nhắc đến điều đó. Tôi vui vì thấy chúng yêu mến tôi nhưng lại sợ rằng chúng sẽ buồn giận khi tôi ra đi.

Vào ngày cuối cùng của năm học, khi tôi đến trường, thầy giám thị gọi tôi khi tôi vừa bước vào cổng trường. "Xin cô vui lòng đi theo tôi," ông nói một cách nghiêm khắc. "Có chuyện trong phòng học của lớp cô." Ông thẳng bước đi về hướng lớp học. Điều gì đây? Tôi lo lắng.

Thật tuyệt vời! Bọn trẻ đã lấy sơn phun lên từng góc tường những bông hoa, từng bó hoa trên bàn mỗi đứa và một bó hoa lớn trên bàn tôi. Bọn trẻ làm thế nào mà được nhỉ? Tôi suy nghĩ. Hầu hết bọn chúng đều rất nghèo đến mức phải xin trường trợ cấp cho quần áo ấm và thức ăn.

Tôi bật khóc, và bọn trẻ khóc theo tôi.

Sau đó tôi mới được biết bằng cách nào bọn chúng làm được như vậy. Mark làm thêm trong một tiệm bán hoa vào cuối tuần đã thấy rất nhiều phiếu đặt hàng của các lớp khác. Cậu ta đã kể lại cho bạn bè nghe. Quá kiêu hãnh để có thể chấp nhận bị coi là "nghèo", Mark đã hỏi người chủ tiệm xin những bông hoa dư còn lại. Rồi cậu đến nghĩa trang kể về một giáo viên đang chuẩn bị đi xa. Người ta đã giữ lại cho cậu những giỏ hoa.

Đó không phải là điều cuối cùng bọn trẻ làm cho tôi. Hai năm sau, cả 14 học sinh đã tốt nghiệp, và 6 đứa đã đạt học bổng vào đại học.

Hai mươi tám năm sau, tôi đang dạy ại một trường rất nổi tiếng không xa nơi trường cũ. Tôi được biết Mark đã lập gia đình với người cậu yêu từ đại học và trở thành một nhà kinh doanh tài giỏi. Và thật bất ngờ, ba năm trước đứa con trai của Mark đã lại học trong lớp tôi dạy.

Đôi lần tôi bật cười khi nhớ lại ngày đầu tiên đi dạy. Nghĩ đến việc tôi muốn bỏ nghề để làm điều gì đó tốt hơn!

The Old Man
20-02-2010, 23:50
Đúng vậy! Phải cần một người thầy tốt!!

May là cô giáo tên Janice, nếu mà cô ấy tên Lennel thì có viết ngược hay suôi củng trớt quớt!!

lennel
21-02-2010, 15:51
Sửa lại chút chứ bé Len post nguyên một đống chữ dính chùm đọc lòi mắt... đã vậy còn màu tím, căn giữa nữa... hic hic...



len xin lỗi..

mai mốt len sẽ cẩn thân hơn 1 tẹo nữa..





Đúng vậy! Phải cần một người thầy tốt!!

May là cô giáo tên Janice, nếu mà cô ấy tên Lennel thì có viết ngược hay suôi củng trớt quớt!!



nhờ bác Tom con chợt chú ý ra..
tên con dù ngược hay xuôi vẫn ko thay đổi...

bihoctinhoc
22-02-2010, 12:46
Đúng vậy! Phải cần một người thầy tốt!!

May là cô giáo tên Janice, nếu mà cô ấy tên Lennel thì có viết ngược hay suôi củng trớt quớt!!

ko có trò ngu...mà chỉ có thầy dỏm :D

nguoimoi
22-02-2010, 13:02
ko có trò ngu...mà chỉ có thầy dỏm :D

Vậy khoảng vài chục K các bạn học của B.Gates và L.Pages bây giờ ở đâu :))
Học trò ngồi học mà trong đầu chỉ lúc nào cũng nghĩ đến 3x và Games Online thì có mà... :lick:

bihoctinhoc
22-02-2010, 14:59
Vậy khoảng vài chục K các bạn học của B.Gates và L.Pages bây giờ ở đâu :))
Học trò ngồi học mà trong đầu chỉ lúc nào cũng nghĩ đến 3x và Games Online thì có mà... :lick:
ở trên trái đất chứ ở đâu :lick: hỏi dậy đố thằng nào trả lời dc :lick:

lennel
22-02-2010, 15:19
http://ngoisao.net/news/choi-blog/2009/12/3b9ccfc2/me_va_con.jpg



Tôi va phải một người lạ trên phố khi người này đi qua.

“Ồ xin lỗi”, tôi nói.

Người kia trả lời: “Cũng xin thứ lỗi cho tôi, tôi đã không nhìn cô”.


Chúng tôi rất lịch sự với nhau.


.....



Nhưng ở nhà thì mọi chuyện lại khác.

Tối nọ, lúc tôi đang nấu bếp thì cậu con trai đến đứng sau lưng.

Tôi quay người và đụng vào thằng bé làm nó ngã chúi xuống sàn nhà.

“Tránh xa chỗ khác” - tôi cau mày nói.


Con trai tôi bước đi, trái tim bé nhỏ của nó vỡ tan.



Tôi đã không nhận ra là mình đã quá nóng nảy.

......




Khi đã lên giường tôi nghe một giọng nói thì thầm:


“Khi đối xử với người lạ con rất lịch sự, nhưng với con mình con đã không làm như vậy.
Hãy đến tìm trên sàn nhà bếp, có những bông hoa đang nằm ở cửa.

Đó là những bông hoa mà con trai con đã mang đến cho con.

Tự nó hái lấy những bông hoa này: nào hoa hồng, màu vàng và cả màu xanh nữa.
Nó đã yên lặng đứng đó để mang lại cho con điều ngạc nhiên,

còn con thì không bao giờ thấy những giọt nước mắt đã chảy đẫm lên

trái tim bé nhỏ của nó”.

....


Lúc này thì tôi bật khóc.

Tôi lặng lẽ đến bên giường con trai và quỳ xuống:

“Dậy đi, con trai bé nhỏ, dậy đi. Có phải những bông hoa này con hái cho mẹ không?”.

Thằng bé mỉm cười: “Con tìm thấy chúng ở trên cây kia.

Con hái cho mẹ vì chúng đẹp như mẹ.

Con biết là mẹ thích lắm, đặc biệt là bông hoa màu xanh”.




Thế bạn có biết từ family có nghĩa là gì không?




suutam

The Old Man
22-02-2010, 15:23
Tiếng Việt bộ không có chữ sao mà phải dùng chữ Family.

lennel
22-02-2010, 15:28
Bác Tom kính mến!

Dây là bài con suutam..

Hãy cho phép con giữ nguyên văn..

acaxomcui
22-02-2010, 15:37
Có ai biết..trong những ngôi nhà không có gia đình ở đó!

Từ chạng vạng tối,tôi đã nghe tiếng nhầy nhụa của người cha say xỉn,tiếng chửi mắng con của bà mẹ..
Xin đừng đổ tội cho thiếu thốn, nghèo khổ.!

langthanghn
22-02-2010, 19:04
FAMILY = Father And Mother I Love You

lennel
25-02-2010, 17:44
http://www.tamnhinmoi.vn/imupload/7920Tay1.jpg


Một người đàn ông nọ đang chuẩn bị bước ra gara để ngắm chiếc xe hơi mới cáu cạnh của mình.

Ông sửng sốt khi nhìn thấy đứa con trai 3 tuổi của mình đang cầm búa đập lên thành xe tạo thành những chỗ lõm một cách thích thú.

Ông vội vàng chạy đến, đạp đứa bé văng ra rồi dùng chính cái búa ấy đập nát nhũng ngón tay của đứa bé để trừng phạt nó.

Khi người cha nguôi cơn giận, ông vội vàng đưa con trai của mình tới bệnh viện.

Và mặc dầu bác sỹ đã hết sức cố gắng để chữa trị những cái xương đã dập nát, cuối cùng họ buộc phải cắt đi những ngón tay nhỏ bé đáng thương đó khỏi bàn tay của cậu bé.

Khi đứa bé tỉnh dậy sau ca phẫu thuật, nhìn thấy những vết thương trên mình, nó ngây thơ nói:

- Ba ơi, cho con xin lỗi vì chiếc xe. Đoạn nó hỏi - nhưng chừng nào thì những ngón tay của con sẽ mọc lại?

Người cha trở về nhà và....




.................

"Hãy chậm nóng giận và cân nhắc.
Hãy suy nghĩ trước khi hành động.
Hãy kiên nhẫn, thông cảm và yêu thương."
__________________

bihoctinhoc
25-02-2010, 20:14
P.s Len: Ông ấy không xứng đáng làm cha con bé :(...

lennel
26-02-2010, 00:18
len nghĩ chỉ là chuyện đặt ra thôi..

ngoài đời ko có như vậy đâu

................



http://chiase.anhso.net/as/08/10/11/cugi197298.jpg




Buổi trưa. Trời oi bức, nắng như đổ lửa. Nằm dưới cây sấu già, nó thiu thiu ngủ, đầu gối lên cái bọc dúm dó, cũ kỹ, bên cạnh là cái bát sắt hoen gỉ nằm chỏng chơ.

Từ sáng tới giờ chưa có chút gì bỏ bụng, đi xin mãi nó chỉ được 1 tờ năm trăm đồng mất góc. Đói rũ người. Nó hi vọng giấc ngủ sẽ xua tan cái đói đang cồn cào trong nó, nhưng không được...

Chợt nó giật thót mình khi có bàn chân ai đó giẫm lên người. Đang đói, mệt, nó la toáng lên:
- Mù à? Người ta nằm thế mà giẫm cả lên người!

Đáp lại nó là giọng khản đặc, run run của 1 bà lão :
- Bà mù...ừ...mù thật cháu ạ...thôi bà đã trót...cho bà xin.

Nó lặng người, từ hai hốc mắt nó có cái gì đó ươn ướt, mặn chát rỉ ra...
- Cháu xin lỗi. Cháu không biết là bà... như thế...
Bà lão ngúc ngoắc đầu như thể chấp nhận. Rồi chiếc nón lá rách lướp tướp, cũ mèm tiếp tục huơ đi huơ lại.

Theo cây gậy tre dò đường, bà dò dẫm bước đi...
- Lạy các ông, các bà...Xin các ông các bà thương xót,nhón tay làm phúc...

Nó vội lần trong bọc, rút ra tờ năm trăm mất góc, gọi với theo:
- Bà ơi!
Bà lão quay đầu lại.
- Cháu xin biếu bà!






Khuôn mặt nhăn nhúm của bà lộ vẻ mừng rỡ. Bà chậm chạp đi về phía nó, chìa nón cạnh cây sấu già chờ đợi..
.
1 cơn gió thoảng qua, hanh hao thả từ trên cây sấu vài chiếc lá khô vào nón.

Ngỡ nó bỏ tiền vào, bà đưa tay quờ đi quờ lại trong nón nhưng bàn tay run rẩy nhăn nheo chỉ chạm phải chiếc lá khô giòn. Bà lầm bầm:

- Trời ơi, sao nó lại nỡ lừa cả người mù hả trời!
Bà lão rủa thầm rồi từ từ quay người lại đi tiếp.

Nó ngồi dưới gốc cây, chìa tờ giấy bạc ra vẻ thành khẩn. Chờ mãi mà chẳng thấy bà lão nhận tiền, nó đứng dậy thảng thốt gọi :
- Bà ơi! Cháu biếu bà thật đấy mà...
Chỉ có tiếng lá xào xạc đáp lại.


Nó đứng đó 1 lúc lâu, suy nghĩ nhưng không hiểu vì sao bà lão không nhận tiền của nó. Nó cúi xuống, cắp cái bọc vào nách, cầm cái bát, với cây gậy lò dò tìm đường thập thững bước đi.
Bóng của nó -

1 đứa bé mù in trên mặt đường tròn như 1 đồng tiền vàng.


















[/indent]

acaxomcui
01-03-2010, 21:20
len nghĩ chỉ là chuyện đặt ra thôi..

ngoài đời ko có như vậy đâu

................



http://chiase.anhso.net/as/08/10/11/cugi197298.jpg










Nó đứng đó 1 lúc lâu, suy nghĩ nhưng không hiểu vì sao bà lão không nhận tiền của nó. Nó cúi xuống, cắp cái bọc vào nách, cầm cái bát, với cây gậy lò dò tìm đường thập thững bước đi.
Bóng của nó -

1 đứa bé mù in trên mặt đường tròn như 1 đồng tiền vàng.















[/indent]


Câu chuyện bất ngờ là ở đây!
1 đứa bé mù in trên mặt đường tròn như 1 đồng tiền vàng.

The Old Man
02-03-2010, 00:20
Các vì sao.

Cô bé thường hay suy nghỉ vẩn vơ. Mọi người đều bảo là cô vẩn vơ nhưng cô không chú ý đến lời khuyên của các người khác. Cô chỉ thấy trần thế tội lổi quá, và cô quá trong sạch như một thiên thần và cô bé nghỉ rằng thiên thần như cô thì phải ở trên trời chung với các vì sao sáng.

Hằng đêm cô nhìn lên trời ngắm các vì sao sáng lấp lánh đẹp đẻ, cô ước mơ rất nhiều, cô muốn được bay lượn quanh các vì sao.
Cô lang thang rách rưới tiều tụy vì ước mơ đó và cô lang thang mải để tìm cách lên chơi với các vì sao.
Một hôm cô thấy trên đỉnh núi cao các vì sao lấp lánh nhảy múa trên ngọn núi thật là thần tiên.
Cô reo mừng nhảy múa và hét to "Hảy chờ ta đến" và cô điên cuồng tìm các leo lên đỉnh núi.
Cô cố gắng leo lên quên rằng toàn thân cô tím bầm với những vết trầy trụa, rách sướt.
Cô lên tới lên đỉnh núi với hơi thở cuối cùng. Cô chỉ nhìn thấy các tảng đá bén nhọn vô tri với mây mù.
Cô ngã gục với thất vọng. Cô nhìn xuống chân núi tối đen. Chợt cô reo lên "Ồ! các vì sao của ta"
Dưới chân núi tối đen nơi cô vừa từ bỏ, các ngọn đèn của các mái ấm gia đình lấp lánh vô số muôn vàng như một dảy kim cương sáng chói và ấm áp, sáng hơn cả các vì sao mà cô đã thấy.
Cô bé ôm lấy mặt mình, Cô nhận ra rằng cô không phải là thiên thần và các vì sao đẹp không phải ở nơi cao xa.
Cô nằm chết gục trên đỉnh núi với con mắt mở to đẫm lệ và toàn thân tím ngắt.





TB. Chuyện này do già TOM tự sáng tạo và không cho phép các cô bé mơ mộng viễn vông copy paste vào bất cứ nơi nào! Và vì thế nên không cần phải chỉnh dấu hỏi ngã cho mất công!

dinhlocphp
02-03-2010, 04:41
Các vì sao.

Cô bé thường hay suy nghỉ vẩn vơ. Mọi người đều bảo là cô vẩn vơ nhưng cô không chú ý đến lời khuyên của các người khác. Cô chỉ thấy trần thế tội lổi quá, và cô quá trong sạch như một thiên thần và cô bé nghỉ rằng thiên thần như cô thì phải ở trên trời chung với các vì sao sáng.

Hằng đêm cô nhìn lên trời ngắm các vì sao sáng lấp lánh đẹp đẻ, cô ước mơ rất nhiều, cô muốn được bay lượn quanh các vì sao.
Cô lang thang rách rưới tiều tụy vì ước mơ đó và cô lang thang mải để tìm cách lên chơi với các vì sao.
Một hôm cô thấy trên đỉnh núi cao các vì sao lấp lánh nhảy múa trên ngọn núi thật là thần tiên.
Cô reo mừng nhảy múa và hét to "Hảy chờ ta đến" và cô điên cuồng tìm các leo lên đỉnh núi.
Cô cố gắng leo lên quên rằng toàn thân cô tím bầm với những vết trầy trụa, rách sướt.
Cô lên tới lên đỉnh núi với hơi thở cuối cùng. Cô chỉ nhìn thấy các tảng đá bén nhọn vô tri với mây mù.
Cô ngã gục với thất vọng. Cô nhìn xuống chân núi tối đen. Chợt cô reo lên "Ồ! các vì sao của ta"
Dưới chân núi tối đen nơi cô vừa từ bỏ, các ngọn đèn của các mái ấm gia đình lấp lánh vô số muôn vàng như một dảy kim cương sáng chói và ấm áp, sánh hơn cả các vì sao mà cô đã thấy.
Cô bé ôm lấy mặt mình, Cô nhận ra rằng cô không phải là thiên thần và các vì sao đẹp không phải ở nơi cao xa.
Cô nằm chết gục trên đỉnh núi với con mắt mở to đẫm lệ và toàn thân tím ngắt.





TB. Chuyện này do già TOM tự sáng tạo và không cho phép các cô bé mơ mộng viễn vông copy paste vào bất cứ nơi nào! Và vì thế nên không cần phải chỉnh dấu hỏi ngã cho mất công!

Rất hay và rất ý nghĩa - Những chuỗi đèn kim cương ấm áp từ mái ấm của những gia đình

Tks già TOM

acaxomcui
02-03-2010, 05:48
Nội dung truyện các vì sao của già TOM cô đọng,xúc tích quá!
Hàm ý 'đứng núi nầy trông núi nọ' rất sâu sắc.

lennel
02-03-2010, 15:53
@Bac Tom:

Con có cảm tưởng như Bác đang hết sức giúp con có cái nhìn sáng sủa hơn hơn 1 chút..

Và cho dù cái cảm tưởng đó của con có đúngnhư vậy ..

hay ko phải chăng nữa


Con cũng rất cảm ơn những lời giáo huấn của Bác..





.....................................




Mẹ điên !.

http://files.myopera.com/levulan/blog/MeDien.jpg






Hai mươi ba năm trước, có một người con gái trẻ lang thang qua làng tôi, đầu bù tóc rối, gặp ai cũng cười cười, cũng chả ngại ngần ngồi tè trước mặt mọi người.

Vì vậy, đàn bà trong làng đi qua cô gái thường nhổ nước bọt, có bà còn chạy lên trước dậm chân, đuổi "Cút cho xa!".
Thế nhưng cô gái không bỏ đi, vẫn cứ cười ngây dại quanh quẩn trong làng.


Hồi đó, cha tôi đã 35 tuổi. Cha làm việc ở bãi khai thác đá bị máy chém cụt tay trái, nhà lại quá nghèo, mãi không cưới được vợ.

Bà nội thấy con điên có sắc vóc, thì động lòng, quyết định mang cô ta về nhà cho cha tôi, làm vợ, chờ bao giờ cô ta đẻ cho nhà tôi "đứa nối dõi" sẽ đuổi đi liền.

Cha tôi dù trong lòng bất nhẫn, nhưng nhìn cảnh nhà, cắn răng đành chấp nhận. Thế là kết quả, cha tôi không phải mất đồng xu nào, nghiễm nhiên thành chú rể.



Khi mẹ sinh tôi, bà nội ẵm cháu, hóp cái miệng chẳng còn mấy cái răng vui sướng nói:

"Cái con mẹ điên này, mà lại sinh cho bà cái đứa chống gậy rồi!".

Có điều sinh tôi ra, bà nội ẵm mất tôi, không bao giờ cho mẹ đến gần con.



Mẹ chỉ muốn ôm tôi, bao nhiêu lần đứng trước mặt bà nội dùng hết sức gào lên:

"Đưa, đưa tôi..." bà nội mặc kệ. Tôi còn trứng nước như thế, như khối thịt non, biết đâu mẹ lỡ tay vứt tôi đi đâu thì sao?

Dù sao, mẹ cũng chỉ là con điên. Cứ mỗi khi mẹ khẩn cầu được bế tôi, bà nội lại trợn mắt lên chửi: "Mày đừng có hòng bế con, tao còn lâu mới đưa cho mày.

Tao mà phát hiện mày bế nó, tao đánh mày chết. Có đánh chưa chết thì tao cũng sẽ đuổi mày cút!". Bà nội nói với vẻ kiên quyết và chắc chắn. Mẹ hiểu ra, mặt mẹ sợ hãi khủng khiếp, mỗi lần chỉ dám đứng ở xa xa ngó tôi. Cho dù vú mẹ sữa căng đầy cứng, nhưng tôi không được một ngụm sữa mẹ nào, bà nội đút từng thìa từng thìa nuôi cho tôi lớn.

Bà nói, trong sữa mẹ có "bệnh thần kinh", nếu lây sang tôi thì phiền lắm.

Hồi đó nhà tôi vẫn đang giãy giụa giữa vũng bùn lầy của nghèo đói.
Đặc biệt là sau khi có thêm mẹ và tôi, nhà vẫn thường phải treo niêu.
Bà nội quyết định đuổi mẹ, vì mẹ không những chỉ ngồi nhà ăn hại cơm nhà, còn thỉnh thoảng làm thành tiếng thị phi



Một ngày, bà nội nấu một nồi cơm to, tự tay xúc đầy một bát cơm đưa cho mẹ, bảo:
"Con dâu, nhà ta bây giờ nghèo lắm rồi, mẹ có lỗi với cô. Cô ăn hết bát cơm này đi, rồi đi tìm nhà nào giàu có hơn một tí mà ở, sau này cấm không được quay lại đây nữa, nghe chửa?".

Mẹ tôi vừa và một miếng cơm to vào mồm, nghe bà nội tôi hạ "lệnh tiễn khách" liền tỏ ra kinh ngạc, ngụm cơm đờ ra lã tã trong miệng.

Mẹ nhìn tôi đang nằm trong lòng bà, lắp bắp kêu ai oán: "Đừng... đừng...". Bà nội sắt mặt lại, lấy tác phong uy nghiêm của bậc gia trưởng nghiêm giọng hét:

"Con dâu điên mày ngang bướng cái gì, bướng thì chả có quả tốt lành gì đâu. Mày vốn lang thang khắp nơi, tao bao dung mày hai năm rồi, mày còn đòi cái gì nữa?
Ăn hết bát đấy rồi đi đi, nghe thấy chưa hả?".


Nói đoạn bà nội lôi sau cửa ra cái xẻng, đập thật mạnh xuống nền đất như Dư Thái Quân nắm gậy đầu rồng, "phầm!" một tiếng.

Mẹ sợ chết giấc, khiếp nhược lén nhìn bà nội, lại chậm rãi cúi đầu nhìn xuống bát cơm trước mặt, có nước mắt rưới trên những hạt cơm trắng nhệch.

Dưới cái nhìn giám sát, mẹ chợt có một cử động kỳ quặc, mẹ chia cơm trong bát một phần lớn sang cái bát không khác, rồi nhìn bà một cách đáng thương hại.

Bà nội ngồi thẫn thờ, hoá ra, mẹ muốn nói với bà rằng, mỗi bữa mẹ sẽ chỉ ăn nửa bát, chỉ mong bà đừng đuổi mẹ đi.

Bà nội trong lòng như bị ai vò cho mấy nắm, bà nội cũng là đàn bà, sự cứng rắn của bà cũng chỉ là vỏ ngoài. Bà nội quay đầu đi, nuốt những nước mắt nóng đi, rồi quay lại sắt mặt nói:

"Ăn mau ăn mau, ăn xong còn đi. Ở nhà này cô cũng chết đói thôi!". Mẹ tôi dường như tuyệt vọng, đến ngay cả nửa bát cơm con cũng không ăn, thập thễnh bước ra khỏi cửa, nhưng mẹ đứng ở bậc cửa rất lâu không bước ra. Bà nội dằn lòng đuổi: "Cô đi, cô đi, đừng có quay đầu lại. Dưới gầm trời này còn nhiều nhà người ta giàu!".
Mẹ tôi quay lại, đưa một tay ra phía lòng bà, thì ra, mẹ muốn được ôm tôi một tí.

Bà nội lưỡng lự một lúc, rồi đưa tôi trong bọc tã lót cho mẹ.

Lần đầu tiên mẹ được ẵm tôi vào lòng, môi nhắp nhắp cười, cười hạnh phúc rạng rỡ.



Còn bà nội như gặp quân thù, hai tay đỡ sẵn dưới thân tôi, chỉ sợ mẹ lên cơn điên, quăng tôi đi như quăng rác. Mẹ ôm tôi chưa được ba phút, bà nội không đợi được giằng tôi trở lại, rồi vào nhà cài chặt then cửa lại.

Khi tôi bắt đầu lờ mờ hiểu biết một chút, tôi mới phát hiện, ngoài tôi ra, bọn trẻ chơi cùng tôi đều có mẹ. Tôi tìm cha đòi, tìm bà đòi, họ đều nói, mẹ tôi chết rồi. Nhưng bọn bạn cùng làng đều bảo tôi: "Mẹ mày là một con điên, bị bà mày đuổi đi rồi." Tôi tìm bà nội vòi vĩnh, đòi bà phải trả mẹ lại, còn chửi bà là đồ "bà lang sói", thậm chí hất tung mọi cơm rau bà bưng cho tôi. Ngày đó, tôi làm gì biết "điên" nghĩa là cái gì đâu, tôi chỉ cảm thấy nhớ mẹ tôi vô cùng, mẹ trông như thế nào nhỉ? mẹ còn sống không?

Không ngờ, năm tôi sáu tuổi, mẹ tôi trở về sau 5 năm lang thang.




Hôm đó, mấy đứa nhóc bạn tôi chạy như bay tới báo: "Thụ, mau đi xem, mẹ mày về rồi kìa, mẹ bị điên của mày về rồi!" Tôi mừng quá đít nhổng nhổng, co giò chạy vội ra ngoài, bà nội và cha cũng chạy theo tôi.

Đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy mẹ, kể từ khi biết nhớ. Người đàn bà đó vẫn áo quần rách nát, tóc tai còn những vụn cỏ khô vàng khè, có trời mới biết là do ngủ đêm trong đống cỏ nào. Mẹ không dám bước vào cửa, nhưng mặt hướng về phía nhà tôi, ngồi trên một hòn đá cạnh ruộng lúa trước làng, trong tay còn cầm một quả bóng bay bẩn thỉu.

Khi tôi và lũ trẻ đứng trước mặt mẹ, mẹ cuống cuồng nhìn trong đám tôi tìm con trai mẹ. Cuối cùng mẹ dán chặt mắt vào tôi, nhìn tôi chòng chọc, nhếch mép bảo: "Thụ... bóng... bóng...". Mẹ đứng lên, liên tục giơ lên quả bóng bay trong tay, dúi vào lòng tôi với vẻ nịnh nọt. Tôi thì liên tục lùi lại. Tôi thất vọng ghê gớm, không ngờ người mẹ ngày đêm tôi nhớ thương lại là cái hình người này. Một thằng cu đứng cạnh tôi kêu to:

"Thụ, bây giờ mày biết con điên là thế nào chưa? Là mẹ mày như thế này đấy!"

Tôi tức tối đáp lại nó: "Nó là mẹ mày ấy! Mẹ mày mới là con điên ấy, mẹ mày mới là thế này!

" Tôi quay đầu chạy trốn. Người mẹ bị điên này tôi không thèm. Bà nội và bố thì lại đưa mẹ về nhà. Năm đó, bà nội đuổi mẹ đi rồi, lương tâm bà bị chất vấn dày vò, bà càng ngày càng già, trái tim bà cũng không còn sắt thép được nữa, nên bà chủ động đưa mẹ về, còn tôi lại bực bội, bởi mẹ đã làm tôi mất thể diện.

Tôi không bao giờ tươi tỉnh với mẹ, chưa bao giờ chủ động nói với mẹ, càng không bao giờ gọi

"Mẹ!", khi phải trao đổi với mẹ, tôi gào là chủ yếu, mẹ không bao giờ dám hé miệng.

Nhà không thể nuôi không mẹ mãi, bà nội quyết định huấn luyện cho mẹ làm việc vặt. Khi đi làm đồng, bà nội dắt mẹ đi "quan sát học hỏi", bà bảo mẹ không nghe lời sẽ bị đánh đòn.

Sau một thời gian, bà nội nghĩ mẹ đã được dạy dỗ tương đối rồi, liền để mẹ tự đi cắt cỏ lợn.

Ai ngờ mẹ chỉ cắt nửa tiếng đã xong cả hai bồ "cỏ lợn".
Bà nội vừa nhìn đã tá hỏa sợ hãi, cỏ mẹ cắt là lúa giống vừa làm đòng trỗ bông trong ruộng nhà người ta.
Bà nội vừa sợ vừa giận phát cuồng chửi rủa: "Con mẹ điên lúa và cỏ mà không phân biệt được..." Bà nội còn đang chưa biết nên xoay xở ra sao, thì nhà có ruộng bị cắt lúa tìm tới, mắng bà cố ý dạy con dâu làm càn.
Bà nội tôi lửa giận bốc phừng phừng, trước mặt người ta lấy gậy đánh vào eo lưng con dâu, chửi: "Đánh chết con điên này, mày cút ngay đi cho bà..."

Mẹ tuy điên, nhưng vẫn biết đau, mẹ nhảy nhỏm lên chạy trốn đầu gậy, miệng phát ra những tiếng lắp bắp sợ hãi: "Đừng... đừng...".
Sau rồi, nhà người ta cũng cảm thấy chướng mắt, chủ động bảo: "Thôi, chúng tôi cũng chẳng bắt đền nữa. Sau này giữ cô ta chặt một tí là được..
.". Sau khi cơn sóng gió qua, mẹ oại người dưới đất thút thít khóc.

Tôi khinh bỉ bảo: "Cỏ với lúa mà cũng chả phân biệt được, mày đúng là lợn!" Lời vừa dứt, gáy tôi bị một cái tát lật, là bà.
Bà trừng mắt bảo tôi: "Thằng ngu kia, mày nói cái gì đấy? Mày còn thế này nữa? Đấy là mẹ mày đấy!" Tôi vùng vằng bĩu môi: "Cháu không có loại mẹ điên khùng thế này!"

"A, mày càng ngày càng láo. Xem bà có đánh mày không!"

Bà nội lại giơ tay lên, lúc này chỉ thấy mẹ như cái lò xo bật từ dưới đất lên, che giữa bà nội và tôi, mẹ chỉ tay vào đầu mẹ, kêu thảng thốt:

"Đánh tôi, đánh tôi!"

Tôi hiểu rồi, mẹ bảo bà nội đánh mẹ, đừng đánh tôi.

Cánh tay bà trên không trung thõng xuống, miệng lẩm bẩm: "Con mẹ điên này, trong lòng nó cũng biết thương con đây!".

Tôi vào lớp một, cha được một hộ chuyên nuôi cá làng bên mời đi canh hồ cá, mỗi tháng lương 50 tệ. Mẹ vẫn đi làm ruộng dưới sự chỉ bảo của bà, chủ yếu là đi cắt cỏ lợn, mẹ cũng không còn gây ra vụ rầy rà nào lớn nữa.

Nhớ một ngày mùa đông đói rét năm tôi học lớp ba, trời đột ngột đổ mưa, bà nội sai mẹ mang ô cho tôi.

Có lẽ trên đường đến trường tôi mẹ đã ngã ì oạch mấy lần, toàn thân trông như con khỉ lấm bùn, mẹ đứng ở ngoài cửa sổ lớp học nhìn tôi cười ngớ ngẩn, miệng còn gọi tôi:
"Thụ... ô...". Có mấy đứa bạn tôi cười khúc khích, tôi như ngồi trên bàn chông, oán hận mẹ khủng khiếp, hận mẹ không biết điều, hận mẹ làm tôi xấu hổ, càng hận thằng Phạm Gia Hỷ cầm đầu trêu chọc.

Trong lúc nó còn đang khoa trương bắt chước mẹ, tôi chộp cái hộp bút trước mặt, đập thật mạnh cho nó một phát, nhưng bị Phạm Gia Hỷ tránh được.

Nó xông tới bóp cổ tôi, chúng tôi giằng co đánh nhau.
Tôi nhỏ con, vốn không phải là đối thủ của nó, bị nó dễ dàng đè xuống đất.
Lúc này, chỉ nghe một tiếng "vút" kéo dài từ bên ngoài lớp học, mẹ giống như một đại hiệp "bay" ào vào, một tay tóm cổ Phạm Gia Hỷ, đẩy ra tận ngoài cửa lớp.
Ai cũng bảo người điên rất khỏe, thật sự đúng là như vậy.
Mẹ dùng hai tay nhấc bổng thằng bắt nạt tôi lên trên không trung, nó kinh sợ kêu khóc gọi bố mẹ, một chân béo ị khua khoắng đạp loạn xạ trên không trung.
Mẹ không thèm để ý, vứt nó vào ao nước cạnh cổng trường, rồi mặt thản nhiên, mẹ đi ra.

Mẹ vì tôi gây ra đại hoạ, mẹ lại làm như không có việc gì xảy ra.
Trước mặt tôi, mẹ lại có vẻ khiếp nhược, nhìn tôi vẻ muốn lấy lòng.
Tôi hiểu ra đây là tình yêu của mẹ, dù đầu óc mẹ không tỉnh táo, thì tình yêu của mẹ vẫn tỉnh táo, vì con trai của mẹ bị người ta bắt nạt.
Lúc đó tôi không kìm được kêu lên: "Mẹ!" đây là tiếng gọi đầu tiên kể từ khi tôi biết nói.
Mẹ sững sờ cả người, nhìn tôi rất lâu, rồi y hệt như một đứa trẻ con, mặt mẹ đỏ hồng lên, cười ngớ ngẩn.

Hôm đó, lần đầu tiên hai mẹ con tôi cùng che một cái ô về nhà. Tôi kể sự tình cho bà nội nghe, bà nội sợ rụng rời ngã ngồi lên ghế, vội vã nhờ người đi gọi cha về. Cha vừa bước vào nhà, một đám người tráng niên vạm vỡ tay dao tay thước xông vào nhà tôi, không cần hỏi han trắng đen gì, trước tiên đập phá mọi bát đũa vò hũ trong nhà nát như tương, trong nhà như vừa có động đất cấp chín.

Đây là những người do nhà Phạm Gia Hỷ nhờ tới, bố Phạm hung hãn chỉ vào cha tôi nói: "Con trai tao sợ quá đã phát điên rồi, hiện đang nằm nhà thương. Nhà mày mà không mang 1000 tệ trả tiền thuốc thang, mẹ mày tao cho một mồi lửa đốt tan cái nhà mày ra."

Một nghìn tệ? Cha đi làm một tháng chỉ 50 tệ!

Nhìn những người sát khí đằng đằng nhà họ Phạm, cha tôi mắt đỏ lên dần, cha nhìn mẹ với ánh mắt cực kỳ khủng khiếp, một tay nhanh như cắt dỡ thắt lưng da, đánh tới tấp khắp đầu mặt mẹ.

Một trận lại một trận, mẹ chỉ còn như một con chuột khiếp hãi run rẩy, lại như một con thú săn đã bị dồn vào đường chết, nhảy lên hãi hùng, chạy trốn, cả đời tôi không thể quên tiếng thắt lưng da vụt lạnh lùng lên thân mẹ và những tiếng thê thiết mẹ kêu.

Sau đó phải trưởng đồn cảnh sát đến ngănbàn tay bạo lực của cha.

Kết quả hoà giải của đồn cảnh sát là:

Cả hai bên đều có tổn thất, cả hai không nợ nần gì nhau cả.

Ai còn gây sự sẽ bắt luôn người đó. Đám người đi rồi, cha tôi nhìn khắp nhà mảnh vỡ nồi niêu bát đũa tan tành, lại nhìn mẹ tôi vết roi đầy mình, cha tôi bất ngờ ôm mẹ tôi vào lòng khóc thảm thiết.

"Mẹ điên ơi, không phải là tôi muốn đánh mẹ, mà nếu như tôi không đánh thì việc này không thể dàn xếp nổi, nhà mình làm gì có tiền mà đền cho người. Bởi nghèo khổ quá mà thành hoạ đấy thôi!".

Cha lại nhìn tôi nói: "Thụ, con phải cố mà học lên đại học. Không thì, nhà ta cứ bị người khác bắt nạt suốt đời, nhé!". Tôi gật đầu, tôi hiểu.


Mùa hè năm 2000, tôi thi đỗ vào trung học với kết quả xuất sắc.

Bà nội tôi vì làm việc cực nhọc cả đời mà mất trước đó, gia cảnh ngày càng khó khăn hơn. Cục Dân Chính khu tự trị Ân Thi (Hồ Bắc) xếp nhà tôi thuộc diện đặc biệt nghèo đói, mỗi tháng trợ cấp 40 tệ. Trường tôi học cũng giảm bớt học phí cho tôi, nhờ thế tôi mới có thể học tiếp.





Vì học nội trú, bài vở nhiều, tôi rất ít khi về nhà. Cha tôi vẫn đi làm thuê 50 tệ một tháng, gánh tiếp tế cho tôi đặt lên vai mẹ, không ai thay thế được. Mỗi lần bà thím nhà bên giúp nấu xong thức ăn, đưa cho mẹ mang đi.

Hai mươi ki lô mét đường núi ngoằn ngoèo ruột dê làm khổ mẹ phải tốn sức ghi nhớ đường đi, gió tuyết cũng vẫn đi. Và thật là kỳ tích, hễ bất cứ việc gì làm vì con trai, mẹ đều không điên tí nào.

Ngoài tình yêu mẫu tử ra, tôi không còn cách giải thích nào khác. Y học cũng nên giải thích khám phá hiện tượng này.

Ngày...tháng... năm..., lại là một chủ nhật, mẹ lại đến, không chỉ mang đồ ăn cho tôi, mẹ còn mang đến hơn chục quả đào dại. Tôi cầm một quả, cắn một miếng, cười hỏi mẹ:

"Ngọt quá, ở đâu ra?" Mẹ nói: "Tôi... tôi hái..." không ngờ mẹ tôi cũng biết hái cả đào dại, tôi chân thành khen mẹ: "Mẹ, mẹ càng ngày càng tài giỏi!". Mẹ cười hì hì.

Trước lúc mẹ về, tôi theo thói quen dặn dò mẹ phải cẩn thận an toàn, mẹ ờ ờ trả lời.

Tiễn mẹ xong, tôi lại bận rộn ôn tập trước kỳ thi cuối cùng của thời phổ thông.

Ngày hôm sau, khi đang ở trên lớp, bà thím vội vã chạy đến trường, nhờ thầy giáo gọi tôi ra ngoài cửa.

Thím hỏi tôi, mẹ tôi có đến đưa tiếp tế đồ ăn không? Tôi nói đưa rồi, hôm qua mẹ về rồi. Thím nói:
"Không, mẹ mày đến giờ vẫn chưa về nhà!" Tim tôi thót lên một cái, mẹ tôi chắc không đi lạc đường?
Chặng đường này mẹ đã đi ba năm rồi, có lẽ không thể lạc được.

Thím hỏi: "Mẹ mày có nói gì không?" Tôi bảo không, mẹ chỉ cho cháu chục quả đào tươi. Thím đập hai tay:"
Thôi chết rồi, hỏng rồi, có lẽ vì mấy quả đào dại rồi!" Thím kêu tôi xin nghỉ học, chúng tôi đi men theo đường núi về tìm.
Đường về quả thực có mấy cây đào dại, trên cây chỉ lơ thơ vài quả cọc, bởi nếu mọc ở vách đá mới còn giữ được quả. Chúng tôi cùng lúc nhìn thấy trên thân cây đào có một vết gãy cành, dưới cây là vực sâu trăm thước. Thím nhìn tôi rồi nói: "Chúng ta đi xuống khe vách đá tìm!" Tôi nói: "Thím, thím đừng doạ cháu...". Thím không nói năng kéo tôi đi xuống vách núi...


Mẹ nằm yên tĩnh dưới khe núi, những trái đào dại vương vãi xung quanh, trong tay mẹ còn nắm chặt một quả, máu trên người mẹ đã cứng lại thành đám màu đen nặng nề.

Tôi đau đớn tới mức ngũ tạng như vỡ ra, ôm chặt cứng lấy mẹ, gọi: "Mẹ ơi, Mẹ đau khổ của con ơi!

Con hối hận đã nói rằng đào này ngọt! Chính là con đã lấy mạng của mẹ... Mẹ ơi, mẹ sống chẳng được hưởng sung sướng ngày nào..."

Tôi sát đầu tôi vào khuôn mặt lạnh cứng của mẹ, khóc tới mức những hòn đá dại trên đỉnh núi cũng rớt nước mắt theo tôi.






Ngày 7/8/2003, một trăm ngày sau khi chôn cất mẹ, thư gọi nhập học dát vàng dát bạc của Đại học Hồ Bắc đi xuyên qua những ngả đường mẹ tôi đã đi, chạy qua những cây đào dại, xuyên qua ruộng lúa đầu làng, "bay" thẳng vào cửa nhà tôi.

Tôi gài lá thư đến muộn ấy vào đầu ngôi mộ cô tịch của mẹ:

"Mẹ, con đã có ngày mở mặt mở mày rồi, MẸ có nghe thấy không?

MẸ có thể ngậm cười nơi chín suối rồi!"
__________________

acaxomcui
03-03-2010, 04:26
Len lại không ghi tên tác giã rồi.

Chuyện hay quá!

lennel
03-03-2010, 15:31
@: aca: len suutam nhưng ko nhớ tacgia..
(truyện dịch )




..................................




Giấy chứng nhận :"Người"!





Trên đoàn tàu, cô soát vé hết sức xinh đẹp cứ nhìn chằm chằm vào người đàn ông lớn tuổi áng chừng đi làm thuê, hạch sách: -Vé tàu!

Người đàn ông lớn tuổi lục khắp người từ trên xuống dưới một thôi một hồi, cuối cùng tìm thấy vé, nhưng cứ cầm trong tay không muốn chìa ra.

Cô soát vé liếc nhìn vào tay anh, cười trách móc:

- Đây là vé trẻ em.

Người đàn ông đứng tuổi đỏ bằng mặt, nhỏ nhẹ đáp:

-Vé trẻ em chẳng phải ngang giá vé người tàn tật hay sao?

Giá vé trẻ em và người tàn tật đều bằng một nửa vé, đương nhiên cô soát vé biết. Cô nhìn kỹ người đàn ông một lúc rồi hỏi:

-Anh là người tàn tật?

-Vâng, tôi là người tàn tật.

-Vậy anh cho tôi xem giấy chứng nhận tàn tật.

Người đàn ông tỏ ra căng thẳng. Anh đáp:

-Tôi... không có giấy tờ. Khi mua vé cô bán vé bảo tôi đưa giấy chứng nhận tàn tật, không biết làm thế nào, tôi đã mua vé trẻ em

Cô soát vé cười gằn:

-Không có giấy chứng nhận tàn tật, làm sao chứng minh được anh là người tàn tật?

Người đàn ông đứng tuổi im lặng, khe khẽ tháo giầy, rồi vén ống quần lên - Anh chỉ còn một nửa bàn chân.

Cô soát vé liếc nhìn, bảo:

- Tôi cần xem chừng từ, tức là quyển sổ có in mấy chữ "Giấy chứng nhận tàn tật", có đóng con dấu bằng thép của Hội người tàn tật!

Người đàn ông đứng tuổi có khuôn mặt quả dưa đắng, giải thích:

- Tôi không có hộ khẩu của địa phương, người ta không cấp sổ tàn tật cho tôi. Hơn nữa, tôi làm việc trên công trường của tư nhân. Sau khi xảy ra sự cố ông chủ bỏ chạy, tôi cũng không có tiền đến bệnh viện giám định...


Trưởng tàu nghe tin, đến hỏi tình hình.

Người đàn ông đứng tuổi một lần nữa trình bày với trưởng tàu, mình là người tàn tật, đã mua một chiếc vé có giá trị bằng vé của người tàn tật ...

Trưởng tàu cũng hỏi:

- Giấy chứng nhận tàn tật của anh đâu?

Người đàn ông đứng tuổi trả lời anh không có giấy chứng nhận tàn tật, sau đó anh cho Trưởng tàu xem nửa bàn chân của mình.

Trưởng tàu ngay đến nhìn cũng không thèm nhìn, cứ nhất quyết nói:

- Chúng tôi chỉ xem giấy chứng nhận, không xem người. Có giấy chứng nhận tàn tật chính là người tàn tật, có giấy chứng nhận tàn tật mới được hưởng chế độ ưu đãi vé người tàn tật. Anh mau mau mua vé bổ sung.

Người đứng tuổi bỗng thẫn thờ. Anh lục khắp lượt các túi trên người và hành lý, chỉ có bốn đồng, hoàn toàn không đủ mua vé bổ sung. Anh nhăn nhó và nói với trưởng tàu như khóc:

- Sau khi bàn chân tôi bị máy cán đứt một nửa, không bao giờ còn đi làm được nữa. Không có tiền, ngay đến về quê cũng không về nổi. Nửa vé này cũng do bà con đồng hương góp mỗi người một ít để mua giùm, xin ông mở lượng hải hà, giơ cao đánh khẽ, nương bàn tay cao quý, tha cho tôi.

Trưởng tàu nói kiên quyết:

- Không được.

Thừa dịp, cô soát vé nói với Trưởng tàu:

- Bắt anh ta lên đầu tàu xúc than, coi như làm lao động nghĩa vụ.

Nghĩ một lát, trưởng tàu đồng ý:

- Cũng được.

Một đồng chí lão thành ngồi đối diện với người đàn ông đứng tuổi tỏ ra chướng tai gai mắt, đứng phắt lên nhìn chằm chằm vào mắt vị trưởng tàu, hỏi:

- Anh có phải đàn ông không?

Vị trưởng tàu không hiểu, hỏi lại:

- Chuyện này có liên quan gì đến tôi có là đàn ông hay không?

- Anh hãy trả lời tôi, anh có phải đàn ông hay không?

- Đương nhiên tôi là đàn ông!

- Anh dùng cái gì để chứng minh anh là đàn ông? Anh đưa giấy chứng nhận đàn ông của mình cho mọi người xem xem?

Mọi người chung quanh cười rộ lên.

Thừ người ra một lát, vị truởng tàu nói:

- Một người đàn ông to lớn như tôi đang đứng đây, lẽ nào lại là đàn ông giả?

Đồng chí lão thành lắc lắc đầu, nói:

- Tôi cũng giống anh chị, chỉ xem chứng từ, không xem người, có giấy chứng nhận đàn ông sẽ là đàn ông, không có giấy chứng nhận đàn ông không phải đàn ông.

Vị trưởng tàu tịt ngóp, ngay một lúc không biết ứng phó ra sao.

Cô soát vé đứng ra giải vây cho Trưởng tàu. Cô nói với đồng chí lão thành:

- Tôi không phải đàn ông, có chuyện gì ông cứ nói với tôi.

Đồng chí lão thành chỉ vào mặt chị ta, nói thẳng thừng:

- Cô hoàn toàn không phải người!

- Cô soát vé bỗng nổi cơn tam bành, nói the thé:

- Ông ăn nói sạch sẽ một chút. Tôi không là người thì là gì?

Đồng chí lão thành vẫn bình tĩnh, cười ranh mãnh, ông nói:

Cô là người ư? Cô đưa giấy chứng nhận "người" của cô ra xem nào...

Mọi hành khách chung quanh lại cười ầm lên một lần nữa.

Chỉ có một người không cười. Đó là người đàn ông trung niên bị cụt chân. Anh cứ nhìn chân chân vào mọi thứ trước mặt. Không biết tự bao giờ, mắt anh đẫm lệ, không rõ anh tủi thân, xúc động, hay thù hận.

nguồn: tuoitrenangdong

The Old Man
05-03-2010, 02:53
Nhà Bác Học.

Ông là một nhà bác học trẻ tuồi tài cao nồi tiếng trong nước.
Cả nước ca ngợi và coi ông là một nhân tài vì ông rất tài giỏi, ông đả sáng chế biết bao nhiêu vủ khí tân kỳ, mạnh bạo đã đưa đất nước ông lên hàng cường quốc thế giới. Ông củng rất hảnh diện vì đã góp phần xây dưng đất nước hùng mạnh.
Càng ngày ông càng say mê nghiên cứu và sáng chế. Ông rất tự hào cho mình là một người hửu ích cho đất nước. Với nhửng phát minh của ông nước ông quá hùng mạnh và bắt đầu có tham vọng thôn tính thế giới, Và cuốc chiến thế giới từ đó mà bùng nổ.
Mặc dù nước ông gần như thống trị cả thề giới nhưng cái kết quả đáng thương là toàn thể gia đình vợ con cha mẹ ông chết trong cuộc chiến đó.
Nhìn lại những điêu tàn đổ nát mất mát đó ông ta hận mình và hận cả nhân loại. Ông nghỉ rằng cá nhân ông, đất nước và cả thế giới đều tàn ác độc hại cần phải huỷ diệt.
Nuôi cái ý định đó ông gom góp tất cả những tải liệu, kiến thức, dụng cụ đem vào một khu rừng núi xa xôi không một bóng người.
Từ nơi đó với lòng căm thù loài người ông miệt mài nghiên cứu chế tạo ra một quả bom thật mạnh, mạnh gắp trăm ngàn lần các trái bom nguyên tữ đả có mà độ nhỏ của nó có thề mang theo bên mình .
Sau hơn 30 mươi năm cố gắng ông đã thành công, với trái bom này có thể huỷ diệt toàn thề sự sống trên trái đất và ông gọi nó là "Quả Bom Công Lý". Bây giờ ông đã trở thành một cụ già và lòng hận thù càng ngày càng chồng chất, ông quyết tâm thực thi ý định cuối cùng.

Ông khăn gói xuống núi, gói theo quả bom nhỏ bên người, Ông muốn tận mắt nhìn loài người bị huỷ diệt.
Ông đi về phía thành phố sau hơn 30 năm sống trong rừng núi không tiếp xúc với loài người hung ác bên ngoài.

Ông chợt bàng hoàng và bối rối khi thấy nhà của san sát, cao ráo sạch sẽ, nhà cao cửa rộng, đèn đuốc xe cộ sáng toang, không còn lại một dấu vết nào của chiến tranh và nhất là mọi người già cả, lớn bé, trai gái đều vui vẻ hanh phúc với nụ cười luôn luôn trên môi.
Ông ngẩn ngơ, không biết phải làm gì. Ông đi vòng quanh đường phố, hình như hôm nay có hội, mọi người trai thanh gái lịch cặp tay đi bên nhau hạnh phúc vô biên.

Ông dừng một cặp trai gái lại và hỏi "Hôm nay là lể hội gì thế"
Cô gái nhí nhảnh "Dạ thưa cụ hôm nay là ngày thứ bảy cuối tuần chớ đâu phải là ngày lể"
Ông sững sờ hỏi thêm "Thế không có chiến tranh sao?"
Anh trai trẻ trố mắt "Chiến tranh gì thế thưa cụ"
Cặp trai gái vui vẻ tung tăng nhảy múa bỏ lại sau lưng nhà bác học đang ngẩng ngơ.

Ông tìm đến một cụ già cở tuổi của ông, ông hỏi nhanh "Anh bạn già ơi cho tôi hỏi cuộc chiến tranh thế giới thứ ba không còn nửa phải không anh?"
Ông già cười vui "Anh bạn ở đâu mới đến mà lại hỏi câu chuyện xa xưa vậy. Bây giờ đâu còn chiến tranh nửa, hoà bình thế giới mấy chục năm nay rồi"
Và ông già kể lại chuyện thế giới đại chiến và sự mất mát của nhân loại và nhân loại đã học được bài học với giá quá đắt, loại người hiểu rỏ và ý thức được cuộc sống nên đồng bắt tay sống hoà bình với nhau.
Để kết luận ông già vổ vai nhà bác học "Tôi biết anh ở nơi xa đến. Anh cứ việc ở lại đây chơi, nếu thích thì ở lại nhà của tôi hay của ai củng được, mọi người đều dư dả không ai ngại ngùng gì trong việc chia sẻ và giúp đở anh đâu.

Nhà bác học ngơ ngác đi quanh quẩn trong thành phố. Quả thật như cụ già kia nói, mọi người hiền lành tử tế và sung túc đến độ sẳn sàng chia sẻ không riêng ông mà cho mọi người.

Ông tham gia vào các cuộc vui bày trên được phố. Ông được những cô cậu cho các quả bong bóng, bó hoa ngay các em bé nhỏ củng chia cho ông những chiếc kẹo, chiếc bánh ngon ngọt mà hình như trong cuộc đời ông chưa bao giờ có.
Tự nhiên ông cảm thấy cuộc sống thật có ý nghỉa, thật hạnh phúc, thật hoà bình. Ông vui vẻ tham gia vào các cuộc nhảy múa vui chơi mà trong cuộc đời ông chưa từng có. Ông đả quên hẳng đi quả bom ông còn đeo sát trong người.
Tối hôm đó ông lén đi ra bờ sông, Ông ném quả bom xuống dòng sông sâu và vui vẻ quay lại vui chơi với mọi người.

Sáng hôm sau người dân trong phố thấy có một cụ già nằm chết nơi công viên, miệng vẩn mỉnh cười hạnh phúc và chung quanh ông ta đầy kẹo bánh và bông hoa.

lennel
14-03-2010, 14:12
http://c.upanh.com/upload/3/837/7Z0.7944192_1_1.jpg

Chuyện kể rằng: Ác quỷ vô tình rơi mất mặt nạ của mình.Một cô bé tò mò nhặt được ướm thử lên mặt. Mặt nạ của quỷ dính chặt vào da thịt, cô bé không tài nào tháo gỡ được. Cô bé trở thành một con quỷ xấu xí. Cô bé hoảng loạn, chạy thật nhanh về làng kiếm mẹ. Mẹ cô không nhận ra cô cùng người trong làng đuổi cô bé đi.Cô bé tội nghiệp đau đớn tột cùng. Thế rồi, cậu bạn thanh mai trúc mã của cô bé xuất hiện, ra mặt giúp cô bé giải thích mọi chuyện... Chỉ vì cậu tin đấy là cô bé. Cô bé có được niềm tin yêu... Mặt nạ được gỡ bỏ.

-Thế nào anh yêu, đã nghe truyện này chưa ?

Quàng tay qua vai anh, mái tóc thướt tha của cô lan tỏa một mùi hương đặc trưng. Anh ngây ngất say mê trong vòng tay ấm áp của người yêu.

- Dĩ nhiên anh đã nghe rồi... Cái truyện này, không biết em đã kể biết bao nhiêu lần cho anh nghe rồi mà.

- Ngày mai em sẽ đưa anh ra sân bay chứ ?" A nh ngoảnh đầu nhìn cô, nhẹ nhàng nói bên tai cô.
- Không đâu... Vì em sẽ khóc. Vừa trả lời cô vừa dùng dằn mím chặt lấy môi.

Nhìn khuôn mặt kiềm nén để không khóc ấy của cô anh bật cười. Chỉ những điều nhỏ nhặt thế cũng đủ để anh cảm thấy yêu cô. Anh và cô đã bàn tính đến chuyện đám cưới rồi mà.Vì yêu cầu công việc anh phải tạm rời xa cô, để ra nước ngoài một năm. Nếu có thể, chắc anh đã mang cô theo mình. Thật đáng tiếc, bố mẹ cô không cho phép.

- Ở nước ngoài, chắc anh nhớ em đến chết mất !

- Thật à ?
- Bảo đảm.

Anh ngắt nhẹ mũi, đặt lên môi cô nụ hôn dịu dàng. Những giọt nước mắt không nghe lời nước cứ rơi. Khuôn mặt hồng hào xinh xắn của cô dưới ánh đèn càng làm cô trông xinh đẹp hơn với đôi má ửng đỏ. Vì cô anh gần như đã định bỏ đi cơ hội ra nước ngoài tu nghiệp.

- Đừng khóc... Vì em anh nhất định sẽ quay về .Lúc ấy chúng ta sẽ cử hành hôn lễ thật long trọng nhé, được không ?"
- Dạ... vâng... uhmmm.
- Đừng khóc nữa mà.Anh đau lòng lắm. Anh yêu em.
- Em cũng yêu anh.
- Suốt cuộc đời, anh chỉ yêu mình em

Đưa tiễn anh đi được một thời gian.Vài tháng sau cô gái và bạn đã gặp tai nạn giao thông. Tính mạng cô bị đe dọa. Việc duy trì cuộc sống cho cô thật khó khăn . Khuôn mặt cô biến dạng, trông rất đáng sợ vì vết thương của cô khá nặng vả lại quá trình phẫu thuật cũng không được thành công cho lắm.
Tổn thương ,Cô tức tưởi khóc trên giường. Khuôn mặt xinh xắn đáng yêu mất đi biết sống làm sao đây ? ý nghĩ kết liễu cuộc đời luôn lởn vởn trong trí óc cô! Bố mẹ nhìn cô e ngại chẳng dám đến gần. Nếu không có những lời khuyên của bạn bè có lẽ cô đã không tiếp sống.

- Đây là email của anh ấy, có muốn nói chuyện cùng anh ấy không ? Bạn bè cố giúp cô.

Khuôn mặt biến dạng khiến cô mất hẳn sự tự tin. Cô khóa mình trong phòng kín không dám gặp gỡ ai.Cho dù đó là người cô hết mực yêu thương, cô cũng từ chối nói chuyện.

- Anh ta rất lo cho cậu đấy, một mực muốn biết tình trạng của cậu.
- Cậu muốn tôi gặp anh ấy sao chứ ? Với khuôn mặt như thế này đấy hả ? Bố mẹ còn không chấp nhận được tôi, huống gì là anh ấy ! Tôi thực sự không dám đối mặt với anh ấy.
Từng ngón tay chạm vào da mặt sần sùi nếp gấp khúc, nhăn nhúm như một con quỷ. Đâu rồi ? Cô gái xinh xắn đáng yêu lúc trước đâu rồi ? Anh sẽ nghĩ thế nào đây ? Có còn yêu cô nữa không ? Sẽ còn thích cô nữa hay không ? Càng nghĩ cô càng chẳng dám mơ đến việc sẽ chuẩn bị đám cưới với anh.

- Thế..... Đó cũng là một cơ hội để cậu thử lòng anh ấy đó chứ !

Bạn bè cứ khuyên nhủ, cuối cùng cô quyết định liên lạc lại với anh. Nhưng cô không hề đá động đến khuôn mặt biến dạng của mình. Cô tự thu mình trong nỗi sợ hãi.

Ngày nối ngày trôi qua.... kì hạn mộ năm đã cận kề.

Anh vui vẻ bàn tính đến các khâu đám cưới mà hai người phải chuẩn bị trong thư gửi cho cô. Cô lặng người....vỡ tan.... lo sợ....

Ngày anh về đã đến.
Bạn bè đưa cô đến sân bay.Tim cô bấn loạn, bất an, nhưng vẫn rất muốn có một cơ hội..Có thật là anh sẽ nhận ra cô như trong truyện đã nói không ? Cô đeo kính đen, đội nón, mang khẩu trang, đứng lặng im tại góc khuất sân bay, đợi người cô yêu.
Anh bước xuống máy bay với tâm trạng hứng khởi.Thời gian một năm xa cô đủ để anh hiểu tình yêu của anh dành cho cô không lời nói nào đủ để bày tỏ. Một năm liên lạc với cô, dù có gián đoạn nhưng những lá thư gửi cho nhau đã khiến hai người đong đầy nỗi nhớ. dù có đôi chút lo lắng không biết cô ta đã gặp sự cố gì mà bạn bè cô một mực giấu bặt tin. Thôi thì, không nghĩ ngợi nữa....Vì hôm nay anh được gặp cô người mà suốt một năm dai dẳng anh nhớ đến.

Bước chân xuống sân bay.
Trong dòng người đông đúc
Anh đảo mắt kiếm tìm bóng hình quen thuộc.
Anh tin rằng.
Cô sẽ thật khác biệt so với mọi người.
Nhất định cô đã đến.
Thế là anh bắt đầu rảo bước khắp nơi tìm kiếm cô.
Cuối cùng...Tại đằng sau cây cột trước cổng ra vào, anh đã tìm ra cô.Anh vui vẻ chạy đến phía sau, ôm chặt lấy cô.

- Ui da, nhớ em chết đi được ! Đến đây rước anh, mà lại còn chơi trốn tìm với anh thế này à !
- Anh... kiếm được em ? Giọng cô ta nhỏ dần..
Cảm giác kì lạ bao quanh anh . Xoay vai anh nhìn thẳng vào cô. Mà sao cô lại che khuôn mặt của mình như thế ?

- Anh... anh... còn nhận ra em chứ ?

Giọng nói trầm ngâm vang lên từ đằng sau khẩu trang. Anh lo sợ vòng tay ôm cô vào lòng. Nhất định có chuyện xảy ra rồi.

- Anh dĩ nhiên là nhận ra em rồi. Anh yêu em mà !
- Thế... như vậy thì anh có còn yêu em không ?

Trước mặt anh, cô cởi bỏ nón, tháo mắt kính và cuối cùng cùng là cái khẩu trang.Khuôn mặt xấu xí kinh khủng xuất hiện trước mặt anh.Mọi người kinh hoàng ... Những tiếng kêu thảng thốt khi nhìn thấy khuôn mặt ấy vang lên. Anh vẫn không phản ứng gì và bình thản cười to:

- Anh hoàn toàn không để tâm .Ôm gọn cô vào lòng anh nhẹ nhàng rót vào tai cô:

- Dĩ nhiên. Anh yêu em !

Anh đưa tay, từng ngón từng ngón tay chạm vào những vết sẹo trên mặt cô và đặt nụ hôn lên mặt cô như thể hiện rằng:Dù mặt cô có thay đổi đi chăng nữa(cô gái xinh đẹp lúc trước không còn.) anh vẫn rất yêu, rất yêu cô.

Anh và cô bắt đầu chuẩn bị lễ cưới.Mặc cho sự cản trở từ phía gia đình anh,anh vẫn kiên định sẽ cưới cô. Chỉ vì anh thật sự rất yêu cô.Yêu vẻ đẹp nội tâm.Vì vậy... từ ánh nhìn đầu tiên anh đã nhận ra cô.

Sau khi về nước, để hòa nhập nhanh chóng hơn với công việc anh thường xuyên về nhà muộn.Cô ở nhà chờ đợi và lo lắng.Mặc cho những cú điện thoại báo cáo anh đã đi đâu, làm gì cô vẫn cứ lo, vẫn cứ sợ...... rất sợ. Sợ anh sẽ bỏ rơi cô . Cô sống khép mình, mất hoàn toàn lòng tự tin. Lúc đầu, cô hay gọi điện cho anh.Chỉ cần một phút chậm trễcô cũng vặn vẹo hỏi đủ điều. Thời gian, lòng hoài nghi của cô cứ ngày một tăng.Cô càng ngày càng khắt khe và cáu bẳn. Thậm chí cô không muốn cho anh đi làm.
Anh khó chịuNhiều lần muốn nói rõ vấn đề, nhưng lại sợ làm tổn thương cô anh kìm nén và im lặng. Dần dà, cô càng ngang tàng, thường la làng như thể một bà điên. Gánh nặng công việc cộng áp lực trước những lời buộc tội vô cớ rút cuộc anh đã nói :

- Em đừng làm cho tâm hồn em cũng trở nên xấu xí đi chứ !

Nói rồi, anh bỏ đi. Đối diện với lời anh vừa nói cô òa khóc tức tưởi. Cô không muốn thế đâu... chỉ vì... chỉ vì.... cô sợ mất anh thôi mà.Trước đây, cô đâu phải như thế. Trái tim cô trở nên xấu xí chắc bắt nguồn từ cái khuôn mặt xấu xí .

Cô quyết định xin lỗi anh. Gọi điện anh bảo đang họp tại công ty.Cô chạy đến công ty tìm anh, nhân viên lại bảo anh không đi làm ngày hôm nay. Bàng hoàng.....cô gọi điện lại cho anh..... Khóa máy. Cô bắt đầu lo sợ.Không lẽ anh đã tìm người phụ nữ khác sao ? Nghĩ đến đó... cô chau mày... Chẳng phải vì những suy nghĩ linh tinh thế, nên anh bỏ đi à .Cô tự động viên mình rằng cô nên tin tưởng anh nhiều hơn.
Trên đường về vô tình cô nhìn thấy anh đang ngồi cùng 1 phụ nữ trong tiệm coffee shop sang trọng. Thật không ngờ suy đoán của cô lại là sự thật. Bên đường anh và cô gái đang trò chuyện vui vẻ, nói nói cười cười. Những giọt nước mắt của cô lặng lẽ rơi. Cô ta có khuôn mặt thật xinh đẹp. Cái khuôn mặt xinh xắn đáng yêu mà trước đây cô đã từng sở hữu.Cô ghét... rất ghét anh ! Anh chê cô xấu xí..... Anh chê cô có khuôn mặt dị dạng.... Anh bỏ rơi cô rồi !

Lễ cưới bị hủy. Anh không hề nhận được một lý do.Anh đến thăm nhà, nhưng bị cô cự tuyệt. Đến lời giải thích cuối cùng, cô cũng chẳng muốn nghe anh nói.


Trải qua cuộc phẫu thuật kéo dài 12 tiếng và hơn tháng điều dưỡng cũng đã đến ngày cô và bạn bè cởi bỏ lớp băng trắng trên mặt cô. Một khuôn mặt thân quen xuất hiện.Là cô.Cô lúc trước đây mà !Cô gái ngày trước đã trở về rồi !Cô ấy cười đau khổ.Khuôn mặt lúc trước đã trở về nhưng anh đã không còn nữa rồi.

Sau đó cô sống một cuộc sống hoàn toàn khác. Quan hệ được nới rộng hơn, quen biết nhiều người hơn và quen được những người có thể là chỗ dựa cho cô. Cô không cần tình yêu, chỉ cần vui vẻ và hạnh phúc.Khuôn mặt mới mang đến cho cô một cuộc sống hạnh phúc vui vẻ.

Cô nhận lời cầu hôn của một người đàn ông.Cô quay trở về Nhật Bản vì muốn bày tỏ sự cảm kích với người bác sĩ đã phẫu thuật cho cô.Nhưng đến nơi cô được bệnh viện trả lời vị bác sĩ ấy đã rời khỏi bệnh viện. Cô ngồi chờ. Thời gian rất lâu mà vị bác sĩ vẫn chưa xuất hiện. Vừa định quay bước đi bất ngờ cô trông thấy một bệnh nhân với khuôn mặt băng đầy băng trắng.

- Xin lỗi. Cô nói với vốn tiếng Nhật ít ỏi của mình.
Chỉ thấy người bệnh ấy nhìn cô kinh ngạc rồi gấp rút bỏ đi.
Cô như nghĩ ra cái gì đó, nói tiếp :

- Bác sĩ ở đây tốt lắm. Hãy để họ phẫu thuật cho anh. Khuôn mặt anh nhất định sẽ trỡ về như trước đây.Đây, xem này ! Tui cũng phẫu thuật ở đây đấy, đẹp chứ ?
- ............. người bệnh đứng yên và im lặng.

Vị hôn phu của cô đứng ngoài gọi với vào. Cô nhìn anh bệnh nhân cười nhẹ rồi quay đầu sải bước đi về phía vị hôn phu.

Nhìn cánh cổng bệnh viện, nhìn khuôn mặt cười tràn ngập hạnh phúc của cô nước mắt anh lặng lẽ rơi.

Thốt nhiên một nữ bác sĩ xuất hiện đằng sau anh nói bằng tiến bản địa :

- Anh thật sự yêu cô ấy. Vì cô ấy, dâng hiến da mặt của chính mình. Thế mà giờ đây..... cô ta lại chẳng nhận ra anh. Một năm trước đây anh đã tìm tôi với hy vọng về cuộc phẫu thuật. Kết quả này anh mãn nguyện chưa ?

Anh vẫn im lặng

- Nhưng mà tôi có thể miễn phí làm cho khuôn mặt anh trở về như xưa, nếu anh muốn...
- Không cần đâu.Cô ấy không nhận ra tôi thì thôi vậy..... Hãy để tôi đeo mặt nạ này mà sống nốt những ngày còn lại vậy.....Vừa nói anh vừa đi về phòng mình. Bước chân nặng chĩu.

Nước mắt chảy ngược vào trong.Hương thơm thoang thoảng từ mái tóc của cô cứ vương vấn bên anh. Mùi hương nhẹ nhàng quay quắt. Mùi hương đặc trưng của cô làm anh chạnh lòng , cảm giác càng cô đơn.........

Sau này cậu bé nhặt lấy mặt nạ của quỷ. Cậu muốn thử cô bé xem cô bé có nhận ra cậu ta không.Thật bất ngờ.... Cô bé không chỉ khóc thét lên khi nhìn thấy cậu, lại còn bảo cậu đừng bao giờ đến gần cô ta nữa.
Từ đó cậu bé ấy mang bên mình mặt nạ ác độc của quỷ và sống một cuộc đời cô độc đáng thương.

Câu chuyện cô kể cho anh vẫn chưa đến đoạn kết. Chiếc mặt nạ quỷ anh sẵn sàng mang

(Blog GIA DINH)

acaxomcui
14-03-2010, 17:42
Sau này cậu bé nhặt lấy mặt nạ của quỷ. Cậu muốn thử cô bé xem cô bé có nhận ra cậu ta không.Thật bất ngờ.... Cô bé không chỉ khóc thét lên khi nhìn thấy cậu, lại còn bảo cậu đừng bao giờ đến gần cô ta nữa.
Từ đó cậu bé ấy mang bên mình mặt nạ ác độc của quỷ và sống một cuộc đời cô độc đáng thương.
--------------------------------



Cái đẹp nào sẽ tồn tại?đương nhiên là cái đẹp tâm hồn,nhưng ai muốn mang mặt nạ quĩ?

lennel
30-03-2010, 15:45
http://www.baovietnam.vn/articles-images/cong-nghe/24/Nam-bat-ve-dep-cua-binh-minh-va-hoang-hon-214968-7.jpg





Thấy hay hay ..

lụm trên blog dìa post cho moị người cùng đọc ...


..........................





Có một chàng trai và một cô gái, họ yêu nhau hết sức thắm thiết. Có một ngày, cô phải chuyển nhà tới một thành phố rất xa, anh vô cùng đau lòng, nhưng không dám giữ cô lại.

Thành phố kia có cha mẹ của cô, họ có cuộc sống rất đầy đủ, còn anh thì cái gì cũng không có. Cho nên anh không dám giữ cô, vì anh sợ cô sẽ khổ.



Anh cuối cùng chỉ im lặng. Còn cô thì cứ đợi anh mở miệng giữ mình lại, cô đợi và đợi, đợi cho đến lúc lên máy bay, anh cũng không hề nói.

Trước lúc lên máy bay, cô đưa cho anh một con lợn bông nhỏ, cô nói "Nhớ em, thì hãy xoa đầu nó một lần". Sau đó cô bước lên máy bay mà không hề quay đầu lại.



Trời đang trong xanh thì đột nhiên mưa, anh vừa khóc vừa nhìn chiếc máy bay cất cánh, chính lúc ấy, anh đột ngột phát hiện mình đã phạm một sai lầm đáng sợ, anh quên không hỏi cô địa chỉ và số điện thoại của cô ở nơi ở mới.


Thế là từ đó anh bắt đầu chờ đợi, ngày ngày ôm lấy chiếc điện thoại không dời, anh nghĩ cô nhất định sẽ gọi điện về. Nhưng không có, mãi mà không có.


Lúc anh nhớ cô, anh lại mang con lợn bông ra xoa đầu, anh xoa đầu nó hết lần này đến lần khác, nhưng chỉ càng làm cho mình nhớ thêm.

Anh đợi cô tròn ba tháng, sau đó chuyển thành tuyệt vọng. Anh cảm thấy cô hình như đã quên anh mất rồi, thậm chí anh bắt đầu hận cô.



Anh bước ra khỏi phòng, từ giây phút đó anh quyết định quên đi tình yêu này. Quan trọng với anh bây giờ là bắt đầu lại. Anh ôm lấy con lợn bông, nghĩ một lúc, rồi đành ném nó ra ngoài cửa sổ. Ném đi tất cả những ký ức về cô. Anh từ đây cũng không nhìn lại qua khứ nữa.






Sáng sớm ngày thứ hai, có một người làm công đến dưới lầu dọn dẹp vệ sinh.
Bà ta nhìn thấy một con lợn bông, bà ta ôm lấy nó, vuốt ve, đột nhiên con lợn bông động đậy, miệng nó từ từ mở, rồi nhả ra một mảnh giấy.

Trên mẩu giấy là địa chỉ và số điện thoại của cô gái.




Con lợn bông ấy là người trong xưởng đồ chơi phải mất rất nhiều tâm huyết mới làm ra món quà đặc biệt này cho cô .


Nếu như xoa đầu nó một trăm lần, nó sẽ nhả ra mảnh giấy cô viết. Cô đã âm thầm quyết định, chỉ cần nhận được điện thoại của anh là sẽ từ bỏ tất cả để trở về, không chia tay anh nữa.

Nhưng anh cuối cùng chỉ vuốt ve nó 98 lần.




Người làm công nghĩ : Con lợn bông này thích như vậy, nên đem nó về cho con mình chơi. Bà ta ôm con lợn bông, quẳng đi mảnh giấy.









Anh và cô từ đây đã để tuột mất một nửa cuộc đời.

acaxomcui
30-03-2010, 15:58
http://www.baovietnam.vn/articles-images/cong-nghe/24/Nam-bat-ve-dep-cua-binh-minh-va-hoang-hon-214968-7.jpg












Anh và cô từ đây đã để tuột mất một nửa cuộc đời.













Một thử thách cuối cùng ..nhưng không vượt qua!

Tiếc cho chàng trai..

hana_vip
31-03-2010, 11:02
Tình yêu của một con ...

Mỗi con đĩ đều có một lý do vào nghề của riêng mình.... Một lý do để khóc lóc van xin và nài nỉ mỗi khi sa cơ lỡ bước.... Một lý do có thật hoặc một lý do ảo nào đó....
Đối với nó, làm đĩ, đơn giản chỉ vì tiền. Nó cần tiền và nó biết, khó có cái nghề nào cho nó đủ số tiền nó cần như nghề này.

Nó coi đó là 1 nghề, và nó ko hề xấu hổ về cái nghề mình đang làm.

Nhưng...

Lý do...của nó lại là...

Gia đình nó có "truyền thống" như vậy!
Mẹ nó sinh nó ra mà thậm chí bà còn ko biết nó là sản phẩm của lần quan hệ với người đàn ông nào. Sinh ra như một sai lầm nghề nghiệp, sau khi sinh nó ra, mẹ nó ko còn sinh nở được nữa.... nếu đối với những người phụ nữ khác thì đó là một sự đau xót, nhưng với mẹ nó thì là một niềm vui.... Một mình nó bà ta đã quá đủ ngán ngẩm rồi.... Nó lớn lên trong sự thiếu thốn... thiếu cả tình cảm của mẹ, và cả vật chất..... Nhưng xui xẻo thay.... nó vẫn xinh đẹp.... Nó ko xấu xí.... Đàn bà có vốn tự có... để bán trinh tiết, thể xác, đàn bà đẹp lại có càng nhiều thứ để mài mòn.... Nó chưa từng yêu, 20 tuổi chưa từng hiểu yêu một thằng đàn ông sẽ có mùi vị gì? Hay tất cả chỉ là mùi thể xác hoà lẫn trong cái vị mặn mồ hôi nơi đầu lưỡi mỗi khi quan hệ để được trả tiền. Học hành ko đến nơi đến chốn, 15 tuổi đã bỏ học và làm nghề cùng với mẹ... Nó chẳng thể cho mình một cái nghiệp để kiếm tiền dễ hơn!

Vậy là nó chấp nhận cuộc sống như một dòng sông phẳng lặng chảy xuôi chiều...

5 năm trôi qua, có đủ để một con đĩ an phận phải chấp nhận số phận hay bắt đầu suy nghĩ về cuộc đời mình.... Người ta tự hào khi kế thừa một truyền thống còn nó ... có nên đau xót khi phải đi theo một lối mòn....

Con người có những lựa chọn và nó biết cái nghề nó đang làm ko phải là một sự lựa chọn tốt nhất cho 1 thứ việc làm.... Nó chui vào một góc và bắt đầu khóc! Lần đầu tiên nó nức nở về số phận của mình, đã ko chèo lái được cuộc đời, mặc nước xuôi chiều cuốn trôi.... Phải chăng nó đã sai rồi sao???? Những lần đi khách ko phải lần nào cũng dễ dàng, chưa kể công an, bảo kê và bọn dắt mối.... hành hạ... còn là những khách hang` khiếm nhã.... Như người ta vẫn nói, có thằng nào đi "đá phò" là thằng đàn ông tử tế đâu? Nó đôi khi bị khách đánh đập, những thằng đàn ông vẫn bạo lực như vậy khi làm tình....

Có hôm, nó lết dậy trên giường mà ko sao bước đi được, cảm giác thân thể rã rời, phần dưới đau nhức ko thể tả...

Lại một ngày trôi qua của một con phò với tai nạn nghề nghiệp đây mà! Nó cười! Cười lớn dần! Rồi trong tiếng cười vỡ vụn ấy, giọt nước nào đó lăn ra từ hai khoé mi... Lần đầu tiên trong đời, nó cười mỉa mai cái nghè và cái thòi đời này....

Nó sẽ.... từ bỏ!

Nó ko muốn chịu cái sự đau đớn trên thân thể thiếu nữ.... ko muốn chịu cái sự nhục nhã ngày nối ngày thế này nữa....

Nhưng...
Ai cho nó sự can đảm để bỏ nghề???????
Ai????
Xã hội này là nơi rất dễ dàng cho sự bắt đầu.... nhưng lại quá khó khăn để kết thúc....
Nó quyết định đi tìm người đàn ông của mình, một người đàn ông mà như bao phụ nữ trên đời này vẫn có ít nhất một người.... Người đàn ông yêu nó.... Yêu nó để nó yêu chứ ko phải yêu nó như yêu một con phò....

Nó bắt đầu vẽ ra cái ảo tưởng cho đời mình.... Một điểm sáng le lói có thể bước tới từ đâu đó ở phía những người đàn ông tử tế kia, ko phải những khách hàng của nó....

Nó thay đổi nhiều, đi khách ít hơn, mặc cho bọn dắt mối cằn nhằn.... cay nghiệt chửi bới, cùng với bảo kê liên tục đe doạ.... Người ta phải liều lĩnh! Ai đó, đâu đó hay trong một bộ phim nào đó đã nói vây!

Cho đến nó khi nó quyết định bỏ nghề....Dù sao nó cũng chẳng có ràng buộc gì với cái nghề này, ngoài 1 từ "truyền thống" xót xa....

Như tất cả những con cave bỏ nghề nào khác, đều chịu đựng những cái nhìn mỉa mai của "đồng nghiệp" và sự quấy rầy của quá khứ.... Nhưng thời gian sẽ làm mọi chuyện trôi qua... Nó cắn răng chịu đựng với ý nghĩ đó và cố an ủi mình với mơ ước về một người đàn ông sẽ đến....

Phải là một đứa con gái trong sạch mới xứng đáng với một người đàn ông như thế....

Khi con người ta đã thay đổi những ước mơ về hạnh phúc xa vời... thì nó thật buồn cười chỉ có một mong ước bình thường ko xa xôi là được yêu dù chỉ một lần thôi...

Nó bắt đầu thói quen đi xem film một mình,đọc sách thường xuyên và tìm hiểu những công việc khác, trên báo.... Rồi nó tìm được một công việc ở một quán cafe, bồi bàn... Nó hài lòng với công việc đó.... Cố gắng tẩy rửa và lau chùi quá khứ của mình... thay đổi tất cả, thuê một căn phòng trọ nhỏ ở nơi mới, dùng một số điện thoại mới..... Thường xuyên ra đường ko trang điểm chứ ko loè loẹt như xưa....

Mọi thứ thay đổi đến chóng mặt và khó khăn cũng nhiều đến chóng mặt....

Một năm trôi qua...

Người đàn ông ấy vẫn chưa đến....

Cho đến một ngày, trước sinh nhât nó 1 tháng, nó nhận được một bó hoa.... người ta nói là có người tặng nó. Bó hoa hồng đẹp hơn cả trong giấc mơ của nó....Ko rõ người gửi.... Và cứ thế trong một thàng liền, những bó hoa được gửi tới nơi nó làm một cách đều đặt....

Vào ngày sinh nhật nó.... Ko còn thấy bó hoa đó xuất hiện vào buổi sáng như thường lệ, nó có chút buồn thoáng qua... Một tháng nay.... nó đã mong chờ bó hoa ấy.... và chủ nhân của những bó hoa này làm nó tò mò.... đôi khi là mong nhớ.... mong nhớ một người xa lạ....

Nó như một đứa trẻ lần đầu tiên trong đời được tặng một con búp bê đẹp....

Tối hôm đó, khi nó đóng cửa quá, vì ca trực của nó là ca trực quán cuối cùng.... Một anh chàng xuất hiện, với một bó hoa như mọi ngày trên tay.....

- Chúc em sinh nhật vui vẻ...

Nụ cười tan mây, nụ cười ngọt ngào trên đôi môi ấy làm trái tim nó tan chảy, một đứa con gái khát khao hạnh phúc bao lâu nay, giờ đây được đón nhận niềm vui thì sẵn sàng nhận lấy mà ko mảy may đề phòng....Nó im lặng, sững sờ, luống cuống ko biết phản ứng thế nào...

Vậy là.... tình yêu của nó bắt đầu như vậy đấy....

Nó chưa bao gìơ yêu và cũng ko biết yêu nhau người ta sẽ làm như thế nào và... làm gì với nhau....

Hẹn hò này, đi chơi này... nhắn tin, gọi điện thoại và còn gì nữa.... Nhiều hơn cho một sự bắt đầu...

- Sao anh lại thích em?

Anh nhìn thấy em vào ngày đầu tiên em làm ở đây! Anh là khách quen của quán.... hehe... nhưng từ khi nhìn thấy em, anh ko vào đây nữa....

- Tại sao vậy?

- Oh, anh phải nghỉ ngơi và dành thời gian để nghĩ chiến dịch cưa cẩm chứ....

Nó cười.... hạnh phúc!

Cuộc sống đơn giản vậy, hạnh phúc đến đơn giản vậy...

Một vài tháng sau.... nó chuyển về sống chung với anh.... Đối với nó, đây hẳn là 1 sự phân vân, anh ko biết quá khứ của nó.... và nó cũng ko biết sống chung với người đàn ông mình yêu chứ chưa phải là chồng thì có là đúng đắn và... giống con gái bình thường ko?

Nhưng mặc kệ!

Anh muốn thế... Và như thế thì 2 người mới có nhiều thời gian bên nhau, nhất là khi bố mẹ anh ở xa và anh lại đang sống một mình, cần 1 người phụ nữ để chăm sóc.... cần một bàn tay phủ ấm căn nhà hoang lạnh....

Lại nói về bố mẹ anh, nó nhớ chưa một lần anh nhắc đến họ.... Có vài lần nó cũng định hỏi.... nhưng nghĩ lại thì thôi... bởi nếu anh có trả lời, rồi anh hỏi về bố mẹ nó... nó sẽ trả lời thế nào?

Một đứa trẻ ko biết bố là ai? Và một bà mẹ là điếm hết thời đang sống cuộc đời nghiện ngập, rượu chè, ko hiểu đang ở nơi nào.... Trả lời như thế sao????

Dù vẫn biết là anh sẽ biết hết dù sớm hay muộn.... nhưng nó vẫn ko thể mở lời nói về cái cuộc đời xưa cũ mà nó đang cố gắng rũ bỏ.....

Trước khi chuyển về sống chung, 2 đứa đi mua sắm rất nhiều vật dụng... vẽ ra một viễn cảnh của tình yêu hoàn hảo....

Nó nhoè mắt, cay lòng:

- Anh tốt với em quá!

Anh cười:

- Anh ko tốt đâu...

- ko sao, em sẽ yêu anh, cho dù anh là người xấu đi chăng nữa...

...................

Ngày nó chuyển đến sống chung với anh, đồ đạc ko có gì nhiều ngoài vali quần áo, những thứ khác nó đã để lại căn nhà trọ vì anh nói, ở nhà anh cái gì cũng có, ko nên đem đi cho lủng củng và mệt mỏi....

Buổi sáng hôm ấy, trời mưa... mây xám xít và ko khí u ám nặng nề.... chỉ có nó là điểm sáng duy nhất của thời tiết ảm đạm ko có mặt trời ấy.... Nó vui vì được bắt đầu một cuộc đời làm người thực sự....

Đêm đó, là đêm đầu tiên của nó và anh.... Rất lâu.... rất lâu từ khi 2 người yêu nhau....

Tấm ga giường....

Một người đàn ông...

Chiếc chăn mong manh....
Ánh đèn đỏ..
Mùi mồ hôi nồng nàn...
Bàn tay to lớn lướt trên cơ thể co quoắp....
Đã từ bao giờ xa vời với nó...
Nay lại trở về....
Và lại là.... với người đàn ông mà nó yêu.....
Miên man với suy nghĩ hạnh phúc và cảm giác tuyệt vời đang trải qua....

Sau khi làm chuyện đó.... nó thấy anh quay lưng đứng dậy.... mặc quần áo...

Nó cười:

- Anh ngốc thế... sao phải mặc đồ nhanh vậy!

Anh lạnh lùng ko nói gì....

Mặc đồ tử tế, quay lưng lại đến tận khi đó vẫn chẳng nói gì thêm với nó.... Sau khi xong xuôi, anh rút trong ví ra 1 tập tiền...

Rồi ném vào mặt nó... khi nó còn đang trần truồng ở trên giường, phủ lên thân thể con gái là một tấm chăn nhỏ, đủ để tiền lướt qua da làm nó lạnh.... Nó hoàn toàn ko hiểu điều gì đang xảy ra, thế giới như sụp đổ, cánh cửa một cuộc đời đóng khép.... Nó shock đến mức ko nói được câu nào, chỉ biết im lặng.... đờ đẫn như vậy nhìn anh.

- Nhiều hơn một đêm của cô ngủ với bố tôi chứ?

- Anh... anh...

- Tôi chỉ muốn xem cô ngủ với bố tôi như thế nào .... Người cha đáng thương của tôi đã bị cô làm mù mắt..... Tôi chỉ muốn xem.... khả năng làm điếm của cô thế nào thôi....

- Anh.... anh...

- Một con điếm suốt đời chỉ là 1 con đĩ ko hơn. Cầm tiền và cút khỏi đây....

- Anh...

- Tôi muốn tất cả cái lũ điếm như cô, và nhất là cô, phải chịu cái cảnh mà mẹ tôi phải chịu.... Nhục nhã vì bị ruồng bỏ.... Nhục nhã rõ chưa? Cầm tiền và xéo đi.... Con điếm!

Nó cười lớn....

Nó cười sằng sặc....

Nước mắt nó ào át tuôn trào...

Đôi môi ướt đẫm...

Nó cắn môi....

giữ nguyên cái bộ dạng trần truồng đó...

Nhặt...

Nhặt...

Nhặt những đồng tiền bán thân xác mà anh vừa trả nó....

Anh ta quay đi... ko nhìn...

- Bố anh là ai?

- Là người bằng tuổi bố cô, là cái lão già mà cô đã cặp kè và làm si mê suốt 4 tháng trời, để ông ta đòi bỏ vợ. Đuổi vợ ra khỏi nhà, và bà ấy là mẹ tôi, gần 50 tuổi mà phải xách vali ra khỏi nhà và đi tự tử vì nhục! Là mẹ tôi! Là mẹ tôi! Cô hiểu chưa? COn đĩ! - Anh gào lên, nước mắt anh trào ra... nỗi tức giận và niềm căn phẫn ứa lên mạnh mẽ - Tôi thậm chí đã ko về kịp để nhìn mẹ lần cuối, chỉ vì cô đấy, con đĩ!

- Em ko biết bố em bao nhiêu tuổi - Nó cười.... môi cắn môi.... máu chảy ra hoà cùng dòng nước mắt tan - Em chưa từng phá hoại hạnh phúc của ai.... chưa từng!

- Một con đĩ như cô, thì làm sao biết mình đã ngủ với bao nhiêu người? LÀm sao biết mình đã phá nát bao nhiêu cuộc đời chứ? Khốn nạn! Đồ điếm! Đồ chó cái!

Nước mắt ... dù đã kìm nén.... vẫn tuôn ra ko ngừng... lông mi đẫm nước..... má đỏ.... môi ướt máu.... nó cười....

- Tất cả chỉ là giả dối hả anh?

- Tôi chắc sẽ yêu cô! Tôi tưởng tôi đã yêu cô! Đã quên đi mục đích tiếp cận cô của tôi, những gì cô thể hiện quá tuyệt vời, sự che dấu hoàn hảo! Nhưng .... rồi... trên giường cô cũng chỉ là con đĩ thôi....Tôi ko thể quên! Một con đĩ giết mẹ tôi, nó ám ảnh tôi!

- Vậy là.... anh sẽ yêu em.... như anh đã trót yêu em.... nếu như....em .... ko phải là một con đĩ.... phải ko?

Anh quay đi......

Không khí căn phòng đêm đầu tiên này.... đầy máu và nước mắt.... tràn ngập nỗi đau....

Nó đứng dậy .... cầm số tiền của anh trên tay... giơ lên... ngang mặt.... cười và nói với anh: "Nhiều hơn em được trả cho một đêm!"

... Mặc quần áo.... kéo nốt đống quần áo mới xếp vào tủ trong sung sướng và hạnh phúc sáng nay.... Nó nhét vào vali và kéo lết đi....

- Cám ơn anh!

Người đàn ông gục xuống! Anh ta khóc....

Cánh cửa kéo ra rồi đóng sầm.... Trời lại đổ mưa....

Nó lết vali bước đi trên đường ước, nước mưa tát vào mặt nó rát và nước mắt làm nó buốt giá, môi cắn bật máu giờ đây xót.... chảy tan trong nước mưa những giọt máu đỏ.... Nó cầm nắm tiền trên tay.......

Kiệt sức và đau đớn!
.................
Sáng hôm sau, người ta tìm thấy xác một người con gái, với giọt máu ở khoé môi.... nước mắt 2 dòng khô trên đôi mắt nhắm u sầu.... Cô ấy đã chết.... Cổ tay hằn vết và máu chảy đẫm áo....

Một cái chết đau đớn và oan uổng!

.............
Nó lết trong cái đêm mưa bão đau xót ấy.... Nỗi đau đã làm tiếng cười của nó bật nước....Nó quỳ xuống một góc khuất ... bên mái hiên của căn nhà bên ngõ vắng.... Lục lọi đống đồ đạc mà nó đem theo.... Hôp dao cạo mua cho anh.... để anh cạo râu.... Nó nghĩ vậy khi mua... và vui lắm, cái cảm giác được chăm sóc cho anh như cho chồng mình.....Mở quyển sổ nhật ký nó mua ... với ước mơ hồn nhiên ghi chép lại những ngày sống chung của cả hai mà nó vốn nghĩ sẽ rất hạnh phúc..... Nó rạch 1 vế nhỏ trên ngón trỏ của tay phải và bắt đầu viết.... trong nước mắt... trong nước mưa... trong máu.... trái tim nó... vỡ nát theo từng dòng chữ đớn đau....

.............

Người ta nhìn anh, khi anh đến đồn công an để nhận xác và khai báo.... Nhìn anh như nhìn một con ác thú giết người....

Anh lặng lẽ khai những gì mà người ta hỏi....

..............

Đám tang của nó chỉ có một mình anh!

Ko phải là đám tang mà chỉ là một nắm đất chôn người chết, được đào xới lên và thả cái xác xuống... cắm một vài nén hương... bia mộ là những dòng chữ trống rỗng...

Một cái tên như bao cái tên...

............

Bức thư tuyệt mệnh vàvà chiếc vali của nó... nằm im lìm ở góc nhà... Anh ko hề đụng đến....

...........

Một buổi sáng, anh giật mình bởi tin nhắn: " Tao lại thấy bố mày cặp kè với con kia rồi đấy!"

Anh bàng hoàng....

Gọi điện thoại lại cho bạn!

- Uh, đúng rồi, tên thế mà... nhưng nó bỏ làm ở đó lâu rồi, bỏ từ trước khi mày về nước cơ!

Thế còn những tấm ảnh thì sao? Anh cảm giác như mình sắp nổ tung. Mở những cái ảnh chụp cha mình và cô gái đó.... Anh chợt rùng mình.... Vì những bức ảnh đó.... ko có rõ mặt.....người con gái kia... chỉ 1 mái tóc giống nhau.... 1 cái tên giống nhau.... 1 chỗ làm mới.... giống nhau!

Anh chạy đến góc phòng, đôi bàn tay run rẩy.... cầm bức thư...

Nước mắt trào ra... lăn lóc trong trái tim anh hoảng loạn, đôi môi run... hàm răng va đập.... những tiếng nấc ko thành lời....Một bức thư đẫm máu... viết băằn máu và viết bằng một trái tim đau...

" Anh à, em nói thật mà! Em chưa từng phá hoại hạnh phúc của ai! Em biết anh nhầm lẫn.... Nhưng em ko thể giải thích... vì anh nói đúng....em chỉ là một con đĩ! Em ước gì, em được sinh ra 1 lần nữa! Một lần trong sạch chưa bao giờ trải thân đĩ điếm....

Anh à, anh đúng.... anh ko sai.....

Nhưng có một điều anh sai....

Số tiền anh trả cho em.... ko đủ..... ko đủ.... cho một tình yêu.....

Lẽ ra... anh nên trả em nhiều hơn.... "

.......

Những nỗi đau dồn dập lên một cuộc đời và nhiều con người.... vì một người đàn ông mà 2 người đàn bà phải chết.... Người đàn ông kia đã mất vợ.... Và con của ông ta.... đã vô tình giết chết một người con gái yêu mình.....

Nó đã cố gắng quên quá khứ, để học cách yêu một người nhưng nó vẫn được trả tiền vì yêu người đó! Vì đơn giản... nó chỉ là một con đĩ!

Một con đĩ!

Quá khứ quay lại... giơ bàn tay tử thần bóp nghẹt con tim yếu đuối!

" Anh đã ko cho phép mình yêu em! Anh đã để em ra đi.... vì anh có một trái tim... quá .... hẹp hòi..."
(Sưu tầm)

acaxomcui
31-03-2010, 11:17
Tình yêu của một con ...


" Anh đã ko cho phép mình yêu em! Anh đã để em ra đi.... vì anh có một trái tim... quá .... hẹp hòi..."
(Sưu tầm)

Là con người ..ai cũng được quyền yêu thương.Nhưng mọi người ..không xem em là con người!!!

TongNghien
31-03-2010, 11:31
Nhà Bác Học.

Ông là một nhà bác học trẻ tuồi tài cao nồi tiếng trong nước.
Cả nước ca ngợi và coi ông là một nhân tài vì ông rất tài giỏi, ông đả sáng chế biết bao nhiêu vủ khí tân kỳ, mạnh bạo đã đưa đất nước ông lên hàng cường quốc thế giới. Ông củng rất hảnh diện vì đã góp phần xây dưng đất nước hùng mạnh.
Càng ngày ông càng say mê nghiên cứu và sáng chế. Ông rất tự hào cho mình là một người hửu ích cho đất nước. Với nhửng phát minh của ông nước ông quá hùng mạnh và bắt đầu có tham vọng thôn tính thế giới, Và cuốc chiến thế giới từ đó mà bùng nổ.
Mặc dù nước ông gần như thống trị cả thề giới nhưng cái kết quả đáng thương là toàn thể gia đình vợ con cha mẹ ông chết trong cuộc chiến đó.
Nhìn lại những điêu tàn đổ nát mất mát đó ông ta hận mình và hận cả nhân loại. Ông nghỉ rằng cá nhân ông, đất nước và cả thế giới đều tàn ác độc hại cần phải huỷ diệt.
Nuôi cái ý định đó ông gom góp tất cả những tải liệu, kiến thức, dụng cụ đem vào một khu rừng núi xa xôi không một bóng người.
Từ nơi đó với lòng căm thù loài người ông miệt mài nghiên cứu chế tạo ra một quả bom thật mạnh, mạnh gắp trăm ngàn lần các trái bom nguyên tữ đả có mà độ nhỏ của nó có thề mang theo bên mình .
Sau hơn 30 mươi năm cố gắng ông đã thành công, với trái bom này có thể huỷ diệt toàn thề sự sống trên trái đất và ông gọi nó là "Quả Bom Công Lý". Bây giờ ông đã trở thành một cụ già và lòng hận thù càng ngày càng chồng chất, ông quyết tâm thực thi ý định cuối cùng.

Ông khăn gói xuống núi, gói theo quả bom nhỏ bên người, Ông muốn tận mắt nhìn loài người bị huỷ diệt.
Ông đi về phía thành phố sau hơn 30 năm sống trong rừng núi không tiếp xúc với loài người hung ác bên ngoài.

Ông chợt bàng hoàng và bối rối khi thấy nhà của san sát, cao ráo sạch sẽ, nhà cao cửa rộng, đèn đuốc xe cộ sáng toang, không còn lại một dấu vết nào của chiến tranh và nhất là mọi người già cả, lớn bé, trai gái đều vui vẻ hanh phúc với nụ cười luôn luôn trên môi.
Ông ngẩn ngơ, không biết phải làm gì. Ông đi vòng quanh đường phố, hình như hôm nay có hội, mọi người trai thanh gái lịch cặp tay đi bên nhau hạnh phúc vô biên.

Ông dừng một cặp trai gái lại và hỏi "Hôm nay là lể hội gì thế"
Cô gái nhí nhảnh "Dạ thưa cụ hôm nay là ngày thứ bảy cuối tuần chớ đâu phải là ngày lể"
Ông sững sờ hỏi thêm "Thế không có chiến tranh sao?"
Anh trai trẻ trố mắt "Chiến tranh gì thế thưa cụ"
Cặp trai gái vui vẻ tung tăng nhảy múa bỏ lại sau lưng nhà bác học đang ngẩng ngơ.

Ông tìm đến một cụ già cở tuổi của ông, ông hỏi nhanh "Anh bạn già ơi cho tôi hỏi cuộc chiến tranh thế giới thứ ba không còn nửa phải không anh?"
Ông già cười vui "Anh bạn ở đâu mới đến mà lại hỏi câu chuyện xa xưa vậy. Bây giờ đâu còn chiến tranh nửa, hoà bình thế giới mấy chục năm nay rồi"
Và ông già kể lại chuyện thế giới đại chiến và sự mất mát của nhân loại và nhân loại đã học được bài học với giá quá đắt, loại người hiểu rỏ và ý thức được cuộc sống nên đồng bắt tay sống hoà bình với nhau.
Để kết luận ông già vổ vai nhà bác học "Tôi biết anh ở nơi xa đến. Anh cứ việc ở lại đây chơi, nếu thích thì ở lại nhà của tôi hay của ai củng được, mọi người đều dư dả không ai ngại ngùng gì trong việc chia sẻ và giúp đở anh đâu.

Nhà bác học ngơ ngác đi quanh quẩn trong thành phố. Quả thật như cụ già kia nói, mọi người hiền lành tử tế và sung túc đến độ sẳn sàng chia sẻ không riêng ông mà cho mọi người.

Ông tham gia vào các cuộc vui bày trên được phố. Ông được những cô cậu cho các quả bong bóng, bó hoa ngay các em bé nhỏ củng chia cho ông những chiếc kẹo, chiếc bánh ngon ngọt mà hình như trong cuộc đời ông chưa bao giờ có.
Tự nhiên ông cảm thấy cuộc sống thật có ý nghỉa, thật hạnh phúc, thật hoà bình. Ông vui vẻ tham gia vào các cuộc nhảy múa vui chơi mà trong cuộc đời ông chưa từng có. Ông đả quên hẳng đi quả bom ông còn đeo sát trong người.
Tối hôm đó ông lén đi ra bờ sông, Ông ném quả bom xuống dòng sông sâu và vui vẻ quay lại vui chơi với mọi người.

Sáng hôm sau người dân trong phố thấy có một cụ già nằm chết nơi công viên, miệng vẩn mỉnh cười hạnh phúc và chung quanh ông ta đầy kẹo bánh và bông hoa.

Mọi người đứng vây thành hàng bên thi hài của ông và kính cẩn nghiêng mình đưa tiễn.
Không khí rộn ràng của ngày mới vẫn lan đầy trên các con phố. Ai cũng tham gia vào lao động, học tập, vui chơi...
Một tuần sau, mọi người quay lại để mời ông chia vui cùng cuộc sống, giòi bọ đã bò khắp người ông, chúng cũng đang sống trong không khí hòa bình vào no ấm.

acaxomcui
01-04-2010, 15:22
Cải ơi về đâu?

Đoàn ca múa nhạc giải tán, thằng Quách Phú Thàn dẫn ông già Năm Nhỏ về ngã ba Sương, Thàn có nhỏ bồ mới quen bán quán ở đó. Con nhỏ tên Diễm Thương, nghe hay, mà khuôn mặt cũng ngộ, không đẹp nhưng bình thản, lạnh trơ, không ra vui, buồn, đố ai biết nó nghĩ gì.
Nó hất mái tóc nhuộm vàng hoe chơm chởm như rễ tre, nhìn hai người, cười héo hắt "ăn bám mà kéo theo cả bầy”. Thàn cười hề hề, bảo "Ông Năm, bạn anh. Dễ thương lắm”

Đêm đó ông già không ngủ được, thằng Thàn đi chơi nửa đêm mới mò về, thấy ông ngồi khọm rọm ngồi ngoài vách mùng, điếu thuốc cháy lập lòe soi bộ râu xơ xác. Thàn mở dây giày, hỏi ”Nhớ đoàn quá, ngủ không được hả tía?” Ông già lắc đầu, thở dài, nghe buồn xa xắc như lá rụng hoa rơi, bần thần, điệu này hỏng biết cách nào tìm cho ra con Cải.

Ông đã đi tìm con nhỏ gần mười hai năm. Lúc Cải mười ba tuổi, một bữa mê chơi làm mất đôi trâu, sợ đòn, nó trốn nhà. Cà nhà tong tả đi tìm nhưng mãi con nhỏ không quay lại. Vợ ông ôm cái áo con Cải khóc, bảo chắc là ông để bụng chuyện nó là con của chồng trước nên ngược đãi, hà khắc, đuổi xua. Ông đau mà không nói được một lời, ông đã nâng niu nó khi mới thôi nôi,đã vui khi có người bảo con nhỏ giống ông in hệt (dù biết họ khen khơi khơi, khen bổng trên trời)đã sướng rơn khi nó gọi tiếng ba ơi, con Cải đi rồi, ông đã xuống nuớc mắt khi đi qua chiếc giường trước kia nó ngủ. Có bữa, ông hì hụi ém mùng, rồi ngồi một góc, nhìn chiếu gối thênh thang, lòng chết điếng vì nỗi nhớ con, vì lo nó lưu lạc giữa đời. Như thế mà ông không thương nó sao? Như thế mà là không thương à??? Nhà buồn u buồn ám, vì đã ít người rồi bây giờ lại chẳng nhìn, chẳng cười nói với nhau. Sau, người ta còn đồn đãi ông giết con nhỏ rồi lấp ở một chỗ đất nào, họ kìn kìn lại coi (ai mà giàu tưởng tượng vậy không biết?). Ông khăn gói bỏ xứ ra đi, bụng dạ đinh ninh dứt khoát tìm được con Cải về.

Ai dè, biển người mênh mông. Mỏi chân, ông xin làm sai vặt trong đoàn ca múa nhạc, để trước giờ diễn, ông muợn cái micro nói vài câu ”Cải ơi, ba là Năm nhỏ nè con…” Bữa nào thằng Thàn nhớ nhà, nghe câu ấy nó cũng rơm rớm nuớc mắt, bảo ”con thương ông già con quá, tía ơi!!!” Hôm đi ba thằng Thàn còn cầm khúc bình bát bằng cổ tay rượt nó chạy ngời ngời, nhảy xuống đò, nó ngoái lại nói để con làm ca sĩ nổi tiếng cho ba coi, thấy ông dứ cây lên trời. Hai năm, ông già đã chỏng đầu cây xuống đất, tựa vào nó để buớc đi, tên tuổi Thàn mờ mịt.

Thàn bùi ngùi, người ta Quách Phú Thành nổi tiếng Hồng Kông, tôi thiếu có chữ h, lẹt đẹt bên hông Chợ Lớn. Nhiều bữa hát ế ngoi ngóp nằm nghe mưa dầm, nhiều bữa đứng soát vé bị bọn du đãng địa phương ruợt chạy xịt khói. Thàn muốn về nhà nhưng xấu hổ, sợ ông già cuời khơ khơ khơ, hỏi ”Con ơi, mày nổi tiếng chưa mà trồi đầu về đây rồi?”

Y hệt ông già Năm Nhỏ cũng có nhà mà không về được. Đã đau quá trời đất rồi, cái cảnh bà con hàng xóm xầm xì, chỉ trỏ, người ở xa dập dìu thuê đò dọc lại nhà ngó ngiêng. Đâu, thằng cha giết con đâu? Đâu,con nhỏ bị chôn chỗ nào? Ở gần thấy đông đúc nên bưng bánh bưng dừa, trà đá đến bán. Đã quá chừng đau, khi ông nhìn sâu trong ánh mắt của vợ mình thấy không còn lấp lánh thương yêu, chỉ tối tăm những ngờ vực, hoài nghi, và bữa ông đi, bà đứng giữa nắng trưa, cuốc đất. Chỗ đất còn mới tinh ông vừa lên liếp, chổ người thiên hạ ngó nhau, con Cải bị vùi dưới đó, biết đâu.

Nên ông Năm Nhỏ trụ lại ngã ba Sương, tiếp tục cuộc kiếm tìm. Ông mướn một cái nhà thấp, nhỏ như ổ mối, vừa đủ hai người còm nhom chui ra chui vào.Ông vét túi trên túi dưới sắm một chiếc xe kẹo kéo có dàn nhạc xập xình, kéo thằng Thàn theo. Ngày chạy ra bán ở chợ rau chợ cá, tối ghé vài quán nhậu, khuya về đậu ở ngã ba, xe kẹo kéo của ông nổi tiếng nhờ giọng ca nhừa nhựa của thằng Thàn, nhờ giữa hai bài hát có mục ”nhắn tìm con” buồn ác chiến.

Ngã ba Sương nhiều đêm thổn thức trong tiếng “Cải ơi!!!”, nghe ngắc ngoải như tiếng chim kêu giữa lưng trời. Con Diễm Thương cằn nhằn, quán ế, buồn thấy mẹ rồi mà còn kêu Cải vơi vơi. Một bữa Diễm Thương bước ra, thảng thốt gọi”B..A..A..A.A!!!”. Ông già đứng im sững, ngơ ngác giây lát, môi rung lập bập hỏi, Cải phải không con? Diễm Thương gật đầu. Thiệt con là Cải hả? Diễm Thương níu tay ông rưng rưng gọi thêm một tiếng B…a..a…a..a. tha thiết.

Ông già nắn đầu, nắn vai nó với một nỗi vui chảy tràn, trời đất, ba nhìn không ra, bây lớn dữ dằn vầy. Ông đi vài buớc, ông day lại nhìn Diễm Thương (cho chắc là nó đang đứng đây và có thiệt trên đời) ngước về phía trời sao, rồi ngó thằng Thàn, ông cười, để miệng muốn méo sao thì méo, ”Tía kiếm có con Cải rồi, dễ ợt hà mày ơi”. Nghe giọng là cuộc hành trình ròng rãi muời hai năm của ông (và những oan khuất, buồn đau) khép lại ở đây rồi. Ngày mai ông dẫn Diễm Thương về Cỏ Cháy, ngay trên chuyến tàu đầu. Chắc vợ ông ra cửa che tay khum khum trên trán, hỏi ai vậy cà? Ông sẽ nói con Cải chớ ai, bà sẽ mừng hết lớn, phải còn trẻ thể nào bà cũng nhảy cà tưng. Ông sẽ đưa nó đi dài xóm, khoe "Con Cải tui về đây nè, bà con ơi, nó lớn quá chừng hen”, vẻ mặt không giấu được hả hê (vậy mà mấy người nói tui giết nó).

Nghĩ đến đó,nuớc mắt ông tuôn dài. Diễm Thương cười, đứng dậy khoan khoái phủi tay, nói ”Không ngờ mình diễn quá hay”, rồi nó khom người, nhìn sâu vô đôi mắt ràn rụa của ông già, mặt tỉnh bơ ba khía, mỉa mai, ”tui giỡn đó,ông làm ba kiểu gì mà không nhớ mặt con gái mình?”

Và cơn mơ hết, Diễm Thương đi gom tiền thắng độ, đám tiếp viên léo nhéo nhằn ông già sao mà dễ tin làm họ mất mấy chục ngàn. Diễm Thương lạnh lẽo cười, cái mặt nó tỉnh hết biết, kiếm tiền dễ ợt mà chẳng gợn lên chút đắc ý nào.Ông Năm bẽ bàng ngồi đó, bẽ bàng lau nuớc mắt, cuời héo queo héo quắt, ”con nhỏ giỡn có duyên hết hồn” mà trên khuôn mặt vẫn còn đầy ứ những thương yêu. Thằng Thàn ứa lòng nhìn ông Năm già đi khủng khiếp, nó giận muốn bóp cổ nhận nước Diễm Thương cho rồi, khi con nhỏ nhơn nhơn trở qua, giơ nắm tiền, rủ đi ăn hủ tiếu.

Trò diễn kết thúc, ông già nằm rũ, đúng hai ngày lời nhắn tìm con Cải lại thắc thỏm ở ngã ba Sương. Con Diễm Thương bực lắm, nó gặp Thàn là đá ghế quăng ly, nó nói ”ổng đừng mắc công tìm, con Cải chắc chết ngắc rồi. Sao tui thù con nhỏ đó quá trời, có nhà mà bỏ, có cha có mẹ mà không thèm... Cái thứ nguời đó, cho nó chết bờ chết bụi cũng đáng”. Rồi nó nghẹn ngào, ”Còn tui, người ta đã quăng ở đây muời tám năm, tui chờ hoài mà có ai tìm đâu…” Thàn mới hay đời con nhỏ cũng buồn, hai đứa ngồi sát lại gần nhau, thở dài nghe cả vành tai tê tái.

Tối đó,Thàn nằm gác tay lên trán, nói ”Mai mốt con dẫn nhỏ Diễm Thương về lạy ông già con à, tía Năm, tính thương chơi thôi nhưng bây giờ thành thiệt rồi. Ông Năm phấn khởi, vậy hả, vậy à, phải làm đám cưới tử tế cho con nhỏ đỡ tủi, để tao làm ba nó, đại diện cho đàng gái làm sui chơi.

Lựng khựng rồi mùa nắng quay trở lại, người ta dọn sạch cả một bờ sậy, bông đang vào mùa bạc ở ngã ba Sương, cất thêm chừng chục quán nhậu ôm nữa. Cánh phòng chống tệ nạn xã hội bắt đầu để ý cái chòm lu bu này. Phía báo đài cũng dòm ngó. Một bữa, họ ập vào quay phim, chụp hình búa la xua. Đám tiếp viên che mặt, ôm đầu, chỉ có Diễm Thương là điềm nhiên trơ mắt ngó.

Phóng sự phát lên tivi, cái nhìn đó như dấu hỏi nao lòng, tôi đây này mà ba má ở đâu? Có nhận ra tôi không? Có nghe đau lòng? Thằng Thàn thấy cảnh người yêu tỉnh bơ ngồi trên đùi ông khách, buồn quá, bỏ đi uống rượu. Sáng sau, ông Năm dúi vô tay Thàn ít tiền biểu”đưa con nhỏ về nhà”. Thằng Thàn nói :

-Con không đành để tía lại một mình.

-Vậy bay nỡ nhìn con nhỏ sống vầy hoài sao?

Một sớm, hai đứa dắt nhau đi, ông già nhìn theo cho đến khi bóng chúng chìm giữa mịt mù. Lòng ông đã chuẩn bị rồi một cái vẫy tay, tiễn hai đứa ra khỏi những con đường sương gió. Nhưng mờ chiều, đám trẻ trở lại, mặt con Diễm Thương vẫn thản nhiên nhưng thằng Thàn buồn tê tái. Cả nhà Thàn hết hồn vía dồn lại ngó nhau, nhận ra đứa con gái này lên tivi hôm trước, coi bộ làm nghề không được đàng hoàng, coi bộ thằng Thàn bị con nhỏ này dụ dỗ. Diễm Thương chỉ cười, gật đầu chào rồi bước xuống bến đón tàu ra thị xã.

Lại về ngã ba Sương, chỗ của những người không còn đường trở lại nhà. Diễm Thương nói tui mắc cười quá ông Năm à, tui lên tivi để cha mẹ nhìn mà họ không biết tui là ai, còn người dưng liếc ngang là nhớ liền.

Ông già Năm Nhỏ lặng người đi, tự hỏi, bây giờ ông lên tivi, con Cải có nhận ra mình không?Người đã dắt Cải đi hái xoài chín trong vườn hoang, đã chặt chuối làm bè dạy cho nó lội, thả trâu, chơi diều… Đã cõng nó đi tắt mấy vạt đồng đến chỗ ông bác sĩ già, mỗi khi nó nhức đầu, sổ mũi.Cây kẹp nhỏ, mớ dây thun khoanh, mấy cục kẹo dừa vung vinh trong túi áo mỗi khi ông đi chợ về…Tất cả những thứ đó, ông nhớ mồn một thì nhỏ Cải chắc chưa quên. Ông già muốn lên tivi để nhắn đứa trẻ bỏ nhà rằng, về đi con ơi, đôi trâu có xá gì…

Đăng tin trên truyền hình đắt đỏ, mà lần nào lại phòng quảng cáo, ông cũng phải đôi co, đòi phải đọc theo ý mình, trong đó có đoạn ”con không về ba nhớ đã đành, má con còn giận ba, không nhìn mặt”. Người ta cười, trên đài chứ có phải chợ trời đâu mà muốn nói gì cũng được. Ông giận, quày quả về nhà, nghĩ cách tự mình lên tivi. Có lần, ông đậu xe kẹo đầu chợ, thấy người ta làm phim vụ lấn chiếm lòng lề đường, người hốt thúng mủng cá rau bỏ chạy, ông sướng rơn lăng xăng chạy tọt chổ này ló mặt đằng kia, mấp máy câu ”Cải ơi…” (mà vô phim người ta đã xóa mất tiếng còn đâu!!!), chỉ mong được thấy mình trên tivi, một khuôn mặt teo héo xạm đen dưới những sợi tóc ngả màu trắng xóa, một thân hình gầy guộc, lưng đã chớm còng…”Mình thèm lên tivi muốn chết giấc mà không được, còn mấy ông cán bộ ngồi chình ình trong đó hoài, thấy mắc ngán, ông già Năm Nhỏ than thở với thằng Thàn, nói sao tao muốn làm bí thơ tỉnh quá ”Thàn kêu, trời ơi,chi vậy tía. Ông cười lên tivi chớ chi, lúc đó tao đường hoàng nói chuyện với con Cải, tao nói từ từ, nhắc chuyện xưa cho nó nghe. Thằng Thàn cũng cười, tưởng tía làm lớn để lo cho dân, ai dè cũng bo bo cho mình.

Họ ngồi đụt mưa dưới một hàng ba trường tiểu học. Nước đổ trắng trời. Mùa còn ướt lạnh dài dài. Thằng Thàn lo ở nhà mưa dột ướt đầu giường, về không có gối để nằm, không mền để đắp. Diễm Thương biết có chạy qua không hay là bận khách, bận cười cợt (mà lòng não nề) biểu uống với em chút nữa đi anh. Thàn chép miệng, buồn quá tía ơi. Mê văn nghệ văn gừng đến nỗi không lo được cho nhỏ Thương. Ông Năm Nhỏ thấy thằng Thàn xuống nước mắt.Ừ tối nay, ông cũng thấy mình hoang mang buồn bã rã rời, như sắp đến cuối đường rồi, mà không biết chắc có nhà mình phía đó. Ông thở dài ứ hự, chống tay liêu xiêu đứng lên, bảo, mưa chắc còn dài, thôi dầm mình về nhỏ.

Đêm đó, thằng Thàn ôm ông già Năm ngủ, nó kêu lên, tía ốm dữ dằn thiệt, xương tía cấn con đau quá chừng. Ông già cười, ờ, chê mai mốt không có mà ôm nghen con. Thằng Thàn hỏi ông nói vậy là có ý gì, ông hỏi ngược lại, chớ bộ mậy tính có vợ rồi mà còn chun qua ngủ với tao? Thàn cười, ờ há ờ hen. Mắc cười, ông còn rù rì tính chuyện nấu mâm cơm cúng trời đất để xáp nhập nhỏ Diễm Thương về nhà bên này, sắm cái tủ thuốc lá nhỏ cho nó buôn bán vặt thì thằnng Thàn đã ngáy o o.

Nửa đêm, Thàn giật mình tỉnh giấc, không thấy ông già, nó ngật ngừ ngồi dậy, trên bụng rớt xuống một gói tiền. Xe kẹo kéo vẫn còn nguyên, Thàn kéo cửa bước ra ngoài. Ngã ba Sương đã tắt đèn, những con đường hun hút mù mịt dưới mưa, như không cần biết đến từ đâu, chỉ biết gặp ở đây, phút này.Thằng Thàn làu bàu, hỏng biết ông già chừng này mà đi đâu vậy cà.

Ông Năm đi ăn trộm chớ đâu. Ông lội bộ gần năm cây số trong mưa sụt sùi vô trong xóm, ghé chỗ lò mổ, dắt đôi trâu đem về. Ông làm gọn gàng như với đôi trâu ở nhà. Sáng ra ông trở lại, ghé đúng ngôi nhà có hàng so đũa cặp mé lộ, ông thấy một đám người đang tao tác đứng ngồi, ông hỏi, mua trâu hôn, tui kẹt tiền đem bán đây nè. Chủ nhà chạy ra la lên, trời ơi, bắt ổng lại, ổng ăn trộm của tôi. Ông Năm giả đò hết hồn, nhưng trong bụng thấy trúng ý,bảo từ từ, tui có chạy đâu mà sợ. Người ta đưa ông lên ấp, ấp giải lên xã, ông luôn miệng nhắc, mấy chú nhớ kêu đài truyền hình xuống nghen, phải quay tui để dân người ta cảnh giác.

May, đài tỉnh xuống thật, phóng viên một tờ báo cũng chạy theo, doc đường hăm hở rút sẵn tít ”Đạo tặc lãng trí” (thì ai cũng tưởng vậy). Cái cách đời nhảy xổ vào lỗi lầm của người khác thiệt là tưng bừng. Họ phỏng vấn ông chủ lò mổ, phỏng vấn trưởng công an xã, cuối cùng ông Năm xin được nói đôi lời, còn dặn, mấy chú làm ơn đừng cắt bỏ tiếng tui, rằng ”Cải ơi, ba là Năm Nhỏ nè, nhà mình ở Cỏ Cháy đó, nhớ không? Về nhà đi con, tội má con vò võ có một mình. Con là trọng chứ đôi trâu có nhằm nhò gì… Về nghe con, ơi Cải..”

Nghe đâu, hôm đó, nhiều người rơi nuớc mắt, vì vậy mà vụ trộm trâu không được lên tivi, sống giữa cái rẻo đất nhân hậu này nhiều khi cũng hơi phiền.

Nghe đâu,hôm đó đài truyền hình có đưa tin nhưng chỉ thấy ông già nhép miệng một cách tuyệt vọng.Như đã nói, nhà đài người ta chớ có phải chợ trời đâu, mà có thể thoải mái gọi, ”CẢI ƠI…”

NGUYỄN NGỌC TƯ (Báo Pháp Luật TP.HCM

kiettt
01-04-2010, 15:44
Lần nào đọc Nguyễn Ngọc Tư cũng thấy nghẹn ngào, các nhân vật của cô hình như ai cũng bị dồn vào đường cùng, khổ đến không thể nào khổ hơn nữa



ông già Năm Nhỏ than thở với thằng Thàn, nói sao tao muốn làm bí thơ tỉnh quá ”Thàn kêu, trời ơi,chi vậy tía. Ông cười lên tivi chớ chi, lúc đó tao đường hoàng nói chuyện với con Cải, tao nói từ từ, nhắc chuyện xưa cho nó nghe. Thằng Thàn cũng cười, tưởng tía làm lớn để lo cho dân, ai dè cũng bo bo cho mình.

acaxomcui
02-04-2010, 05:12
Lần nào đọc Nguyễn Ngọc Tư cũng thấy nghẹn ngào, các nhân vật của cô hình như ai cũng bị dồn vào đường cùng, khổ đến không thể nào khổ hơn nữa

Biết đâu,đời thường còn nhiều cảnh éo le hơn thế nữa chứ!

lennel
24-04-2010, 10:09
Tên Trộm Hoàn Lương


Tác Giả: O. Henry)





Viên cai ngục đến xưởng giày trong nhà giam, nơi Jimmy Valentine đang cần mẫn khâu mũi giày, để đưa anh ta lên phòng giám đốc. ở đấy, viên giám đốc nhà giam giao cho Jimmy tờ lệnh được tha vừa được ngài Thống đốc Tiểu bang phê chuẩn sáng nay. Jimmy thờ ơ cầm lấy tờ giấy, không nói gì. Anh bị kêu án bốn năm và đã ở đây được mười tháng. Đối với một người quen biết rộng như Jimmy thì cái án ấy chả bõ bèn gì, " xoay" một cái là ra ngay ! Ông Giám đốc nhà giam nói :

- Thế nào, anh Valentine ? Sáng mai anh được ra rồi đấy. Hãy tự răn mình và tỏ ra là một người đàn ông chân chính. Tôi biết tự thâm tâm anh không phải là người xấu. Hãy thôi đừng trộm két sắt nữa, hoàn lương đi, và cố sống cho nghiêm chỉnh xem nào.

- Thưa ngài, tôi ư ? Tôi trộm két sắt ư ?

- Jimmy trố mắt, ngạc nhiên hỏi. Ông Giám đốc cười :

- Thôi đi ! Hừ, không với chả có. Thế cái vụ ở Springfield ai làm ? Tại sao anh phải vào đây ? Anh thì chạy tội là giỏi nhất !

Jimmy vẫn tỉnh bơ chối :

- Ái chà ! Không đâu, thưa ngài. Tôi chưa bao giờ đặt chân tới Springfield cả.

Ông Giám đốc nhà giam dễ dãi cười, quay sang bảo người cai ngục :

- Cronin, anh đưa cậu ta về phòng. Báo chuẩn bị đồ đạc phóng thích cho cậu ta và bảy giờ sáng mai đưa cậu ta đến đây. Valentine ! Hãy nhớ lời tôi nhé !

Bảy giờ mười lăm phút sáng hôm sau. Valentine đứng trước cửa nhà giam. Anh mặc một bộ complet cắt thật vụng về, chân mang đôi giày cứng nhắc thường phát cho những người tù được phóng thích.

Hồi nãy, viên thư ký nhà giam đưa cho anh một vé tàu và năm đô- la với hi vọng của nhà nước rằng với số tiền ân huệ ấy, anh sẽ có thể làm lại cuộc đời để trở nên một công dân lương thiện. Ông Giám đốc nhà giam mời anh điếu xì gà rồi bắt tay thật chặt.

Valentine, người tù số 9762, được vào sổ như sau : " Lệnh tha của Thống đốc".

Thế là Jimmy Valentine đường hoàng trở về với những con đường đầy ánh nắng.

Chẳng màng đến tiếng chim hót líu lo, đến cành lá xanh tươi đang vẫy gọi bên đường, đến hương hoa thơm ngát từ khu vườn gần đấy, Valentine đi một mạch đến quán ăn. Tại đây, anh tận hưởng hương vị tuyệt vời của tự do bằng cách chén sạch nguyên con gà quay vàng rộm, uống cạn chai vang trắng, rồi khoan khoái phì phà điếu xì gà đắt tiền, đắt hơn nhiều so với điếu của viên Giám đốc nhà giam vừa tặng. No nê, thỏa mãn, anh nhàn tản đi đến nhà ga, điệu nghệ búng đồng xu con vào chiếc nón của người hành khất mù đứng trước sân ga, rồi nhanh nhẹn lên tàu. Ba tiếng đồng hồ sau đó, anh xuống tàu ở một ga nhỏ hiu quạnh, nằm gần ranh giới tiểu bang. Dừng chân ở quán cà phê mang tên Mike Dolan, Jimmy bước vào thân mật tay bắt mặt mừng ông chủ quán đang đứng sau quày. Ông chủ quán nói :

- Xin lỗi cậu, Jimmy, tớ không thể xoay sở sớm hơn được. Có ý kiến phản đối việc tha cậu ở Springfield nên tay Thống đốc Tiểu bang rét quá suýt nữa hắn thôi không giải quyết đấy. Thế nào, khỏe chứ ? Jimmy cười :

- Khoẻ. Có chìa khóa cho tôi không đấy ?

Cầm lấy chìa khóa, Jimmy lên lầu, ra mãi căn phòng nhỏ phía sau. Đồ vật trong phòng vẫn y nguyên. Trên sàn nhà vẫn còn hột nút áo của ông Chánh thanh tra Ben Price, lúc ông ấy cùng đám cảnh sát dưới quyền ập vào túm lấy anh.

Hạ chiếc giường xếp xuống, Jimmy mở ngăn bí mật trong vách, lấy ra chiếc vali bám bụi. Anh thận trọng đặt lên bàn, mở nắp, rồi đứng im, khoan khoái ngắm bộ đồ nghề mở két sắt độc nhất vô nhị của anh, bộ đồ nghề mở két hữu hiệu nhất miền Đông nước Mỹ. Nó đầy đủ các cơ phận, làm bằng loại thép cứng nhất, thiết kế theo mẫu mới nhất. Nào khoan, nào đục, nào kẹp, nào kềm, có một số bộ phận do đích thân Jimmy vẽ kiểu. Anh rất tự hào về bộ đồ nghề này. Anh đã phải trả hết 900 đô để đặt làm theo ý riêng của mình ở một chỗ chuyên làm dụng cụ cho giới giang hồ.

Nửa giờ sau, Jimmy xuống lầu, ra cửa. Giờ đây, anh mặc bộ complet vừa vặn, kiểu mới, tay xách chiếc vali. Người chủ quán nháy mắt, hỏi :

- Đi làm sớm thế ?

- Làm gì ?

- Jimmy ra bộ ngơ ngác

- Ờ hay, cái cậu này. Tôi chỉ là một nhân viên công ty bánh ngọt và chế biến lương thực New York đấy, nhớ chưa ?

Người chủ quán gật lia lịa, rối rít mời Jimmy uống rượu, nhưng anh từ chối, Jimmy không bao giờ uống rượu. Một tuần sau ngày Valentine, người tù số 9762, được phóng thích, một vụ trộm lớn được tiến hành rất khéo ở Richmond, bang Indiana. Không một dấu vết để lại. Hai tuần sau, lại thêm một vụ khác. Lần này chiếc két bị trộm là loại hiện đại nhất, có gắn cả thiết bị báo động chống trộm, thế mà cánh cửa dày cộm của nó vẫn bị mở toang như người ta mở cửa sổ đón gió hè. Vụ trộm này xảy ra ở Logansport, số của cải bị mất trộm trị giá khoảng 1500 đô, trong tủ còn có nhiều hối phiếu và tiền xu lẻ nhưng không hề bị tên trộm mó tay vào. Cảnh sát bắt đầu quan tâm, nhưng mãi đến vụ trộm ở ngân hàng Jefferson City, số thất thoát lên cao, thì ông Chánh thanh tra Ben Price mới chịu xuất quân. So sánh dấu vết tại hiện trường, ông phát hiện ngay một nét tương tự về phong cách thực hiện của các vụ án. Ông tuyên bố :

- Chính thằng Jimmy Valentine chứ không ai khác ! Hắn lại giở trò rồi đấy. Xem cái núm khóa kia kìa - nó bị kéo tung ra cứ như người ta nhổ củ cải vào tháng mưa ấy. Kiểu ấy thì chỉ có cái kích hiện đại của thằng Valentine mới làm nổi thôi. Lại xem mấy thanh ngang kia kìa, chỉ khoan có một lỗ là bung ngay thế kia thì ngoài thằng Valentine ra chẳng có ai làm nổi !

Ông Ben Price đã thuộc lòng tính nết Jimmy. Ông nắm cả những thói quen nhỏ nhất của tên trộm tài hoa này qua những lần điều tra vụ cướp ở Springfield vừa qua. Jimmy thường đánh theo lối nhảy cóc. Đánh nhanh, rút lẹ, lẩn đi thật xa, rồi lại ra tay tiếp, lần sau táo bạo hơn lần trước. Hắn không cần phụ tá. Giới chủ ngân hàng phần nào nhẹ nhõm khi nghe tin ông Ben Price lại lên đường lần theo dấu vết tên trộm quỷ quái ấy.

Một chiều nọ, Jimmy Valentine tay xách vali, xuống xe tại một thị trấn nhỏ, tên là Elmore. Đấy là một thị trấn hẻo lánh, cách đường xe lửa xuyên Mỹ trên năm dậm, thuộc bang Arkansas. Trông anh ta như một sinh viên năm cuối bậc đại học, thích thể thao, đang trên đường về quê thăm nhà. Bước chậm rãi trên lề đường lót ván, anh dừng chân ở khách sạn.

Bỗng một thiếu nữ băng qua đường, đi ngang trước mặt anh, rồi rẽ vào căn nhà có treo tấm biển " Ngân hàng Elmore" . Tình cờ cô liếc mắt nhìn anh. Thế là tâm hồn anh như choáng ngợp bởi ánh mắt diệu kỳ ấy, đầu óc bay bổng tận đâu đâu. Anh như đã biến thành một người nào khác. Cô thiếu nữ thẹn thùng cúi gầm mặt, hai má ửng hồng. Chả lẽ ở Elmore này, ăn vận như thế, ... đẹp trai như thế, hiếm lắm !

Jimmy vội túm ngay lấy một cậu bé con đang ngồi chơi trên bậc thềm gần đấy, giả vờ đang có ý muốn mua cổ phiếu của ngân hàng ở đây, nên phải hỏi để nắm tình hình. Cứ mỗi câu hỏi, anh ta lại giúi vào tay cậu bé đồng mười xu. Một lúc sau, cô gái đi ra, lần này không thèm để mắt đến chàng trai tay xách vali vẫn còn đứng đấy. Jimmy nháy mắt, hỏi cậu bé :

- Hình như là cô Polly Simpson đấy phải không?

- Không đâu, chính là cô Annabel Adams đấy chứ. Bố cô ấy là chủ ngân hàng này.

Jimmy đến khách sạn gần đấy, đăng ký mướn phòng với tên Ralph Spencer. Anh nhẩn nha ở quày tiếp tân, gợi chuyện với anh nhân viên khách sạn, nói cho anh ta hay rằng mình muốn ở lại thị trấn Elmore này để làm ăn bằng việc kinh doanh giày, liệu có sống nổi không ?

Người nhân viên tiếp tân nhìn vẻ bên ngoài bảnh bao của Jimmy ra dáng kính nể. Anh ta nhiệt tình cho biết : - Vâng, mở hàng giày ở đây sống lắm ! Hiện ở đây chưa có nơi nào kinh doanh giày cả. Trước nay mặt hàng này chỉ được bày bán ở cửa hàng tạp hóa và vật tư ở đằng kia. Việc kinh doanh buôn bán tại đây đang có chiều hướng phát triển khá. Hi vọng rằng sau khi cân nhắc thiệt hơn, ông sẽ quyết định lập nghiệp ở đây. Dân cư nơi đây hiền và hiếu khách lắm !

Jimmy cười :

- Vâng. Cảm ơn nhiều. Tôi sẽ ở lại vài ngày xem sao. ồ, không cần gọi bồi làm gì, tự tôi xách lấy được rồi. Thế là Ralph Spencer, con phượng hoàng thoát xác cất cánh lên cao từ đống tro tàn của người tù Valentine - đống tro tàn phát xuất từ ngọn lửa tình nồng cháy qua lần đầu gặp gỡ. Jimmy quyết định lập nghiệp ở thị trấn nhỏ tên Elmore này. Hiệu giày của anh hoạt động tốt, có lãi.


Về mặt quan hệ xã hội, Jimmy cũng thành công không kém, anh quen biết nhiều, và hơn cả, sở nguyện của anh cũng đã thành. Annabel Adams nay là bạn anh và tình cảm của anh dành cho nàng ngày càng say đắm. Đến cuối năm ấy, có thể tóm tắt hoàn cảnh sống của chủ hiệu giày Ralph Spencer như sau : anh được hầu hết cư dân trong thị trấn tin yêu, cửa hàng giày của anh ngày càng thịnh vượng.



Trên tất cả, anh vừa đính hôn với cô Annabel Adams và đám cưới sẽ cử hành trong hai tuần nữa. Ông Adams, chủ ngân hàng Elmore, bố vợ tương lai của anh, rất hài lòng với chàng rể quý. Phần Annabel, cô yêu anh bao nhiêu thì quý trọng anh chừng ấy. Lúc này, Ralph Spencer gần như là thành viên chính thức của gia đình Adams. Ngày nào anh cũng đến chơi nhà bố vợ và nhà cô chị của Annabel.


Một hôm, Jimmy ngồi viết thư cho một người bạn ở St. Louis :

Billy thân mến,

Tớ muốn tối thứ tư tới đây, lúc chín giờ, cậu đến quán Sullivan ở Little Rock gặp tớ. Nhờ cậu giúp cho một việc. Ngoài ra, tớ muốn tặng cậu bộ đồ nghề của tớ. Tớ biết cậu khoái muốn chết khi có được một bộ như thế, làm bộ khác phải mất hơn nghìn đô- la là cái chắc. Billy ạ, tớ đã hoàn lương rồi - được hơn năm nay. Hiện tớ đang có một cửa hàng, một cuộc sống lương thiện và hai tuần nữa tớ sẽ làm đám cưới với một cô gái tuyệt diệu nhất trên đời này. Cậu biết không ? Tớ đã nhận thức rằng chỉ lương thiện mới sống đời được, và tớ đã nhất quyết từ nay sẽ không tơ hào của ai một đồng xu nhỏ. Cưới vợ xong, tớ sẽ bán tất rồi dọn về miền Tây sinh sống, chỉ ở đấy mới hi vọng tớ sẽ không bị quấy rầy vì những tai tiếng cũ của mình. Tớ nói thật đấy ! Vợ tớ đúng là một nàng tiên. Nàng tin ở tớ hết lòng và chính vì thế tớ sẽ cố hết sức không làm một điều gì để phụ lòng tin ấy. Nhớ đến quán Sully'' s nhé. Tớ cần cậu lắm, và tớ sẽ đem bộ đồ nghề đến cho cậu.

Bạn cậu, Jimmy

Vào tối thứ hai ấy. lúc Jimmy đang ngồi viết những dòng cuối cùng gởi cho bạn, thì chánh thanh tra Ben Price ngồi lắc lẻo trên chiếc xe ngựa thồ chạy đến Elmore. Đến nơi, ông lặng thinh, kín đáo rảo quanh một vòng để nắm tình hình qua chiếc gương trong cửa hàng tạp hóa nằm đối diện với tiệm giày của Ralph Spencer. Ông chăm chú quan sát thật kỹ dung mạo và dáng điệu của ông chủ trẻ. Ben Price thích thú cười :

- Thế đấy, Jimmy, chú mày lại sắp đi cưới con gái chủ ngân hàng cơ đấy !

Sáng hôm sau, Jimmy đến dùng điểm tâm bên nhà vợ. Hôm nay, anh định đi Little Rock để sắm sửa mấy món đồ chuẩn bị cho đám cưới và mua một món quà thật đáng giá cho Annabel. Kể từ lúc định cư ở Elmore đến nay, đây là lần đầu tiên anh rời thị trấn đi xa. Có lẽ không hề gì, vì tính từ vụ " làm ăn" cuối cùng đến nay đã ngót một năm rồi. Điểm tâm xong, cả nhà Annabel đều kéo nhau đi tiễn chân Spencer - ông Adams, Annabel, cả cô chị của Annabel cùng hai cô gái nhỏ mới lên năm và lên chín. Họ đến khách sạn nơi Jimmy ở để anh lấy hành lý - chiếc vali dạo ấy. Rồi tất cả kéo nhau đến ngân hàng. ở đấy, xe ngựa đang chờ Jimmy cùng với người xà ích tên Dolph Gibson để đưa anh ra ga. Ông Adams mời chàng rể quý vào ngân hàng chơi chốc lát, ông muốn khoe mọi người chiếc tủ sắt hiện đại ông vừa cho lắp đặt xong dưới tầng hầm. Đám nhân viên ngân hàng cúi chào anh răm rắp.

Đấy là một két sắt khá lớn được gắn chìm vào vách. Cửa tủ rất chắc chắn, mỗi lần quay tay nắm là ba thanh thép lớn đâm sâu, gắn chặt vào vách tủ. Trên cửa còn có cả núm khóa hẹn giờ tự động. Ông Adams phổng mũi giải thích những tính năng hiện đại của chiếc két sắt cho chàng rể quý, nhưng anh ta tỏ ra không quan tâm lắm. Hai bé gái, cháu May và Agatha, con gái của người chị Annabel, tỏ vẻ thích thú lắm. Chúng trố mắt nhìn lớp thép bóng loáng, mấy núm điều khiển tròn xoe trên cửa.

Trong khi mọi người đang lắng nghe ông Adams giải thích về cách đóng mở cửa, Ben Price từ từ bước vào, ông ta tì tay lên mặt quày bình thản nhìn quanh. Cô nhân viên đến hỏi, ông đáp đang chờ người quen.

Bỗng có tiếng phụ nữ la thất thanh, không khí hoảng hốt bao trùm lấy khu hầm để tủ sắt. Nhân lúc người lớn đang ham chuyện, cô bé May, chín tuổi, đùa nghịch đẩy Agatha vào trong tủ rồi đóng sập cửa lại. Cô bé còn bắt chước ông ngoại, kéo tay khóa rồi vặn mấy núm điều khiển trên cửa.

Ông Adams vội nhào đến chụp lấy tay nắm lay mạnh, nhưng muộn rồi. Ông hốt hoảng kêu lên :

- Chết rồi ! Không tài nào mở được. Lại chưa kịp chỉnh số hẹn giờ mới chết!

Người mẹ thất đảm hét hớn. Ông Adams run rẩy trấn an con gái :

- Giữ bình tĩnh đi nào ! Agatha cháu ơi !

- Ông cố gọi thật lớn

- Cháu nghe ông nói không ?

Trong bầu không khí im lặng đến nghẹt thở, mọi người nghe rõ tiếng khóc la của cô bé đang bị nhốt trong hầm tối. Người mẹ khóc nức nở, cuống quýt lên :

- Ôi, phải làm gì kia chứ! Hãy phá cửa ra ngay !

Ông Adams thất vọng, lắc đầu :

- Con ơi, phải đến mãi Little mới có người mở được loại cửa này. Ông Ralph Spencer, ta phải làm sao đây ? Con bé đến chết mất ! Trong ấy ngộp lắm và đầy bóng tối nữa, con bé đến chết vì khiếp sợ thôi !

Người mẹ lúc này như phát cuồng lên, chị đập mạnh đôi tay yếu ớt vào cánh cửa thép nặng nề dầy cộm như muốn phá tung nó ra để cứu con mình. Có người hoảng quá, định lấy cốt mìn phá cửa. Nhưng làm như vậy thì còn gì cháu bé bên trong. Annabel ngước mắt nhìn Jimmy, ánh mắt khẩn khoản đầy hi vọng. Hi vọng, vì đối với nàng, người yêu của nàng có thể làm được tất cả, ngay cả những điều kỳ diệu nhất.

- Anh Ralph, hãy giúp chị ấy đi anh.

Jimmy nhìn sâu vào mắt nàng, miệng nở một nụ cười khó hiểu. Đối với anh, yêu cầu của nàng chính là mệnh lệnh của trái tim anh. Anh nói :

- Annabel, em hãy cho anh đoá hồng trên áo em. Cô bỡ ngỡ, không tin vào tai mình, nhưng vẫn đưa tay gỡ lấy cánh hồng trên áo, trao cho người yêu. Jimmy cẩn thận cài cánh hồng vào túi, rồi bắt đầu xắn tay áo. Chính qua hành động xắn áo ấy, nhân vật Ralph Spencer đã chết, và tên trộm tài danh Jimmy Valentine đã trỗi dậy từ đống tro tàn quá khứ.

Anh nói ngắn, gọn :

- Mọi người tránh ra hết đi !

Anh mở toác chiếc vali mang theo. Và từ lúc ấy đối với anh, chung quanh như không có ai. Bằng những hành động rất chính xác, nhanh gọn, anh lấy đồ nghề ra, sắp xếp theo thứ tự sử dụng, vừa làm vừa huýt sáo nho nhỏ. Đấy là một thói quen cố hữu của anh lúc đang " hành sự" . Mọi người nhìn anh trân trối.

Chỉ một phút sau, mũi khoan nhỏ của Jimmy ăn thật ngọt vào cánh cửa thép. Mười phút sau, cánh của mở toang. Anh đã phá cả kỷ lục chính anh lập nên qua các lần mở trước.

Cô bé Agatha té xỉu trong vòng tay mẹ. Không việc gì.

Jimmy Valentine cầm lấy áo khoác vắt trên ghế đi nhanh ra cửa. Anh nghe có tiếng kêu " Anh Ralph !" thật thân thương nhưng xa vắng làm sao. Anh vội bước đi.

Bỗng có người chắn lối anh đi.

Jimmy cười, vẫn nụ cười khó hiểu ấy :

- A, xin chào ông Ben. Ông đã đến đấy ư ? Thôi ta đi nào, đến mãi bây giờ tôi mới thấy được rằng cuộc sống thật phù du vô ích.

Nhưng chánh thanh tra Ben Price cứ đứng yên, nói :

- Ông Ralph Spencer, ông nhầm rồi đấy ! Tôi không hề quen ông. Hình như xe đang chờ ông ngoài ấy ?

Nói xong, ông ta quay lưng đi thẳng.

lennel
30-04-2010, 09:38
1-Cảnh nghèo

Ông nội ở ngoài buôn bán nhỏ, gom được tí tiền. Bà nội tin Phật, một lòng thành kính, một lần bà nội xin được một quẻ xăm giữa miếu ngụt khói hương, nói phải cưới một cô vợ hơn tuổi cho thằng cháu đích tôn thì nó mới qua được vận hạn.

Bà nội đương nhiên tin vào lời Phật dạy chúng sinh nơi khói hương vòng quanh chuông chùa ngân nga, bởi thế ông bà nội bàn tính, đưa lễ hậu, kháo tin quanh vùng tìm mối nhân duyên cho anh.

Nhà chị năm miệng ăn, trông vào mấy sào ruộng bạc màu, chỉ đủ miếng cháo, mùa đông, cha chị vì muốn kiếm thêm ít đồng ra đồng vào, theo người ta lên núi đập đá, tiền chưa kiếm được, nhưng bị đá vỡ dập lưng, tiêu hết cả gia sản, bán sạch cả lương thực, bệnh không khỏi.

Hằng ngày cha chị chỉ có thể nằm trên giường, muốn chết mà chẳng chết cho. Hai đứa em trai còn chưa đủ tuổi lớn. Nỗi khổ sở của gia đình, nỗi ai oán của mẹ, làm những năm thời con gái của chị mang một gánh nặng tâm tư.

Vì thế bà mối đến, réo rắt: “Gả cô nhà đi, tiền thì để dưỡng bệnh cho cha, còn đỡ đần được tiền tiêu trong nhà”.

Mẹ chị lắc đầu, nào có ai muốn đẩy đứa con gái thơ dại của mình vào lò lửa? Nhưng chị xin: “Mẹ, cho con đi nhé, chỗ tiền ấy có lẽ chữa khỏi cho cha!”.

Tiếng kèn đón dâu thổi váng đầu ngõ trước ngôi nhà nhỏ của chị. Bố chị nằm trên giường tự đấm ngực mình; Con gái phải đem đổi tuổi thanh xuân, chấp nhận lấy một người chả xứng với mình chỉ vì cứu tôi và cứu gia đình này thôi ư!

Mẹ chị chảy nước mắt, tự tay mình cài lên tóc con gái cây trâm gài. Chị mặc áo đỏ đi giày thêu cúi lạy cha mẹ, tự buông tấm khăn đỏ che đầu mình, nước mắt lúc đó mới chảy ra, trộn phấn má hồng.

Từ đó, số phận cuộc đời chị và hôn nhân giao cả về tay một đứa con nít vô tri.



...................



2. Cười xót xa

Bà mẹ chồng trẻ tuổi không phải là người khắt khe khó tính, bố chồng ở xa cũng chẳng cần chị tam khấu cửu bái, lạy chào dạ vâng. Anh vâng lời mẹ gọi chị là chị gái.

Hằng ngày, chị ngoài việc giúp mẹ chồng chăm ruộng rau và làm xong việc nhà, thì cắt thuốc cho chồng, sắc thuốc, may áo cho chồng, giặt giũ, cho chồng chơi, cho chồng ngủ, có lúc, anh ho suốt đêm, sốt cao, chị thức cả đêm chườm khăn hạ sốt, cho anh uống nước, uống thuốc.

Trong tim chị, chị coi anh như một đứa em trai.

Hàng xóm láng giềng gặp chị, chị thường cúi đầu lặng lẽ, không nói, vội vã đi qua. Không biết là ứng với quẻ xăm của Phật, hay nhờ chính sức mình mà anh vượt qua được bệnh tật, dưới sự chăm chút của chị, anh lần lượt chiến thắng mọi cơn bệnh tật lớn nhỏ: Ho gà, viêm màng não, lở loét v.v...

Dần dà, những tình cảm anh dành cho chị vượt quá tình cảm dành cho mẹ mình. Giữa những kẽ hở lúc bận rộn, hoặc khi anh đã ngủ say, chị thường khóc nước mắt nóng rồi thờ thẫn tự hỏi mình: “Đây là hôn nhân của mình ư, đây là chồng của mình ư?”.

Đến tuổi đi học, chị may cho anh một chiếc túi xách, dắt tay anh đến lớp. Những đứa trẻ trong và ngoài thôn thường vây lấy chị hát to: “Cô con dâu, cô con dâu, làm cái gì? Tắt đèn, thổi nến, lên giường...”

Chị không biết trong lòng mình là nỗi đau hay nỗi buồn, cúi gằm xuống, mặt đỏ lên rồi trắng bệch, trắng rồi đỏ. Một buổi tối, anh nằm trong chăn nói:

“Chị ơi, em yêu chị!”.

Chị lại là vợ. Vợ lại là chị. Chị nhìn gương mặt ngây thơ non nớt của anh, im lặng. Lần đầu tiên chị cười đau khổ.




..............



3-An ủi nhỏ nhoi

Cha anh ở ngoài buôn bán nhiễm phải thói cờ bạc, chỉ vài ngày mà thua sạch bách bao gia sản tích cóp khổ sở lâu nay.

Sau khi bố mẹ chồng chửi bới cãi vã ầm trời, bố chồng chị dứt áo bỏ nhà ra đi, từ đó không ai gặp lại ông nữa, nghe người ta nói khi đó ông bị lính bắt đi làm phu. Lúc đó trên người mẹ chồng chị còn vài thứ trang sức, cầm đi đổi lấy vài đồng tiền.

Mẹ chồng và chị bàn nhau mua lấy ba mẫu đất. Không thể mượn người làm nữa rồi, mẹ chồng con dâu xoay ra xắn ống quần lên lội ruộng, ngày còn ở nhà chị từ nhỏ đã giúp cha mẹ làm ruộng, khổ sở gì chị cũng đã nếm trải qua. Chỉ khổ cho bà mẹ chồng chị xưa nay chưa từng phải trồng lúa bao giờ.

Một nhà vốn giàu có bỗng chốc hóa bần cùng, đàn ông bỏ đi không tăm tích, bà mẹ chồng vừa đau vừa hận, lại thêm việc làm ruộng nặng nhọc, làm bà kiệt quệ, ốm rồi không dậy nổi. Trước lúc lâm chung, bà kéo tay chị, gần như van vỉ nói:

“Nó hãy còn nhỏ dại, xin cô chăm sóc nó, nếu cô muốn ra đi, xin hãy đợi lúc nó trưởng thành”.

Chị nắm chặt tay anh. Từ đó, số mệnh của anh lại bị chị dắt đi.

Chị là người phụ nữ trọng tình nghĩa, chưa từng hứa gì, nhưng chị vẫn cùng anh như cũ. Từ đó về sau, ngay cả chính chị cũng không nhận ra mình rốt cuộc là vợ, là chị hay là mẹ của anh?

Chị quần quật không ngày không đêm, làm việc để anh tiếp tục đi học. Cuộc sống của họ trôi qua khổ nhọc nhưng bình lặng giữa tình chị em sâu nặng, tình yêu bao la như tình mẫu tử bền chặt.

Khi anh tốt nghiệp trung học thi đỗ vào một trường Đại học Sư phạm, chị thay anh thu xếp hành lý, lại một lần nữa đưa anh tới trường.

Chị nhìn cậu con trai trẻ măng vừa qua tuổi dậy thì, do chính tay mình nuôi lớn từ nhỏ đến giờ, chị chỉ dặn anh hãy cố mà học hành, ngoài ra chị không nói thêm điều gì nữa.

Nhưng anh vẫn nói: “Chị, chờ tôi quay về nhé!”.

Tim chị đập nhẹ một nhịp, nhưng mặt vẫn bình thường, có điều khóe miệng ẩn một nụ cười hân hoan rất nhẹ mà người khác khó nhìn thấy. Khóe cười ấy không phải vì câu nói của anh, mà vì những gì chị bỏ ra, đã được đáp đền lần đầu.




............



4. Kiếp này

Chị vẫn làm ruộng như trước, nhịn ăn nhịn mặc dành tiền gửi đi.

Hai năm đầu, nghỉ hè và nghỉ Tết anh đều về quê giúp chị làm việc. Nhưng năm thứ ba đại học, anh viết thư về nói: Chị đừng gửi tiền nữa. Và kỳ nghỉ tôi cũng không về nữa đâu. Tôi muốn ra ngoài kiếm việc làm thêm, đỡ gánh nặng cho chị.

Lúc đó chị đã 29 tuổi.

Ở quê, người như chị đã là mẹ của mấy đứa con. Người trong làng đều bảo, chị nuôi anh lớn khôn, lại còn cho anh thoát li đi học, thế coi như là đã quá tốt với anh rồi, chị già hơn anh mười một tuổi, thôi đừng chờ chồng nữa.

Bây giờ anh đã đi xa, ở ngoài thế giới bao nhiêu xanh đỏ tím vàng, biết chồng mình có về nữa hay là không về nữa!

Chị cũng không biết trong lòng mình là đang thủ tiết, giữ đạo phu thê: Dù sao thì mười mấy năm trước chị cũng là một cô dâu gả cưới đàng hoàng về nhà anh; hay là mình đang vì câu nói trước ngày anh lên đường đi xa: “Chị, chờ tôi quay về nhé!”; hay là chị đang lo âu như người mẹ không yên tâm về đứa con nhỏ của mình đang ở xa; chị cứ chờ.

Chị cứ giữ sự yên tĩnh và ít lời như mấy chục năm nay đã từng.

Cuối cùng cũng đã đến lúc anh tốt nghiệp. Anh quay về. Anh đã là một người đàn ông trưởng thành có phong cách và khí chất, dáng dấp một người đàn ông nho nhã hiểu biết.

Còn chị, dãi nắng dầm sương, gương mặt nhọc nhằn lao khổ đã sớm bay hết những nét đẹp thời trẻ, là một người đàn bà nhà quê đích thực.

Trong lòng chị chỉ còn coi anh là một đứa em trai thân yêu. Chị không dám ngờ anh đã nói với chị: “Chị, tôi đã trưởng thành, giờ chúng ta có thể thành thân!”.

Chị nhìn anh, như đang nằm mơ, chị sợ mình đang nghe nhầm. Anh cũng là một người đàn ông trọng tình trọng nghĩa như chị?

Chị cười, tự đáy lòng dâng lên miệng cười rạng rỡ, cũng để rơi xuống những giọt nước mắt đẹp đẽ nhất đời người.




....



5. Xin lỗi

Anh ở lại thị trấn dạy học, chị ở nhà làm ruộng. Họ có với nhau một con trai một con gái.

Sau này, anh đến khu mỏ dầu dạy học, lên chức hiệu trưởng một trường Trung học nhờ vào bằng cấp và kinh nghiệm dạy học của mình. Vì hộ khẩu, con cái vẫn để ở nhà cho chị nuôi nấng. Sau khi nhập được hộ khẩu, anh về quê đưa vợ con lên trường.

Các giáo viên trong trường đến giúp hiệu trưởng dọn nhà. Có một giáo viên bộc tuệch chạy ra nói:

“Hiệu trưởng, sao anh đón mẹ và em trai lên ở mà không đón cả chị nhà và các cháu luôn?”.

Một sự im lặng bao trùm, mọi người đều ngoái đầu nhìn chị. Lúc ấy, mặt chị sượng trân trân, không biết nên nói gì, chị cười méo mó, nhìn anh biết lỗi. Anh ngoái đầu nhìn chị, nói với tất cả mọi người với giọng chắc nịch:

“Chị các chú đây. Có cô ấy mới có tôi ngày hôm nay, thậm chí cả tính mạng tôi”.

Chị nghe anh nói, mắt chị dâng lên toàn là nước mắt.





....




6. Năm tháng như bài ca, tình yêu như ngọn lửa

Bây giờ chị đã bảy mươi hai, vì làm việc nặng nhọc quá nhiều, sức khoẻ kém, bệnh phong thấp làm chị đi tập tễnh. Anh sáu mươi mốt, đã về hưu từ lâu.

Hai năm nay họ dọn về khu nhà này ở, nếu hôm nào trời không mưa gió, hoặc ngày quá lạnh, đều có thể gặp bóng dáng họ ở khu sân chơi, bồn hoa; chị nắm gậy chống, anh đỡ một bên, đi chậm chạp từng bước một về phía trước, như đang dìu một đứa trẻ tập đi, chăm sóc như thế, ân cần như thế.

Những người biết chuyện của họ đều nhìn theo, cảm động bởi mối tình sâu nặng và bền chặt của anh và chị, mang nghĩa đủ tình đầy đi dọc một kiếp người. Anh nói:

“Cô ấy mang cho tôi sinh mệnh, cho mẹ tôi sự ấm áp, cho tôi một mái nhà, bây giờ, tôi dành nửa cuối đời tôi chăm sóc cô ấy”.

Anh dắt tay chị, như ngày đó chị dắt tay đứa bé năm tuổi, họ cùng mỉm cười, đẹp như nét mây chiều êm ái nơi chân trời mùa hạ.

acaxomcui
03-05-2010, 15:56
Nội dung chuyện đẹp quá!Nếu anh bỏ rơi chị thì không có câu chuyện nầy,bởi kết quả tảo hôn đều giống nhau:không gì tốt đẹp!

Chuyện của Trung Quốc hả len?

lennel
12-05-2010, 15:43
Chuyện của Trung Quốc hả len?




chắc là chuyện của TQ .





.....

Đôi tay cầu nguyện

http://damnghidamlamdamthanhcong.files.wordpress.com/2008/07/albrecht-duerer-betenden-haende-handstudie-1508-albertina-wien.jpg

Vào thế kỷ 15, tại một làng nhỏ nọ, có một gia đình có tới 18 người con. Cha của họ phải làm việc tới 20 tiếng đồng hồ mỗi ngày mà cả gia đình chỉ đủ để đắp đổi qua ngày. Thế nhưng, hai người con lớn trong nhà vẫn có nhiều mơ ước. Cả hai đều muốn học vẽ vì họ có năng khiếu từ nhỏ.

Sau không biết bao nhiêu buổi nói chuyện suốt đêm trên chiếc giường đông chật anh em, hai người con lớn có một quyết định. Họ sẽ tung một đồng xu. Người thua sẽ làm thợ mỏ, dùng toàn bộ thu nhập để chu cấp cho người thắng đi học. Còn người thắng, sau 4 năm học, sẽ chu cấp tài chính cho người còn lại đi học, dù bằng cách bán tranh hay phải đi làm thợ mỏ.

đồng xu được tung lên, albrecht durer thắng cuộc và được đi học. Albert thua, và đi tới vùng mỏ đầy nguy hiểm, và trong suốt 4 năm, làm lụng để nuôi người anh em của mình ăn học.

Gần như ngay lập tức, những tác phẩm của albrecht được rất nhiều người nhắc đến, bởi chúng thậm chí còn đẹp hơn cả tác phẩm của các bậc thầy trong trường. Và cho đến khi tốt nghiệp thì albrecht đã bán được khá nhiều tranh và dành dụm được một khoản tiền.

Khi anh trở về, trong bữa ăn sum họp, albrecht đứng dậy để cảm ơn người anh trai đã hy sinh 4 năm giúp mình hoàn thành được ước mơ. Và albrecht nói:

- anh albert, bây giờ đã đến lượt anh. Anh hãy tới nuremberg để theo đuổi ước mơ của mình. Em sẽ lo toàn bộ chi phí và chăm sóc gia đình.

Albert mỉm cười, rồi bật khóc:

- không, anh không thể tới nuremberg được. đã quá muộn rồi. Bây giờ, sau 4 năm làm việc trong hầm mỏ, không còn ngón tay nào của anh là lành lặn. Thậm chí bây giờ anh còn bị thấp khớp ở tay phải nặng tới mức không thể nâng nổi một chiếc ly, nói gì đến việc cầm cọ vẽ. Cảm ơn em, nhưng bây giờ đã quá muộn rồi...

Hơn 450 năm đã qua. Cho tới bây giờ, hàng trăm bức chân dung, tranh màu nước, tranh than chì, tranh khắc gỗ và khắc đồng... Của albrecht durer đã được treo ở những viện bảo tàng lớn nhất thế giới. Nhưng có một điều kỳ lạ: Có thể bạn, cũng như nhiều người, đều chỉ quen thuộc với một tác phẩm của albrecht durer. đó là một ngày, để tỏ lòng kính trọng và biết ơn anh trai albert, albrecht durer đã thực hiện một tác phẩm cẩn thận nhất trong đời: Vẽ lại đôi bàn tay của anh trai mình, với lòng bàn tay hướng vào nhau và những ngón tay gầy guộc hướng lên trời. ông chỉ gọi bức tranh của mình đơn giản là "đôi tay", nhưng cả thế giới đều đặt tên cho kiệt tác đó là "đôi tay cầu nguyện".



nếu có lúc nào bạn nhìn vào bức tranh cảm động đó, hãy nhìn lại lần thứ hai. Nó sẽ nói với bạn rằng, không có ai, chắc chắn không có ai, có thể thành công một mình bao giờ!

acaxomcui
13-05-2010, 07:08
Bàn tay đẹp vì đôi tay nầy đã làm nên một thiên tài!

lennel
13-05-2010, 19:25
Tác giả: Marius Kriatkovski
Dịch giả :Vũ Đình Bình


I.

Ông kế toán trưởng đến chơi nhà bạn bè và làm quen được với một cô gái trẻ trung xinh đẹp. "Kể ra mình đáng tuổi bố cô ta ấy chứ! - Ông tự tranh cãi với bản thân – Nhưng nhất định cô ta phải là vợ mình ".

Nói thật lòng, có khi ông còn ngang tuổi với ông nội ông ngoại của cô gái là khác. Do vậy ông càng sung sướng, khi trong buổi gặp gỡ riêng đầu tiên - nhân dịp này ông có tặng cô một chiếc nhẫn lớn có gắn kim cương - ông đã nhận thấy cả cô gái cũng không hề lãnh đạm với ông.

Chẳng bao lâu, họ chung sống với nhau. Ông kế toán trưởng làm việc nhiều hơn và hầu như ngày nào đi làm về cũng mang theo một thứ gì đó.

Ông đem về khi thì một chiếc ô tô nhãn hiệu “DKV – Junior”, khi thì một chiếc áo măng tô lông rái cá, khi thì một chuỗi hạt kim cương, khi thì một món đồ trang sức nhỏ.

- Tiền làm ngoài giờ của anh đấy! - Ông tuyên bố – Vì em, em yêu, anh luôn cố gắng.

Cô gái mừng rỡ như một đứa trẻ:

- Nhưng anh phải giữ gìn sức khỏe nhé! - Cô nói và áp chặt chiếc áo lông rái cá vào ngực -Tại vì em rất yêu anh, yêu anh lắm lắm!

Cô sắc cho ông uống các thứ thuốc thảo dược và đôi lúc trìu mến gọi ông là “bố”. Cứ thế, họ sống êm ả và hạnh phúc cho tới khi ông kế toán trưởng dốc các khoản tiền tiết kiệm kếch sù ra xây một tòa biệt thự tuyệt đẹp có vườn cây và bể bơi.

Vào một ngày không vui, gần tối vẫn không thấy ông về mà lại xuất hiện mấy viên cảnh sát. Họ niêm phong cả ô tô, cả áo măng tô lông, cả các thứ khác.

- Ông ta đã tham ô hơn một trăm triệu - Họ thông báo vắn tắt.

- Trời! - Cô gái đang yêu tội nghiệp bật khóc - Thế mà tôi chẳng nhận thấy gì cả!

Chả là tình yêu mù quáng mà lại.



ooooooooooooo


II

. Người đàn ông mà tôi sắp kể với các bạn đây có cô vợ rất xinh đẹp. Và rất yêu chồng.

Cô yêu chồng mãnh liệt tới mức dù ở đâu, dù đi đâu, cô cũng chỉ toàn nói về chồng.

Ngay cả khi hoàn toàn tình cờ quen biết với Nikodem (đáng lẽ đi taxi, cô lại lên chiếc xe “Fiat – 1100” của anh chàng này) cô vợ yêu chồng tha thiết ấy cũng luôn luôn nói về chồng.

- Anh chở tôi đi đâu thế này?! – Bỗng cô kêu lên – Tôi ở đầu đằng kia của thành phố cơ mà. Dudus chồng tôi sẽ lo lắng đấy. Anh ấy bao giờ cũng sốt ruột bồn chồn nếu tôi về muộn. Chà, giá mà anh biết tôi yêu Dudus đến mức nào và anh ấy dễ thương đến mức nào!…

Sau đó, khi đến nhà Nikodem để xem qua bộ sưu tập các tẩu thuốc của anh ta, cô nói:

- Không biết Dudus của tôi bây giờ đang làm gì nhỉ? Chắc anh ấy chờ đợi tôi lắm và lo lắng lắm. Chà Nikodem, nếu anh biết em yêu Dudus của em đến mức nào! Anh ấy tuyệt diệu lắm cơ.

Vài tuần sau, cô nói với Nikodem ở trong toa ngủ trên tàu hỏa:

- Chắc hẳn Dudus đã bắt đầu nhớ em rồi đấy. Dudus yêu quý! Này, Nikodem, anh thậm chí không thể hiểu nổi em yêu anh ấy đến mức nào đâu!…

Đoàn tàu chở họ chạy mỗi lúc một nhanh đưa họ vượt biên giới trong chuyến đi ra nước ngoài.

Chả là tình yêu không có giới hạn nào hết, không có biên giới nào hết mà lại.

.......................




III .


Nữ nhân vật thứ ba của tôi cũng trẻ trung, xinh đẹp và rất yêu chồng. Ngày tháng của cô trôi đi êm ả và hạnh phúc.

Cô ngủ rất ngon (thường là đến tận giữa trưa), sau đó cô đến quán cà phê hoặc hiệu thời trang tóc, rồi cô đi dạo. Khi chồng đi làm về, cô ríu rít trò chuyện và âu yếm vuốt ve chồng mãi.

- Hôm nay anh mua gì cho em đấy? Anh có nhớ tới cô vợ bé bỏng của anh không?

Anh không bao giờ quên cô. Họ yêu nhau thắm thiết.

Một ngày nọ, anh bị đuổi việc. Thoạt tiên, anh buộc phải bán xe ôtô. Nhưng anh bông đùa:

- Bây giờ anh sẽ ghi tên tham gia khóa học để trở thành hành khách xe bus và tàu điện…

Sau đó, anh không đem quà cáp về nữa. Và anh nói đùa:

- Anh yêu em, vợ yêu quý của anh, nhưng tình yêu của anh là tình yêu tinh thần…

Còn cô, cô rất đau khổ về tất cả những chuyện đó. Cô yêu anh mãnh liệt đến mức cô không muốn mình là gánh nặng cho anh.

“Anh yêu - cô nghĩ với một tình cảm dịu dàng – Em sẽ không chịu đựng nổi khi trông thấy anh dằn vặt khổ sở đâu. Anh Leshek có ô tô, có biệt thự, mỗi năm đi nghỉ ở nước ngoài một lần… Hãy để anh ấy phải chịu dằn vặt khổ sở”.

Và cô đến với Leshek.

Chả là tình yêu có thể khiến người ta sẵn sàng hy sinh những thứ cực kỳ lớn lao mà lại.

lennel
17-05-2010, 16:13
Em muốn làm một con chó

suutam
o0o



Một hôm, tôi đến thăm người bạn đang dạy học tại vùng núi xa xôi. Cuộc sống vùng núi rất gian khổ, nhưng các em bé ở đây rất hiểu biết và chăm chỉ học tập. Người bạn tôi vì thế được an ủi rất nhiều.

Tối đến, bạn tôi ngồi chấm bài. Không có việc gì làm, thuận tay rôi lấy một bài kiểm tra để trên bàn ra xem.
Đó là những bài kiểm tra tập làm văn. Đầu đề là “Nguyện vọng của em”.

Nguyện vọng của các em cũng giống như thời của chúng tôi: Muốn làm thầy, cô giáo, muốn làm giải phóng quân, làm nhà Khoa học…

Bỗng có một dòng chữ đập vào mắt tôi: “Nguyện vọng của em là làm một con chó”.
Ngạc nhiên và hiếu kỳ, tôi đọc tiếp:

” Bố đi xa rồi, ở nhà chỉ còn mẹ và em. Ở đây đêm rất tối, nghe người ta nói vào lúc đêm tối, thường có ma.

Em lại nghe nói, nhà nào có chó thì ma không dám vào, thế nhưng nhà em lại không có chó.

Nếu như em là một con chó thì tốt biết bao nhiêu,em có thể ngày đêm trông giữ nhà, mẹ em sẽ không phải sợ hãi nữa”...



....

lennel
18-05-2010, 14:36
Khách của thiên đường

Đây là một câu chuyện có thực đã xảy ra cách đây rất lâu rồi…Hôm đó, một tên lừa gạt đi tới một gia đình. Thấy trong nhà chỉ có một bà cụ già, hắn xin được vào ngồi trong nhà một lát.
Bà cụ hỏi:
- Ông từ đâu đến?
Tên lừa gạt trả lời:
- Tôi từ thiên đường tới, bây giờ đang chuẩn bị về.
Bà cụ tin là thật, liền hỏi:
- Ông từ thiên đường xuống, chắc là ông thấy ông chồng đáng thương của tôi. Ông ấy mất đã 10 năm mà tôi không hề nhận được tin tức gì, không biết hiện nay ông ấy thế nào?
Tên lừa gạt nói:
- Ồ, tôi đã được nghe câu chuyện của chồng cụ rồi, đáng tiếc hiện nay ông cụ vẫn chưa thể nào vào cửa thiên đường vì không có 100 đồng nộp tiền vào cửa nên cho đến giờ ông cụ vẫn còn đang phải chờ ở ngoài.
Nghe tên lừa gạt nói như vậy, bà cụ bỗng cất tiếng khóc:
- Ông chồng đáng thương của tôi ơi! Rồi nói tiếp:
- Này ông, xin mời ông ngồi nán một lúc, đợi con trai tôi về, tôi sẽ bàn với nó để nhờ ông mang giúp cho chồng tôi 100 đồng.
Tên lừa gạt không dám gặp người con trai, nên vội nói, công việc trên thiên đường rất nhiều phải về ngay:
- Nếu như chồng cụ không nộp ngay 100 đồng sẽ mất cơ hội tốt nhất để vào thiên đường, mà vẫn phải chờ đợi mãi mãi ở ngoài cửa.
Nghe vậy bà cụ hoảng hốt lo sợ, vội vào phòng trong lấy ra 100 đồng giao cho tên lừa gạt và nói:
- Nếu ông vội về thì không cần đợi con trai tôi nữa. Hãy cầm lấy số tiền này đưa giùm cho chồng tôi.
Tên lừa gạt nhận xong tiền, vội vàng ra đi.
Hắn đi được chưa lâu thì con trai bà cụ về. Sau khi nghe mẹ kể đầu đuôi câu chuyện, anh ta biết mẹ mình đã bị lừa, bèn nói:
- Mẹ ơi! Mẹ hồ đồ quá, làm sao có thể đưa tiền cho người không quen biết? Hắn đi về phía nào? Để con đuổi theo.
Bà cụ vội chỉ hướng. Người con trai vội nhảy lên mình ngựa, ra roi, ngựa chạy như bay.
Thấy có người đuổi phía sau, tên lừa gạt vội ngồi xuống bên đường giả vờ nghỉ. Thấy có người, con trai bà cụ vội dừng ngựa lại hỏi:
- Vừa có người chạy về phía này, ông có thấy hắn chạy tiếp về đâu không?
Tên lừa gạt vội chỉ vào một rừng rậm phía trước mặt, nói:
- Vừa có một người, vội vội vàng vàng chạy vào cánh rừng kia. Cánh rừng rậm rạp gai góc, thấy ngựa không đi được, nên người con trai bà cụ đề nghị tên lừa gạt trông hộ con ngựa một lúc. Hắn vui vẻ nhận lời ngay.
Thế là người con trai bà cụ, nhảy xuống ngựa, chạy bộ về phía rừng cây. Tên lừa gạt nhân cơ hội đó nhảy lên ngựa cao chạy xa bay. Con trai bà cụ từ cánh rừng trở ra với hai tay không, thấy tên lừa gạt đã đi xa, biết là mình cũng lại mắc mưu, anh đành lủi thủi ra về. Thấy con trai về nhà, bà cụ vội nói:
- Con có đuổi kịp người lạ mặt đó không? Người con trai phấn khởi nói:
- Đuổi kịp chứ! Ông ta đi bộ chậm quá, con đã đưa ngựa cho ông ta để ông ta nhanh chóng về thiên đường. Như thế là bố con sẽ được vào thiên đường sớm hơn một chút!

...

lennel
23-05-2010, 15:21
Có ba người sau khi chết đã được lên thiên đường, họ là thương nhân, nhà chính trị và quân nhân. Đúng vào lúc họ định bước qua cửa thiên đường thì một vị thiên sứ ra ngăn họ ở cửa:

- Thưa các vị, xin các vị trả lời ba vấn đề của thượng đế, sau khi trả lời xong, có thể nhận được và mang đi một cái hộp, trong đó có những cái quan trọng nhất muốn nói với các vị. Thương nhân đã mất kiên nhẫn từ lâu, ông ta là người đầu tiên bước ra.

Thiên sứ bắt đầu hỏi ông ta:” Đối với ngài, cái gì là quan trọng nhất?”.
Thương nhân không cần suy nghĩ, nói luôn :”Tiền!”.
- Tốt lắm, vấn đề thứ hai, hãy nói lý do?
- Đã có tiền, muốn gì được nấy!
- Vấn đề thứ ba, nếu phải vứt bỏ nó ngài có vui lòng không?
Thương nhân cười nói:”Trừ việc mua vé vào cửa thiên đường ra, tôi quyết không vứt bỏ điều đó!”.
Thiên sứ lấy ra một cái hộp và nói:” Đây là cái ngài muốn, ngài có thể vào”.
Thương nhân mở hộp ra xem, thấy toàn là tiền, ông ta vui mừng đi qua cửa.
Thiên sứ than thở sau lưng:”Của cải do đồng tiền tạo ra chỉ có hạn thôi!”.
Thiên sứ hỏi nhà chính trị:”Bây giờ đến lượt ngài. Ngài hãy nói, cái gì quan trọng nhất đối với ngài?”.
- Tất nhiên là quyền lực – Nhà chính trị trả lời.
- Hãy nói lý do!
- Quyền lực có thể mang lại tất cả, bản thân quyền lực là hạnh phúc.
- Ngài có vui lòng vứt bỏ nó không?
- Vì sao phải vứt bỏ nó? Tôi sẽ không vứt bỏ nó.

Thiên sứ lấy ra một chiếc hộp nói:” Ngài có thể vào!”.
Nhà chính trị mở chiếc hộp thấy trong đó để một chiếc quyền trượng, không ngăn nổi nỗi vui mừng lộ ra trên nét mặt. Thiên sứ lại than thở:”Không phải lúc nào quyền lực cũng có hiệu lực!”.
Thiên sứ hỏi quân nhân:” Anh hãy nói cái gì quan trọng nhất?”.
- Trung thành và danh dự!
- Tại sao?
- Chẳng sao cả, không cần có lý do.
- Anh có vui lòng vứt bỏ nó không?
- Không, tôi không thể vứt bỏ chúng.
Thiên sứ thở dài hỏi:”Anh đã xa rời trần gian lên thiên đường, còn phải trung thành với ai nữa chứ?”.
Quân nhân không trả lời, nhưng ánh mắt anh ta lộ ra vẻ không hay biết gì cả. “Tâm linh anh trống rỗng, hãy vào đi, đây là cái hộp của anh” – Thiên sứ nói.
Quân nhân mở cái hộp ra, trong đó là các loại huân chương, anh ta đeo một số lên ngực rồi lặng lẽ đi vào. “Một con người đáng thương!”. – Đó là kết luận của thiên sứ.


Đúng lúc đó, một cô gái xinh đẹp chạy tới và muốn qua cửa. Thiên sứ ngăn cô ta lại:”Thưa cô, tôi nghĩ, chí ít cô cần trả lời vấn đề tôi nêu, để lấy được chiếc hộp đựng cái mà cô muốn nhất, rồi hãy vào.”
Cô gái nhìn thiên sứ bằng một con mắt khinh thường nói:”Tôi không cần, bởi vì bản thân tôi đã là cái quan trọng nhất”.

The Old Man
24-05-2010, 00:54
Thế là cô gái được cho vào cái hộp nhỏ và củng được vào thiên đường.
Có điều là trong thiên đường không ai biết cái hộp tí xíu đó lưu lạc phương trời nào vì nó quá bé nhỏ và tầm thường.

huongct
24-05-2010, 11:31
Đúng lúc đó, một cô gái xinh đẹp chạy tới và muốn qua cửa. Thiên sứ ngăn cô ta lại:”Thưa cô, tôi nghĩ, chí ít cô cần trả lời vấn đề tôi nêu, để lấy được chiếc hộp đựng cái mà cô muốn nhất, rồi hãy vào.”
Cô gái nhìn thiên sứ bằng một con mắt khinh thường nói:”Tôi không cần, bởi vì bản thân tôi đã là cái quan trọng nhất”.




Tui thấy người viết bài này đã có nhận thức sai lệch về một triết lý sống. Cụ thể cái câu "bản thân tôi là quan trọng nhất" không phải hiểu theo kiểu chợ búa như vậy, mà ý nghĩa chính xác của nó là đỉnh điểm của tinh thần trách nhiệm. Vì đối với một người sống có trách nhiệm, họ rất quý trọng bản thân, họ không muốn vì bản thân không tốt mà ảnh hưởng đến người khác. Do đó họ luôn luôn hoàn thiện mình, họ xem trọng bản thân mình cũng là muốn bản thân có thể mang lại những điều tốt đẹp cho mọi người. Do đó "bản thân tôi là quan trọng nhất" theo quan điểm này là rất đúng đắn và cao thượng ! lol

cu em
24-05-2010, 11:50
Do đó "bản thân tôi là quan trọng nhất" theo quan điểm này là rất đúng đắn và cao thượng ! lol

Lão đang khen cu em đó hở? :rolleyes:

huongct
24-05-2010, 12:18
Lão đang khen cu em đó hở? :rolleyes:


Em đang xem lại nội quy diễn đàn, xem coi có cái quy định "khen không đúng đối tượng sẽ bị ban" hay không ? lol

cu em
24-05-2010, 12:24
Nếu có ý khen tôi cũng không sao. Có điều hơi thừa một chút :D
Nói chung là .... dư! :yes:

thaychuastudio
24-05-2010, 19:09
Nếu có ý khen tôi cũng không sao. Có điều hơi thừa một chút :D
Nói chung là .... dư! :yes:

mắc cái chứng tự sướng kinh niên. May đâu chỉ có mụ Bạch Nga mới trị cho lão được. Haizzzz thương Cu em quá!!! :bored:

lennel
28-05-2010, 21:07
Sáng 26/5, tại lễ tri ân và trưởng thành ở Trường THPT Nguyễn Trãi, tỉnh Hải Dương, một học sinh chuyên Toán đã đọc bức thư gửi mẹ làm nhiều thầy cô rơi nước mắt.



Dưới đây là nội dung bức thư:

Gửi mẹ thân yêu!

Vậy là phượng lại bắt đầu đỏ, bằng lăng lại bắt đầu tím, một mùa hè nữa lại đang đến – mùa hè thứ 12, cũng là mùa hè cuối cùng trong đời học sinh của con.

Thời gian trôi thật nhanh, nhanh đến mức con cũng chẳng kịp nhìn lại quãng đường mình đã đi qua.

Chỉ đến bây giờ, khi đã ở cuối một chặng đường, con mới ngoảnh đầu lại, để rồi nhận ra mình đã đi được xa đến thế nào, mình đã trưởng thành ra sao. Và điều đặc biệt nhất, con đã nhận ra, đó là luôn có một ánh mắt dõi theo từng bước đi của con, luôn có một bàn tay sẵn sàng nâng con đứng lên mỗi khi vấp ngã.

Con nhận ra rằng mẹ luôn ở bên con, kể cả khi con không ở bên mẹ. Ba năm học xa nhà, cứ ngỡ là con đã thoát khỏi sự “quản lý” của mẹ, nhưng ngẫm lại, mẹ chỉ trở nên vô hình trên con đường của con mà thôi. Vô hình, nhưng mẹ vẫn ở đó, vẫn cùng con bước đi, và sẵn sàng xuất hiện bất cứ lúc nào con cần mẹ.

Mẹ khéo léo và âm thầm giúp đỡ con, để con có thể cảm thấy mình đã tự lập hơn, trưởng thành hơn, nhưng con vẫn ở trong “vòng kiểm soát” của mẹ. “Vòng kiểm soát” đó, đối với con, đó là sự che chở, bảo vệ, và hơn hết là sự yêu thương vô bờ bến mẹ dành cho con.

Ba năm học xa nhà, con không ở nhà nhiều, không được nói chuyện với mẹ nhiều. Có những điều khó nói nên lời mà con chưa đủ can đảm để nói với mẹ. Mẹ biết, dân tự nhiên vẫn được gắn cái mác khô khan mà! Con chỉ đủ can đảm để viết lá thư này gửi đến mẹ, để mẹ biết rằng con biết ơn mẹ vô cùng, con yêu mẹ vô cùng.


Xa nhà, mẹ biết con nhớ gì nhất không? Con nhớ nhất đôi mắt của mẹ. Mắt con giống mắt mẹ, nên mỗi lần nhìn vào gương, con lại hình dung ra đôi mắt của mẹ. Nhưng mắt mẹ đẹp hơn mắt con nhiều. Mắt con có thêm đôi kính rồi, mắt mẹ vẫn sáng và trong. Con có thể tưởng tượng được đôi mắt ấy tràn ngập niềm hân hoan đến thế nào khi con cất tiếng khóc chào đời.

Và con cũng biết rằng, kể từ giây phút đó, đôi mắt ấy lại phải gánh vác thêm một trách nhiệm nặng nề, đó là trông nom cho con. Con biết lắm chứ, con nhớ lắm chứ.

Ánh mắt đấy là sự khích lệ khi con chập chững bước những bước đi đầu tiên về phía mẹ.

Ánh mắt đấy là sự vui sướng khi con cất tiếng gọi mẹ đầu tiên.

Ánh mắt đấy là sự hãnh diện khi con bắt đầu cắp sách đến trường, mặc trên mình bộ quần áo mới mẹ tự tay may cho con, hay khi nhìn con khoác trên mình bộ đồng phục học sinh Nguyễn Trãi.

Ánh mắt đấy là sự tự hào khi con mang về những điểm 10 đầu tiên, hay khi con hớn hở khoe mình đã đạt giải tỉnh, giải quốc gia.

Ánh mắt đấy là sự trìu mến, khi con lon ton chạy ra đón mẹ đi làm về, hay khi nhìn con ngồi xe ô tô 30 km từ trường trở về với mẹ.

Ánh mắt đấy là sự khoan dung khi con làm vỡ cái bát mẹ mới mua, hay khi con ngồi một mình ở cửa không dám vào nhà vì bài kiểm tra 3 điểm ở trong cặp.

Ánh mắt đấy là sự xót xa khi thấy con bị ngã ngay trước cửa nhà, hay khi nhìn con chong đèn đến 2 giờ sáng để ôn thi. Con nhớ những ánh mắt đấy lắm!

Nhưng mẹ biết không, điều mà con nhớ hơn tất cả, đó lại là những giọt nước mắt của mẹ, những giọt nước mắt chảy vì con. Chỉ một lần thôi, nhưng đủ để con nhớ và ân hận.

Con đi học xa nhà, sa đà vào trò chơi điện tử. Mẹ biết được, và mẹ đã khóc. Con chắc lúc đấy mẹ phải sốc lắm, bởi ở cấp 2 con ngoan là thế cơ mà. Vậy mà bây giờ, con lại thành thế này đây...

Con ngồi lặng yên chịu trận cơn thịnh nộ của bố, nhưng con bàng hoàng khi nhìn thấy những giọt nước mắt lăn trên má mẹ. Lúc đấy, con cũng sốc, bởi con chưa nhìn thấy mẹ khóc bao giờ.

Con chợt nhận ra rằng, mình đã phụ lòng của bố mẹ. Con tỉnh ngộ vào lúc gần như quá muộn: Bố định chuyển trường cho con về huyện. Nhưng tấm lòng vị tha của mẹ đã đem đến cho con một cơ hội chuộc lại lỗi lầm.

Hình ảnh những giọt nước mắt của mẹ ám ảnh con, đủ sức lôi kéo con ra khỏi sự cám dỗ. Con tìm được đam mê ở môn Tin thay vì những trò chơi vô bổ. Những giọt nước mắt của mẹ đã làm con trưởng thành hơn rất nhiều và có được ngày hôm nay.

Con biết ơn những giọt nước mắt đấy lắm, con tự hứa sẽ không bao giờ làm cho nước mắt của mẹ phải phung phí như vậy nữa. Con chỉ muốn được nhìn thấy mẹ rơi nước mắt vì hạnh phúc và vui sướng, đó là điều con sẽ luôn cố gắng từ bây giờ cho đến cả mai sau.
Bức thư rơi lệ trong lễ trưởng thành

Góc phượng, sân trường... từng rất thân quen với học sinh lớp 12, giờ thành xa xôi.

Dạo này về nhà, con thấy đôi mắt mẹ mỏi mệt hơn, nhiều khi còn bị đỏ, khoé mắt có nhiều vết chân chim hơn rồi. Suốt ngần ấy năm rồi đôi mắt này đâu có được nghỉ ngơi nhiều, và có lẽ sau này vẫn vậy.

Em con đã vào lớp 1 rồi. Một vòng quay 12 năm nữa lại bắt đầu với đôi mắt của mẹ. Lại những sớm tinh mơ mẹ thức dậy lo bữa ăn cho cả nhà, chuẩn bị quần áo rồi đưa con đến trường. Lại những ngày mẹ vất vả với chuyện cơ quan. Lại những buổi chiều mẹ hối hả đón con về, rồi tất bật trong bếp với bữa cơm tối. Lại những buổi tối mẹ ngồi kèm con học, ánh mắt nghiêm khắc và cái thước lăm lăm trong tay, nhưng chẳng bao giờ dùng đến cả. Lại những đêm khuya khi con đã yên giấc ngủ, mẹ lại miệt mài bên những trang sổ sách.

Con vẫn nhớ một ngày của mẹ là thế, tuy rằng 3 năm rồi, con không được sống trong những ngày như vậy. Nhưng em con là em gái, hy vọng em sẽ làm tốt bổn phận làm người con hơn con, đỡ đần cho mẹ được nhiều hơn, để cho đôi mắt mẹ được nghỉ ngơi nhiều hơn, và đừng làm mẹ buồn rơi lệ như con đã từng gây ra.

Một ngày nào đó, con hy vọng sẽ chỉ thấy ở đôi mắt của mẹ những ánh nhìn vui tươi không còn chút lo toan khi nhìn thấy hai đứa con đã khôn lớn trưởng thành.

Con đang đứng ở cuối chặng đường học sinh. Cổng trường đại học đang dần hé mở trước mắt. Con tin chắc rằng đôi mắt của mẹ cũng đã thấy điều đó.

Cảm ơn mẹ đã dắt con đi qua những năm tháng tuổi ấu thơ, cảm ơn mẹ đã luôn ở bên con trong những năm tháng học trò, cảm ơn những giọt nước mắt của mẹ đã giúp con tìm lại chính mình. Có lẽ con đã đủ trưởng thành để tự mình bước tiếp. Mẹ hãy dõi theo con tiến lên mẹ nhé!

Tô Ngọc Linh(Lớp 12 Toán 1, Trường THPT chuyên Nguyễn Trãi, tỉnh Hải Dương)

lennel
18-06-2010, 11:57
dantri


Cô bé con đi về phòng ngủ của mình, kéo ra từ chỗ giấu bí mật sau tủ quần áo một chiếc hộp thủy tinh, dốc hộp cho ra hết số tiền bên trong rồi cặm cụi đếm. Cô đếm đến 3 lần vẫn chỉ một số ấy, không thể sai đi được.


Cẩn thận đặt những đồng xu trở lại chiếc hộp, vặn nắp cẩn thận, cô bé ra khỏi nhà bằng lối cửa sau, đi qua 6 dãy nhà nữa để đến một hiệu thuốc lớn.


Cô bé kiên nhẫn chờ đợi người dược sĩ để mắt tới mình, nhưng lúc đó ông ấy đang rất bận. Cô bé lại xoay chân để tạo ra những tiếng cọ xát dưới sàn. Vẫn không ăn thua. Cô bé làm bộ súc họng, cố tạo ra những âm thanh rất đỗi bất lịch sự. Vẫn chẳng ai bận tâm về điều đó. Cuối cùng, cô bé lấy ra một xu trong hộp, gõ keng keng trên bàn kính của quầy thanh toán. Đã có hiệu quả.



“Vậy cháu muốn gì?” - người dược sĩ cao giọng, đúng kiểu đang bị làm phiền. “Ta đang nói chuyện với anh trai mới từ Chicago về, rất lâu rồi ta chưa gặp anh ấy đấy” - dược sĩ tiếp lời mà chẳng cần nhận được câu trả lời của cô bé từ câu hỏi trước.


“Cháu xin được nói chuyện với ông về anh trai của cháu ạ”. Cô bé trả lời với giọng điệu “bị làm phiền” không kém. “Anh ấy ốm, ốm lắm… và cháu muốn mua cho anh ấy một phép màu”.

“Cháu nói sao cơ?” - dược sĩ hỏi.

“Anh cháu tên là Andrew và anh ấy bị cái gì rất xấu mọc lên trong đầu ấy. Bố cháu nói là chỉ có phép màu mới cứu được anh ấy lúc này thôi. Thế bao nhiêu tiền một phép màu ạ?”.


“Ở đây chúng ta không bán phép màu cô bé ạ. Ta xin lỗi không giúp gì được cho cháu cả” - dược sĩ trả lời, giọng điệu đã nhẹ nhàng hơn.



“Xin hãy nghe cháu, cháu có tiền trả mà. Nếu chưa đủ, cháu sẽ lấy thêm. Cứ nói cho cháu biết một phép màu bán bao nhiêu tiền”.


Anh trai của dược sĩ là một người đàn ông ăn mặc rất sang trọng. Lúc này ông ấy khom người xuống hỏi cô bé: “Thế anh cháu cần loại phép màu nào?”.

“Cháu không biết”, cô bé trả lời với đôi mắt chực khóc. “Cháu chỉ biết anh ấy rất ốm và mẹ nói anh ấy cần được phẫu thuật. Nhưng bố không có đủ tiền, nên cháu muốn dùng tiền của cháu…”
.

“Thế cháu có bao nhiêu?” - Người đàn ông đến từ Chicago hỏi.

“1 đô la và 11 xu ạ” - cô bé trả lời rành rọt. “Và đó là tất cả số tiền cháu có, nhưng cháu sẽ kiếm thêm nếu cần”.

“Ừm, thế là vừa duýt cháu ạ. 1 đô la 11 xu, đó chính xác là giá của một phép màu dành cho anh cháu đấy”.


Anh của dược sĩ một tay cầm tiền từ cô bé, tay kia nắm lấy bàn tay bé nhỏ của cô rồi nói: “Đưa ta đến chỗ cháu ở. Ta muốn xem anh của cháu thế nào và gặp bố mẹ cháu nữa. Để xem ta có loại phép màu cháu cần không”.



Người đàn ông ăn mặc sang trọng ấy chính là một tiến sĩ, bác sĩ phẫu thuật thần kinh. Cuộc phẫu thuật cho anh trai cô bé hoàn toàn miễn phí. Không lâu sau Andrew đã khỏe mạnh hơn và có thể về nhà. Bố mẹ đều rất vui, không ngớt lời kể về chuỗi sự việc dẫn họ đến niềm hạnh phúc ngày hôm nay.


“Cuộc phẫu thuật đó qủa là một phép màu” - mẹ cô bé thì thầm. “Em tự hỏi không biết nó đáng giá bao nhiêu…”.



Cô bé chỉ cười khi nghe bố mẹ nói chuyện. Cô biết chính xác một phép màu đáng giá bao nhiêu. 1 đô la 11 xu… cộng thêm niềm tin của một đứa trẻ.

vailandondua
18-06-2010, 12:21
Đây là một câu truyện "thần kì" :yes:

kiettt
21-06-2010, 13:00
Chuyện Bên Vỉa Hè Cuộc đời

Copy từ facebook của một người bạn. Hình như nguyên tác bằng tiếng Anh vì có một người trong group càu nhàu là bạn ấy không đủ tiếng Việt để hiểu câu chuyện, người post bèn paste lại nguyên tác cho bạn ấy đọc.


Tại một vỉa hè công cộng, cậu bé mù ngôi đó với chiếc mũ phía trước và một tấm bảng ghi:
“Tôi bị mù, xin mọi người hãy rũ lòng thương giúp đỡ!”.

Trong chiếc mũ của cậu bé lúc ấy chỉ có vài xu. Một người đàn ông đi ngang qua, đọc hàng chữ rồi móc ví lấy một vài đồng xu và bỏ vào chiếc mũ của câu bé. Sau đó ông cầm tấm bảng lên, chùi sạch và viết lại một dòng chữ khác. Viết xong ông lại đặt tấm bảng vào chỗ cũ nhưng hơi dịch tới phía trước một chút để mọi người đi ngang qua sẽ dễ dàng đọc được hàng chữ mới này.
Chẳng mấy chốc, chiếc mũ của cậu bé đầy tiền. Ai đi ngang qua cũng ghé lại cho tiền. Buổi chiều hôm đó người đàn ông kia trở lại. Cậu bé nhận ra những bước chân của ông, liền hỏi:
“ Có phải bác là người đã viết lại tấm bảng cho cháu sáng nay không? Bác đã viết gì thế?”

Người đàn ông trả lời:
“ Bác chỉ viết sự thật, bác chỉ viết lại những gì cháu đã viết, nhưng theo một cách khác”.

Theo bạn thì người đàn ông kia đã viết ra sao?

Ông ta viết:
“Hôm nay là một ngày thật đẹp, nhưng con không thể nhìn thấy được điều đó!”.

Theo bạn, nội dung của câu trước và câu sau có khác nhau hay không?
Tất nhiên cả hai câu đều muốn nói cho mọi người biết là cậu bé kia bị mù. Nhưng câu đầu tiên chỉ nói lên được sự thật là cậu bé kia bị mù và mong được giúp đỡ. Còn câu thứ hai đã nói cho mọi người thấy rằng họ rất may mắn khi còn nhìn thấy được trời xanh, mây trắng và cuộc sống hôm nay thật đẹp. Và dòng chữ thứ hai đã mang lại hiệu quả cao hơn.

Bài học từ câu chuyện:
Kiettt: xin phép được cắt bỏ đoạn này để tự các bạn cảm nhận.

lennel
12-09-2010, 13:58
http://dantri.vcmedia.vn/Uploaded/2010/09/11/fdb110910%20hy%20vong.jpg

- Danielle ngồi thở dài, thất vọng và mệt mỏi. Một ngày chẳng lấy gì làm vui vẻ. Cô chỉ còn lại 40 đôla trong ví.



Danielle phải tìm ngân hàng để rút tiền. Nhưng thành phố nơi cô đang sống không có ngân hàng địa phương mà cô có tài khoản, các ngân hàng khác lại chẳng nhiệt tình giúp đỡ. Sau hơn hai tuần cố gắng hết sức nhưng không được việc, với số tiền ít ỏi, làm sao cô có thể tiếp tục sống và nuôi hai đứa con?

Để thoát khỏi những ý nghĩ bi quan, Danielle quyết định tham dự cuộc gặp gỡ các chị em tại trung tâm phụ nữ địa phương. Những phụ nữ ở đó là nguồn động viên lớn đối với cô. Những suy nghĩ tiêu cực của cô biến mất hẳn khi cô vào ngồi trong phòng gặp gỡ họ.

“Xin chào tất cả mọi người,” một giọng vang lên, xóa tan những suy nghĩ của Danielle. Đó là chị trưởng nhóm. “ Có ai muốn phát biểu ý kiến không?”

Ngồi cạnh Danielle, Amy lên tiếng “Có tôi”. Amy bắt đầu chia sẻ cho mọi người về hoàn cảnh bất hạnh của mình. Cô đã gặp phải rắc rối nghiêm trọng, mất nhà, mất xe. Điện thoại và các dịch vụ điện cũng sắp sửa bị cắt. Chồng cô đã đốt sạch tiền vào cờ bạc. Có chút xíu tiền cô cố gắng dành dụm, anh đã nướng hết vào ma túy. Quan hệ của họ tồi tệ đến mức cô luôn sống trong cảm giác lo sợ về sự an toàn của mình. Số tiền ít ỏi giấu được chỉ giúp cô mua chút thức ăn cho con và tã lót cho đứa nhỏ mới sinh. Cô chẳng còn gì.

Lắng nghe Amy tâm sự, Danielle như nghe được cả tiếng thì thầm êm ái trong tim: “Sau buổi họp, hãy cho Amy hai mươi đôla nhé.”

- “Không được! Mình chỉ còn có 40 đô la thôi” - Danielle thầm đáp lại.

Giọng nói trong tim nhắc lạ lời xúi giục rõ ràng hơn. Danielle biết rằng cô không thể chối từ. Khi cuộc gặp gỡ kết thúc, cô rút hai mươi đô la từ trong ví ra và nhẹ nhàng đưa cho Amy.

Thoạt đầu Amy từ chối không nhận, nhưng khi đám đông ùa đến ôm Amy bày tỏ sự cảm thông, Danielle đã nói với cô rằng Chúa muốn Amy nhận món quà này. Rồi Danielle rời đi.

Khi Danielle mở cửa xe ô tô, cô nghe có ai đó gọi tên mình. Quay lại, Danielle thấy Amy đang tiến lại với đôi mắt ướt đẫm: “Làm sao chị biết được?”, dòng nước mắt chảy dài xuống má Amy khi cô đưa tay vào ví rút ra một lọ thuốc nhỏ màu hổ phách:

“Tôi đã dùng đến lọ cuối cùng vào ngày hôm qua”.

Cô chỉ vào mác lọ thuốc và nói: “ Tôi bị bệnh đái đường và phải sống phụ thuộc vào thuốc. Tôi cần dùng thuốc này hàng ngày. Tôi không biết mình sẽ làm gì được nữa…”.

Lại một dòng nước mắt lăn xuống má cô khi cô chỉ vào giá thuốc được in rõ trên mác lọ thuốc: 20 đô la.

Bất chợt Danielle như hồi tỉnh, cảm giác hy vọng và an tâm tràn ngập trong cô.

Với chỉ hai mươi đô la còn lại trong ví, Danielle quyết định chỉ cố gắng rút tiền tại một ngân hàng nữa trước khi về thẳng nhà. Dù nghĩ là sẽ lại nhận lệnh từ chối, nhưng cô vẫn tràn trề lòng tin. Mang theo niềm hy vọng, cô đi vào ngân hàng sát trung tâm phụ nữ. Ngạc nhiên thay, cô rút được tiền mà không bị hỏi bất cứ câu nào.

Trong tâm trạng vui tươi, phấn khởi, Danielle trở về nhà. Đối với Danielle, đã ba năm kể từ ngày hôm đó. Mặc dù biết rằng niềm hy vọng thực sự không có một giá nào cụ thể nhưng cô vẫn cảm ơn quãng đời lạc quan, tràn trề hi vọng tươi sáng mà cô đã nhận được với giá chỉ hai mươi đô la.

Thanh Thảo
Theo Beliefne

─»ÑgÔç─ÑØ─¹─»
12-09-2010, 14:14
mấy bài này thầy cho dịch nè, dịch sai tè le :(



nhưng mà mấy bài này ý nghĩa ghê :)

The Old Man
12-09-2010, 14:24
Một người bình thường cầm 1000 đồng VN cho một bà lảo ăn xin, hoặc cho một đứa bé tàn tật 500 đổng VN, hành động đó trước mắt thiên chúa sáng chói hào quang gấp mười lần cái vòng hào quang được tác giả đánh bóng và thổi phồng tròng vào đầu cô Danniel.
Tác giả chỉ ảo tưởng đặt vòng vinh quang cho một việc cho là to tát vỉ đại hy sinh tột bực đễ phỉnh lừa những người có tâm hồn mơ mộng hảo huyền.

Lại đi tìm sao trên trời!!!!
Hảy thực tế và cầm 1000 DVN cho một người ăn xin đi.
Thay gì bỏ tới 20 đô đi tìm cô Amy nào đó hết tiền mua thuốc trị đái đường.

thaychuastudio
14-09-2010, 16:23
Già TOM biết không, lắm lúc con cho những người hành khất 1000, 5000, hay 10000. Là để lòng mình thành thản, hơn là nghĩ sẽ làm được việc thiện gì gì đấy... :(

huongct
15-09-2010, 10:30
Câu chuyện của Len post chưa đủ tầm để trở thành "bài học cuộc sống". Hoàn cảnh nhân vật chưa đủ để thông cảm, thậm chí tôi thấy họ còn thiếu nghị lực nữa kìa !.

sieunhanpig
14-10-2010, 19:26
Mình đọc được mấy trang bản thảo của một truyện của Quách Ni (Trung Quốc) của NXB Văn Việt, nghe tên hay phết “Couple 50”, muốn chia sẻ với mọi người.
http://i94.photobucket.com/albums/l109/lovisalwond390/VVB/couple_50.jpg
Truyện này đọc ngộ ngộ, buồn cười nhưng mà cũng lãng mạn phết. Truyện có ba nhân vật chính, mình đọc được tầm khoảng chục trang gì đấy, nội dung tạm thời mình hiểu có thể tóm tắt như sau:

Bối cảnh của truyện là ở trường đại học nơi nữ nhân vật chính – Bạch Tô Cơ (gọi là Cơ cho ngắn nhé =))) đang theo học. Cơ là một đứa con gái cá tính, phải nói là như con trai và chưa bao giờ chịu thua trong bất cứ cuộc thi nào. Mong muốn tột bậc của nhân vật nữ của chúng ta là làm thế nào tất cả các bạn trai và bạn gái vốn tự ti về bản thân có thể tìm được người yêu. Đấy chính là lí do Cơ lập nên Câu Lạc Bộ Tình Yêu (tên cute nhở?) và làm chủ tịch luôn, đây là nơi mọi người đến để mài dũa kĩ thuật cưa cẩm của mình, nói cách khác là làm thế nào để “Vạn người mê”…Bên cạnh Cơ thì lúc nào cũng có một anh chàng đẹp trai, tốt bụng, dịu dàng, dáng chuẩn =)) tên là Kỷ Minh giúp đỡ. Và cái phần mình đọc ý, thì có vẻ như anh này thích cô Cơ của chúng ta thật, nhưng mà thầm lặng theo đuổi thôi :((

Mọi chuyện đang suôn sẻ tốt đẹp thì có một anh chàng khác xuất hiện và thật sự trở thành khắc tinh của Bạch Tô Cơ. Nhưng khổ nỗi là anh này – tên là An Vũ Phong cũng đẹp trai giỏi giang, thêm cái nữa rất tự mãn và kiêu ngạo nên tuyên chiến với Cơ bằng cách thành lập một Câu Lạc Bộ khác cũng chiêu mộ và đào tạo các bạn trẻ có nhu cầu trở nên “quyến rũ” hơn. Anh này suốt ngày bắt nạt Cơ luôn, đủ trò, nhưng mà đọc đoạn hai người này cãi nhau thì chỉ có nước bò lăn ra mà cười thôi =))

Trời ơi, phần mình đọc thì chưa biết Bạch Tô Cơ sẽ yêu anh nào ý? Hình như là thích cả hai anh, huhu… :(( :(( :(( Nhưng còn an ủi một cái chục trang của mình (sẽ cố gắng post sớm) mới là phần giữa truyện nên chắc chắn còn nhiều phần hồi hộp, gay cấn :x



Nguồn này: http://vanvietbooks.vn/ :x :x :x

thaychuastudio
16-10-2010, 10:58
( Vì không " có quyền" post bài trong " Văn Tuyển Làng Mùi" nên Chep post vào đây - Nhờ " ai đó move giùm)



anh Chep: Văn Tuyển Làng Mùi là phần lớn do các Member Làng Mùi viết và bình luận.

lennel
16-10-2010, 20:10
.
Ðó là câu chuyện của Jimmy Durante, một diễn viên hài được mời tham gia một buổi trình diễn phục vụ những cựu chiến binh trong thế chiến thứ hai.

Ông báo với ban tổ chức rằng lịch diễn của mình rất khít nên chỉ có thể tham gia diễn trong vài phút.

Nhưng nếu họ cho phép, ông sẽ độc diễn một đoạn rồi đi ngay.

Dĩ nhiên là ban tổ chức đồng ý.



Nhưng khi Jimmy lên sân khấu, điều thú vị đã xảy ra.

Ðộc diễn xong ông vẫn đứng lại, tiếng hoan hô càng lúc càng lớn hơn và ông cứ đứng đấy trên sân khấu.





15, 20 phút rồi cả nửa tiếng. Cuối cùng ông cũng cúi đầu chào lần cuối và rời sân khấu.






Tại hậu trường, một người hỏi ông :

- Tôi ngỡ là ông sẽ đi sau vài phút, chuyện gì thế ?


Jimmy trả lời :


- Ðúng là tôi phải đi nhưng tôi sẽ chỉ cho anh thấy tại sao tôi lại ở lại. Hãy nhìn vào hàng ghế trước.


Ðó là 2 người đàn ông đều bị cụt mất một cánh tay.

Một người mất cánh tay mặt,

người còn lại mất cánh tay trái.


Cùng với nhau, họ mới có thể vỗ tay được và họ làm điều đó một cách hết sức nhiệt tình.


st

sieunhanpig
16-10-2010, 22:49
Mình post 1 chương của Couple 50 nhá, bạn nào muốn theo dõi tiếp thì yêu cầu,mình sẽ cố kiếm:">
Phù type mỏi hết cả tay :D Mấy hôm vừa rồi phải thi nên cuối tuần rảnh rỗi mới post được, mong các bạn ủng hộ nhiệt tình :x
“Couple 50”
- Tô Cơ, cậu lợi hại thật!
Ma Thu Thu nhìn tôi bằng ánh mắt ngưỡng mộ.
- Ha ha, Thu Thu, lẽ nào Hựu Tuệ không nói cho cậu biết sao? – Tôi chớp mắt nhìn Ma Thu Thu, - Bạch Tô Cơ là chuyên gia tình yêu đấy
- Chuyên gia tình yêu?
Ma Thu Thu kinh ngạc nhìn tôi như thể vừa nghe thấy một từ nước ngoài, hoàn toàn không thể hiểu nổi, chau mày suy nghĩ!
- Ha ha ha, chuyên gia tình yêu có nghĩa là dạy cho các cô gái biết cách làm thế nào để có đủ tự tin để đánh bại đám đàn ông thối tha.

Chính vào lúc tôi đang đắc ý thì bỗng dưng phía trước có một cơn gió nóng thổi tới! Ngay sau đó hình như vang tới những tiếng xôn xao như sóng thủy triều.
Tiếng huyên náo từ đằng xa vọng lại trong phút chốc đã che lấp tiếng tán dương kinh ngạc của đám con trai, khiến những tiếng nói đó như lọt vào hố sâu không đáy.
Tôi bực bội quay đầu lại, thấy có cả đám nữ sinh nhưu thủy triều trào lên , người đi trước, kẻ đi sau lao về phía tôi! Bọn họ đều giơ cao hai tay, ngẩng cao đầu, trông như con vịt đang chờ được cho mồi.
Chỉ trong giây lát, những “kẻ sùng bái” tôi dường như không còn sức lực gì nữa, bị đám con gái đẩy dạt sang một bên.
Ngay sau đó, đám con gái nhanh chóng xếp thành hai hàng chỉnh tề như duyệt binh.

Sau đó, mỗi người đều lấy ra một lá cờ nhỏ màu đỏ từ trong túi, căng lên thàng một tấm băng rôn chữ lớn màu vàng chói mắt:
Nhiệt liệt chào mừng điện hạ An Vũ Phong vô địch vũ trụ
An Vũ Phong?
Cái tên này thật quen mắt, nhưng tôi không thể nhớ ra là mình đã nhìn thấy nó ở đâu.
Nhưng ngọn lửa giận dữ trong lòng tôi lại bốc lên….
Gã An Vũ Phong này không biết có mấy cái đầu mà dám khiến cho quá nửa nữ sinh trường Tinh Hoa ra đón gã?
Điều khiến tôi đau lòng hơn là đám nữ sinh này cũng thật chẳng ra làm sao! Không phân biệt được địch ta đã cổ vũ chí khí cho quân địch, tự hạ thấp uy phong của mình!
- Giờ An thiếu gia vẫn chưa tới, chúng ta tranh thủ tập trước một lượt!
Một cô gái lấy một cái loa, lớn tiếng ra lệnh.
- Các bạn các bạn! Một, hai, ba, chuẩn bị… Bắt đầu!
Tiếng nói rõ ràng và có hiệu lực ngay lập tức vang lên khắp không gian của ngôi trường Đại học Tinh Hoa.
Hai hàng nữa sinh đều đồng loạt giơ lá cờ hồng trong tay mình lên, rồi giống như cây lúa bị gió thổi, người khẽ lắc lư rồi bắt đầu nhảy tại chỗ!
- Tùng tùng tùng…Vũ Phong Vũ Phong. Đế vương chi phong.
- Tùng tùng tùng…Vũ Phong Vũ Phong. Ai dám tranh cùng!
Cuối cùng một tiếng hét chói tai vang lên:
Thiên hạ vô địch An Vũ Phong, điên đảo say mê bao nhiêu người! A a a…A a a… An thiếu gia tới rồi!
Đám chim sẻ đang nghỉ ngơi trên ấy cái cây bên đường bị đám nữ sinh này làm cho hoảng sợ, vụt bay tán loạn.
Trong giây lát khi đàn chim hoảng sợ bay đi, tầm mắt trước mặt tôi cũng trở nên rõ ràng hơn trước rất nhiều. Ở giữa con đường rộng lớn, một bong người to lớn nho nhã bước đi…
Mái tóc đen dài khẽ bay trong gió, cặp môi mỏng ngạo mạn hơi nhếch lên, nước da trắng hồng khiến con gái cũng phải ghen tị…Còn nữa! Cả ánh mắt quyến rũ mà cho dù có hóa thành tro tôi cũng nhận ra!
- Á…
Hắn, hắn, hắn chính là An Vũ Phong!
Hehehe, còn nhiều phần hồi hộp lắm ;)) Đón xem đón xem!

đồng đồng
17-10-2010, 22:28
Tản văn:Chuyện của tương lai



Vũ Ngọc Hạnh Dung



Một ngày nào đó trong tương lai, khi những nếp nhăn bắt đầu xô nhau để

tìm chỗ đứng nơi khóe mắt, khi mái tóc chuyển dần sang màu khói xám, tựa

như bầu trời trước cơn dông, tôi lúc đó - đang sống một cuộc sống rất khác

với bây giờ.




Đồng hồ đã phải quay rất nhiều vòng. Mỗi tích tắc lại đẩy hiện tại lùi

về thành quá khứ. Có những thứ sẽ nhạt nhòa dần, nhường chỗ cho cái mới.


Bị thay thế và quên lãng. Cũng có những thứ không rơi vào quy luật đó.

Giống như loài sinh vật ngủ đông, nó chỉ cuộn mình lại, yên lành trong

giấc ngủ của một mùa đông kéo dài hơn cả một đời người.



Nếu lúc đó tôi gặp anh thì sao? Nếu lúc đó bỗng dưng tôi gặp lại anh

thì sao? Thì sao nhỉ?

Anh khi ấy không còn trẻ nữa. Thời gian khiến tóc anh điểm bạc.

Nét tếu táo được thay thế bởi vẻ điềm tĩnh và từng trải. Nhưng đôi mắt thì

vẫn thế. Ấm áp, xuyên thấu lòng người.

Có lẽ tôi sẽ nhìn anh sững mấy giây, hoặc hơn. Có lẽ tôi sẽ hụt hẫng vì

những nét quen thuộc khi xưa đã bị lấy đi gần hết. Rồi kỷ niệm, như ngọn

thủy triều hung hãn, bỗng phá vỡ cái đập nước mà bấy lâu tôi dày công gia

cố, ào ạt dội vào thực tại. Trong khoảnh khắc, tôi bỗng muốn quên mất mình

là ai, để chạy đến ôm anh thật chặt, từ phía sau, lắng nghe hơi ấm cùng mùi

nước hoa năm ấy.

Không phải tôi khao khát anh, mà là khao khát những ký ức, những hoài

niệm, những rung cảm của một thời yêu hoang dại, những thứ chẳng bao giờ

lặp lại trong đời.

Rồi lý trí sẽ ghì chặt lấy tôi, giáng vài cái bạt tai cho tôi tỉnh lại.

Ánh sáng tươi đẹp của ngày hôm qua chỉ khiến loài sinh vật ngủ đông trong

tôi cựa mình mà không thức giấc, đủ để tôi biết rằng nó vẫn ở đó, hiện diện

đầy sống động. Tôi sẽ chỉ mỉm cười chào anh thật nhẹ, như hai người bạn

thân không gặp lâu ngày.




Nhưng đấy là chuyện của một - ngày - trong - tương - lai.


Giả như, tương lai ấy được diễn ra vào chính lúc này đây, khi tôi gõ những

dòng chữ này.. Thì sao nhỉ ?

Biết đâu... Mọi thứ cũng chẳng có gì là khác???

lennel
28-10-2010, 20:22
- Có một người đàn ông già ốm yếu chuyển đến sống cùng với người con trai,

con dâu và một cháu trai bốn tuổi.


Ông đã quá già nên bàn tay ông run run, mắt thì mờ và những bước đi loạng

choạng.



Một hôm cả nhà cùng nhau ăn bữa tối nhưng bàn tay người cha già run rẩy nên

rất khó khăn trong việc ăn uống, ông đã làm rơi vãi thức ăn xuống sàn.

Khi ông cố cầm lấy chiếc cốc thì sữa lại sóng sánh ra khăn trải bàn.

Người con trai và người con dâu bắt đầu trở nên khó chịu với tình trạng bừa

bộn của ông.


Người con trai bèn nói với vợ: “Chúng ta phải làm cái gì đó cho cha, tôi

chịu đựng quá đủ những thứ như sữa tràn ra ngoài, tiếng loảng xoảng trong

ăn uống và thức ăn rơi xuống sàn rồi”.

Thế rồi vợ chồng người con liền để một chiếc bàn nhỏ ở góc nhà.

Vậy là từ đó người cha già ăn một mình ở chiếc bàn nhỏ trong khi cả nhà vui

vẻ bên chiếc bàn lớn.


Ông lại làm vỡ chiếc đĩa của mình mấy lần và người con lại chuyển cho ông

sang chiếc bát gỗ để đựng thức ăn.

Họ chỉ nhìn lướt qua ông rồi lại vui vẻ trò chuyện với nhau, mặc cho những

giọt nước mắt ứ đọng trong đôi mắt người cha khi ông ngồi ăn một mình.

Thỉnh thoảng họ lại càu nhàu khiển trách ông mỗi lần ông làm rơi thìa hay

thức ăn ra ngoài.

Chỉ riêng đứa con trai bốn tuổi của họ thì im lặng theo dõi tất cả.

Vào một buổi tối trước bữa ăn, người cha chú ý đứa con nhỏ của mình đang

nghịch những mảnh gỗ trên sàn.

Anh ta ấu yếm hỏi đứa trẻ: “ Con đang làm gì vậy?”.

Đứa trẻ mỉm cười trả lời:

“Con đang làm những chiếc bát gỗ nhỏ để cha mẹ

đựng thức ăn khi sau này con lớn”.

Đứa trẻ tiếp tục mỉm cười nhìn cha rồi nhanh chóng quay trở lại công việc

dở dang của nó.

Câu trả lời của đứa trẻ khiến bố mẹ nó sững sờ.

Nước mắt bắt đầu lăn trên má họ.

Mặc dù không có một lời nào được thốt ra nhưng họ biết họ cần phải làm gì.

Bữa tối hôm đó người chồng cầm lấy bàn tay của ông cụ và dịu dàng dắt ông

ra bàn ăn cùng mọi người.

Từ đó người cha già lại bắt đầu cùng ngồi ăn với con cái và đứa cháu nhỏ.

Vợ chồng người con cũng không còn để ý đến những chuyện như chiếc thìa bị

rơi, sữa đổ ra ngoài hay chiếc khăn trải bàn bị bẩn nữa.



st

đồng đồng
29-10-2010, 21:27
Bài giảng của danh nhân





Đemosten là một triết gia cổ Hy Lạp, có tài hùng biện.

Một hôm, đang giảng bài, thấy học trò lơ đãng, ông bèn kể một câu chuyện

như sau:

“Một người kia phải đi qua sa mạc.

Người ấy vào chợ, đến chỗ mướn lừa. Hắn mướn một con lừa,

trả tiền trước và giao hẹn với kẻ cho thuê:

-Tôi mướn lừa của anh, anh dắt lừa, tôi ngồi trên lưng lừa qua sa mạc.

Đường xa, trưa, càng nắng.

Người cưỡi lừa bị nóng bức, chịu hết nổi.

Giữa sa mạc, chỉ có một bóng mát duy nhất là bóng con lừa.

Hắn bèn nhảy xuống, núp bóng lừa mà đi.

Gã cho mướn lừa thấy vậy, liền dừng lại, không đi nữa.

Người mướn lừa hỏi: - Sao không đi tiếp?

Gã kia đáp: - Phải trả thêm tiền.

- Tiền gì?

- Tiền thuê bóng con lừa.

Vì ông chỉ mướn con lừa, chớ ông có trả tiền mướn cái bóng của nó đâu.

Anh mướn lừa giận quá, đang tìm chữ xứng đáng để nói với đứa cho mướn lừa…”

Nghe nói, cả lớp xôn xao chờ đợi.

Đemosten mới nói:

- Thưa các bạn, cái chính là bài tôi giảng thì các bạn chả chú ý,

lại đi chú ý đến câu chuyện cù lần của thằng cho mướn lừa!



” St “

lennel
15-03-2011, 12:36
Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm



Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), huý là Văn Đạt, tự Hanh Phủ, người làng Trình Tuyền (Trung An), huyện Lĩnh Lại, tỉnh Hải Dương xưa, nay thuộc huyện Vĩnh Bảo, ngoại thành Hải Phòng.

Nguyễn Bỉnh Khiêm là học trò của bảng nhãn Lương Đắc Bằng. Vì tình hình đất nước lúc bấy giờ không ổn định, nên mãi đến năm Giáp Ngọ, khi đã bốn mươi ba tuổi ông mới đi thi hương và đỗ ngay giải nguyên.

Sau đó đỗ hội nguyên rồi đỗ trạng nguyên năm thi Ất Mùi, niên hiệu Đại chính thứ sáu (1535), đời Mạc Thái Tông.

Ông làm quan Đông các hiệu thư, Lại bộ Tả Thị Lang, kiêm Đông các đại học, tước Trình Tuyên hầu. Làm quan cho nhà Mạc được tám năm, thấy gian thần hoành hành, ông đã dâng sớ vạch tội và xin chém đầu mười tám tên lộng thần. Vua không nghe, ông liền trả áo mũ, xin về quê, dựng am dạy học. Học trò ông có nhiều người nổi tiếng như Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Dữ...

Trong khi ở ẩn, Vua Mạc cũng như các chúa Trịnh, Nguyễn có việc hệ trọng vẫn cho người đến hỏi ý ông. Ông thường kín đáo khuyên Vua cố gắng tránh chiến tranh để nhân dân khỏi chết chóc.

Lúc mất, ông được Vua Mạc truy phong tước Trình Quốc công, do đó mà có tên gọi là Trạng Trình. Ông mất ngày 28 tháng 11 năm Đinh dậu, niên hiệu Diên Thành thứ 8 nhà Mạc (1585), tròn 94 tuổi.


..........


Người đàn bà nuôi chí lớn



Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh ra từ một cuộc hôn nhân không bình thường, và phần chủ động thuộc về mẹ ông, Nhữ Thị Thục, người đất Tiên Minh, làng An Tử hạ. Ngoại của Nguyễn Bỉnh Khiêm là Nhữ Văn Lan, một người thông minh khác thường từ tấm bé,

khi lớn lên đã làm rạng rỡ dòng họ và quê hương với bảng vàng tiến sĩ, khoa thi năm Quí mùi, niên hiệu Quang Thuận, đời Lê Thánh Tông, được nhà Vua tin dùng, phong chức Thượng thư bộ Hộ.

Theo người ta kể lại thì bà Nhữ Thị Thục là bậc nữ lưu phong vận tài hoa vào bậc nhất chốn kinh kỳ thời bấy giờ.

Điều khó hiểu là suốt thời kỳ con gái, theo cha, với những cuộc giao thiệp hết sức rộng rãi mà địa vị người cha cho phép, bà vẫn hoàn toàn thờ ơ với tất cả, từ ông trạng, ông nghè, ông tổng.

Có lẽ trong quan niệm riêng của bà thì tất cả những tài năng của những con người ấy chỉ đủ để thi đỗ làm quan, phục tùng vua. Tuổi trẻ bà trôi qua với những cuộc giao du sơn thuỷ.


Thế rồi chỉ một lần gặp gỡ với ông đồ nhà quê tên Nguyễn Văn Định bà đã tự nguyện gá nghĩa. Bà Thục rất tinh thông thuật số, bà đến với ông Định chỉ vì nhận thấy ở ông có tướng sinh quý tử.

Từ nhỏ, bà đã nuôi chí lớn: chồng bà phải là Vua, hoặc sinh con ra làm Vua.

Bà cũng đoán trước, ngay từ thời nhà Lê còn cực thịnh, bước đường suy vong của triều Lê chẳng còn bao xa.

Nhưng rồi thực tế dường như đã không đáp ứng được mong muốn của bà, "quý tử" của bà sau này danh vọng lắm chỉ đỗ trạng nguyên là cùng.

Vì vậy, giữa hai vợ chồng thường xảy ra xích mích.



Lần nọ, bà Nhữ Thị Thục đi chợ, ông Văn Định ở nhà trông con. Ông buộc dây vào cành tre, kéo lên, kéo xuống cho con chơi và nói:

- Nguyệt treo cung, nguyệt treo cung!

Tưởng con không biết gì, chẳng ngờ Văn Đạt (tên lúc nhỏ của Bỉnh Khiêm) nói:

- Vịn tay tiên, nhè nhẹ rung.

Khi bà Thục về, Văn Định khoe chuyện ấy bảo là con trai họ thông minh. Không dè, bà Thục nói:

- Nguyệt tượng trưng cho bầy tôi! Nuôi con mong thành Vua, thành Chúa, chứ thành bầy tôi thì nói làm gì.

Lần khác, biết vợ thường soạn những câu ca để dạy con và ghi lại trong sách, khi vợ đi vắng. Văn Định lấy sách của vợ tìm một câu để dạy con, thấy câu:

"Bống bống, bang bang, ngày sau con lớn, con tựa ngai vàng"

Văn Định hoảng sợ, cho là ý kiến phản nghịch, có thể bị tội chém đầu, bèn chữa chữ "tựa" thành "vịn".

Bà Thục về đến, biết chuyện này bực lắm.

- Sinh con ra, mong con làm vua thiên hạ. Nay thầy nó dạy con làm tôi, chán quá! Rất tiếc thân này là phận gái.


Vì nhiều quan niệm bất đồng, bà Thục đã bỏ nhà ra đi, không bao giờ trở lại với chồng và con, cho cả đến khi nhắm mắt cũng vậy.






Tương truyền khi còn sống với Văn Định, có lần bà Thục ra Đồ Sơn, gặp một người dân chài, oai vệ, cao to, sắc sảo, vừa thi trúng võ cử, sắp đi làm lính túc vệ, bà giật mình than rằng:

Người này mới thật là người mà ta mong ước

- Tiếc thay khi đó bà đã là gái có chồng.


Người ấy, sau này cướp ngôi nhà Lê, lên làm Vua, mở đầu cho triều Mạc (1527), Mạc Đăng Dung.



Có truyền thuyết cho rằng, sau khi bỏ đi, bà Thục đã bước thêm bước nữa, ít lâu sau sinh hạ ông Phùng Khắc Khoan.

Về sau Phùng Khắc Khoan theo học Nguyễn Bỉnh Khiêm, được ông coi như em ruột.
Như vậy, tuy bà Thục có hai người con đều đỗ đạt và đều nổi tiếng, nhưng dù sao thì bà cũng không đạt được cái chí lớn lao của mình.




...





Số chỉ làm Trạng



Nguyễn Bỉnh Khiêm thông minh lạ thường. Đầy thôi nôi đã biết nói, lên bốn được mẹ dạy cho học thuộc lòng các bài chính nghĩa của kinh, truyện cùng với mười bài thơ Nôm.

Tương truyền một hôm, bà Thục đưa Nguyễn Bỉnh Khiêm về quê ngoại thăm gia đình, dọc đường gặp một thầy tướng số Trung Hoa.

Thấy Bỉnh Khiêm có tướng mạo lạ thường, ông bèn nói:

- Đứa trẻ này về sau có thể làm tới ngôi vương.

Nhưng rồi sau khi xem kỹ lại, ông than:

- Da khô quá, thật là đáng tiếc! Cùng lắm chỉ là trạng nguyên mà thôi.

Tuy thất vọng, nhưng bà Thục vẫn không thôi nuôi chí lớn.
Bà hi vọng "nhân định thắng thiên", bà mong rằng với âm trạch của tiền nhân, quyết sau này con bà phải ở ngôi thiên tử, để lại tiếng thơm cho muôn thế hệ mai sau.

Nhưng rồi thực tế đã không đáp ứng được mong mỏi của bà.

Đứa con mà bà xem là "quý tử" ấy đã không theo kịp mẫu người lý tưởng mà bà hằng tìm kiếm.
Bà xem như cuộc đời mình đã bỏ đi. Và đường công danh của Nguyễn Bình Khiêm sau này như thầy tướng số Trung Hoa dự đoán: Số ông chỉ làm trạng nguyên.


...

Thái Ất Thần Kinh



Thấy con học giỏi hơn người, cha mẹ Nguyễn Bỉnh Khiêm quyết định cho con theo học quan Bảng nhãn Lương Đức Bằng, người làng Hội Trào, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hoá.

Nguyễn Bỉnh Khiêm học rất giỏi lại nổi tiếng về văn thơ.

Một hôm, cụ Lương Đức Bằng ốm, biết rằng mình không sống lâu được nữa bèn gọi Nguyễn Bỉnh Khiêm lại, chỉ cho ông một cái tráp nhỏ, đặt ở đầu giường, rồi bảo:

- Con hãy mang tráp đến đây, rồi mở ra lấy một bộ sách mà ta đã gói kỹ vào để sẵn trong ấy.

Nguyễn Bỉnh Khiêm vâng lời, làm theo ý thầy. Cụ Bằng lại bảo tiếp:

- Thầy cho con quyển sách này, vì thầy nghĩ chỉ có con mới có thể hiểu nổi, nhưng con phải hứa với thầy là phải giữ gìn sách cẩn thận.

Quyển sách này liên quan đến một việc khá li kỳ, thầy sẽ kể con nghe. Lần trước, khi thầy đi sứ qua Tàu, lúc trở về nước, có một cụ khách già trao cho thầy quyển sách.
Thầy tưởng cho thầy nhưng sau đó, cụ ấy lại nói: "Ta không cho ngươi, ta chỉ nhờ người đem về giao lại cho một người An Nam".
Thầy rất ngạc nhiên khi không nghe cụ già ấy nói đến tên họ người mà cụ muốn gửi gắm.
Cụ già liền xua tay: "Không cần. Chừng nào trong tâm linh nhà ngươi muốn cho ai thì người ấy sẽ được phần".
Nói xong, ông cụ ấy bỏ đi mất, chừng đó, thầy mới hiểu ông ấy là một dị nhân.
Nay, thầy giao quyển sách này lại cho con, ấy là con có phần.



Nghe lời thầy, Nguyễn Bỉnh Khiêm mang sách về nhà, mở ra đọc.
Cảm thấy không lĩnh hội được gì mấy, ông bèn mang sách cất đi, thỉnh thoảng lại lấy ra đọc, đọc xong rồi lại cất, cứ như thế mãi.

Cho tới một hôm, có một người khách đến cho Nguyễn Bỉnh Khiêm một bài thơ. Ông giở ra xem thì thấy ngụ ý của bài thơ có phần liên hệ với những câu trong bộ sách của thầy Bằng trao, mà ông đã cất công sức đọc nhiều lần nhưng không sao thông được.

Bộ sách ấy chính là bộ Thái Ất Thần Kinh mà thầy Bằng để lại cho người học trò cừ khôi của mình.

Nhờ quyển sách này mà về sau Nguyễn Bỉnh Khiêm tinh thông số học, tinh thông mọi sự đời, đoán được thế cuộc, nổi tiếng văn hay.



.....

Lấy tử vi cho cái quạt



Vào một ngày mùa hạ, bà trạng đi chợ mua về cho cụ trạng Nguyễn Bỉnh Khiêm một cây quạt giấy.

Trạng tính ngày giờ, rồi lấy cho cây quạt một lá số tử vi.

Trạng đoán ra cái ngày chết. Việc làm ấy, trạng bí mật không cho ai hay. Trạng lại nghĩ:

- Nếu để dùng lâu ngày nó sẽ rách hoặc thất lạc đi, như vậy "cái ngày chết" của nó ắt sẽ xảy ra và xảy ra rất bình thường.

Nếu đúng như nó có số thật, không ai có thể ngăn cản được, thì sao ta chẳng mang cất nó đi, để xem tới ngày ấy, nó có chết thật hay không?

Nghĩ thế, nên trạng Trình niêm phong ngay cây quạt rồi treo nó lên chỗ kín đáo nhất.
Tới ngày, cây quạt vẫn còn nguyên.
Hôm đó, suốt từ sáng tới chiều, trạng Trình cứ ở nhà, quanh quẩn ở nơi để quạt, xem nó chết ra sao.
Thỉnh thoảng trạng lại ngắm nghía và lấy tay phủi những hạt bụi bám xung quanh.

Vừa lúc ấy, có khách đến mời trạng sang ăn giỗ, ông từ chối không đi, cho rằng trạng giận việc gì nên đánh tiếng nhờ bà trạng.

Từ sáng, thấy cử chỉ kỳ dị của chồng, bà trạng đã chướng mắt lắm rồi, nên khi được khách cậy nhờ, bà liền đốc thúc trạng:

- Ông ở nhà làm gì, người ta nghĩ tình nên sang mời, mà ông nỡ từ chối. Tôi mua quạt về cho ông dùng, chớ đâu phải để ông mang cất đi, rồi cứ ra vào mà phủi bụi cho nó như đầy tớ thế.

Vừa nói, bà trạng vừa giật lấy cây quạt xé nát tan ra từng mảnh vụn. Thấy vậy, trạng cười nói:

- Ra là thế. Cuối cùng thì ta đã biết được nó chết thế nào.

Rồi mặc cho bà trạng đứng ngẩn người ra không hiểu, trạng khăn áo chỉnh tề đi sang nhà người khách lúc sáng để ăn giỗ.


.....

Ngựa đá qua sông



Dòng sông Thái Bình hiền hoà, bình lặng, chiếc đò ngang nho nhỏ vẫn cần mẫn đi về, nối liền đôi bờ.

Bên này là đất Vĩnh Lại, nơi quê hương của trạng, một vùng đất hiếu học và trọng khoa cử. Nhưng học thì rất nhiều mà đỗ đạt thì lại ít, chẳng mấy ai làm nên những sự nghiệp lớn lao. Có thể xem vùng đất này:

"Tuấn kiệt như sao buổi sớm
Nhân tài như lá mùa thu"

(Bình Ngô Đại Cáo - Nguyễn Trãi)

Dân miền Vĩnh Lại ấm ức vô cùng, họ tìm đến hỏi trạng cho ra nhẽ, song trạng không trả lời gì khác hơn ngoài câu:

- Thiên cơ bất khả lậu!

Dân chúng thầm bất mãn, cho rằng trạng thâm hiểm, nhỏ mọn, biết mà không nói để bản thân riêng hưởng.

Nghe tin ấy, trạng rất phiền lòng nhưng rồi thông cảm cho sự nôn nóng, sốt ruột của dân làng, trạng lại bỏ qua.

Sau đó, trạng bèn làm một con ngựa, trạng còn cho thợ khắc hai câu thơ bằng chữ nho:

"Hà thời thạch mã độ giang
Thử thời Vĩnh Lại nghinh ngang công hầu".

Tạm dịch như sau:

"Bao giờ ngựa đá sang sông
Thì dân Vĩnh Lại quận công cả làng"

Ngựa vừa dựng lên, dân làng rủ nhau đến xem rất đông…

Kể từ đó, ngày lại ngày, họ cứ chờ đợi, mong ngóng, có người tin tưởng tương lai xán lạn không xa,

nhưng cũng có người lại cho rằng trạng nói thế chỉ để trấn an dân làng, chứ làm gì có chuyện ngựa đá biết đi, nói chi đến việc lội sang sông được mà hòng những chức như quận công, đô đốc.


Nhưng rồi người dân Vĩnh Lại đã thoả nguyện, ngày lại ngày, dòng sông cuộn chảy mang theo phù sa bên lở, bên bồi.

Con sống Vĩnh Lại lở thêm để bồi sang bên kia, đến cuối đời Hậu Lê thì con ngựa đá đã sang sông thật. người thì vui mừng, người thì hối tiếc vì đã trách nhầm trạng, song ai nấy đều hy vọng một cuộc đời hiển hách.


Uy tín trạng ngày càng cao hơn và đồn đi khắp nơi, đây đâu cũng rôm rả chuyện con ngựa đá ở bờ sông Vĩnh Lại.

Trai làng thì lên mặt, con gái các nơi đổ xô đến tìm nơi để làm dâu, mong sau ngày trở thành bà đô đốc hay bà quận công.


Giữa lúc ấy, trong Nam lại xảy ra cuộc chiến tranh giữa Tây Sơn và chúa Nguyễn.
Tây Sơn thắng trận, rồi thừa thắng đem binh ra diệt luôn chúa Trịnh ở Bắc, trả quyền cho nhà Lê.
Vua nhà Lê từ đó thoát khỏi nạn chúa Trịnh chuyên quyền, nhưng sau khi vua Hiển Tông mất, vua Chiêu Thống lên ngôi, dòng dõi của Trịnh lại trở về.

Vua Lê phải triệu Hữu Chỉnh ở Nghệ An ra giúp.
Chỉnh đem binh ra đánh đuổi và dẹp tan đám con cháu của chúa Trịnh còn sót lại.
Nhưng Chỉnh lại chuyên quyền, ra mặt chống với Tây Sơn, Nguyễn Huệ thấy vậy, sai Nhậm đánh Chỉnh.
Chỉnh đem vua Lê chạy trốn. Nửa đường Chỉnh bị Nhậm bắt, vua thì thoát nhưng phải giả dạng thường dân mang theo ân tín mà chạy.

Tứớng Tây Sơn đuổi theo, nhà vua phải qua sông Vĩnh Lại và ở lại làng này.

Việc vua đến lưu trú, lại thêm chuyện "ngựa đá qua sông" dân làng cho rằng đây là ý trời để làng Vĩnh Lại được oai danh hiển hách, mới rước vua về đình rồi thảo hịch chiêu mộ quân sĩ để chống Tây Sơn, sẵn có ấn tín của vua, hết người này đến người khác bức vua phong tước.

Thế cùng, lực kiệt, nhà vua đành nghe theo, vậy là chỉ trong mấy ngày dân Vĩnh Lại đều thành quan này, quan nọ cả.

Phong tước xong, nhà vua từ giã để chạy sang làng khác.

Hay tin dân làng Vĩnh Lại phò Lê chống Tây Sơn, Vũ Văn Nhậm đem quân vây đánh, dân làng chống cự không lại, lớp bị giết, lớp bị bắt thật thảm thương.

......




Hoành sơn nhất đái



Sau khi nhà Lê bị Mạc Đăng Dung chiếm ngôi, con của một vị tướng triều Lê tên là NH Dụ trốn sang Lào, được vua Lào cho nương náu ở xứ Cẩm Châu, trấn Nam Phủ, tỉnh Thanh Hoá.

Năm Quý Tỵ (1532) Nguyễn Kim lập con út vua Chiêu Tông lên làm vua, gọi là Trang Tông.

Để mưu đồ đại sự, Nguyễn Kim thu nạp một kiện tướng ở tỉnh Thanh Hoá tên là Trịnh Kiểm, sau là rể của Nguyễn Kim.

Năm Canh Tý (1540), Nguyễn Kim đem quân đánh chiếm Nghệ An và thu phục luôn cả Thanh Hoá. Nhưng bỗng dưng Nguyễn Kim chết vì ngộ độc (1545), mọi bình quyền về tay Trịnh Kiểm.

Việt Nam lúc bấy giờ bị chia đôi: từ Sơn Nam trở ra thuộc nhà Mạc, gọi là Bắc Triều.
Từ Thanh Hoá trở vào là khu vực của nhà Lê hay gọi là Nam Triều.


Nguyễn Kim mất, để lại hai người con trai là Nguyễn Uông và NH, cả hai tuy còn ít tuổi nhưng đã bộc lộ tài năng xuất sắc hơn người.

Trịnh Kiểm không khỏi lo sợ cả hai sau này có thể tranh giành địa vị với mình, nên đã ngấm ngầm ngăn trở, và vì thế Nguyễn Uông chỉ mắc một lỗi nhỏ,

Trịnh Kiểm cũng buộc Nguyễn Uông phải chịu phép gia hình.

NH thấy anh bị hại, sợ đến lượt mình, liền cử người kín đáo lên hỏi Trạng Trình.
Trạng không trả lời cụ thể, chỉ đứng ngắm đàn kiến bò trên hòn non bộ trước sân nhà và thốt lên một câu:

“Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”

Tạm dịch nghĩa:

“Hoành sơn một dãy, dung thân ngàn đời”

Từ câu nói đó, NH nghiệm ra rằng trạng Trình đã bày cho kế đi vào phương Nam lập nghiệp.
NH vội vàng đến nói riêng với bà chị, lựa lời cho ông vào trấn đất Thuận Hoá, phía Nam dãy Hoành Sơn.

Nhờ thế mà lập nên cơ nghiệp của họ Nguyễn ở Đàng Trong, truyền nối lâu dài.

Khi cơ đồ của nhà Nguyễn trở nên vững vàng, NH có cho người mang lễ vật đến tạ Trạng Trình, nhưng Trạng đã cương quyết khước từ.

....





Lê tồn, Trịnh tại - Lê bại, Trịnh vong


Nhà Lê Trung Hưng dùng căn cứ ở Thanh Hoá tiến mạnh ra kinh đô.

Tuy nhiên các phe phái Lê - Mạc, Trịnh - Nguyễn vẫn hằm hè, đấu trí, đấu sức nhau, mưu sự thịnh vượng cho mình.

Nhiều danh sĩ lại phân vân, cân nhắc chẳng biết nên theo Lê, hay ở lại với Mạc. Trong số ấy có Phùng Khắc Khoan, mãi không chọn được hướng đi để tồn tại và phát huy hết khả năng của mình, Phùng Khắc Khoan đã tìm đến Am Bạch Vân để vấn kế Trạng Trình.

Chuyện kể rằng, khi nghe Phùng Khắc Khoan hỏi han đến sự thể,

Trạng Trình không hề bảo cho Phùng Khắc Khoan là nên định hướng thế nào, dù họ đã có cả buổi ngồi đàm đạo, ăn cơm, uống rượu.

Phùng Khắc Khoan không khỏi băn khoăn, trằn trọc mãi đến gần sáng mới chợp mắt được, vừa lúc ấy Trạng Trình đến đập cửa và nói vọng vào:

- Gà đã gáy rồi, sao không dậy, còn ngủ gì nữa?

Ông Khoan giật mình thức giấc, ông ngầm hiểu ý của Trạng Trình là đã đến lúc phải vào Thanh Hoá với nhà Lê.
Phùng Khắc Khoan vội vàng bật dậy, sắp đặt hành lý rồi đến chào từ biệt Trạng Trình.

Trạng vẫn không nói gì, chờ tới lúc Phùng Khắc Khoan quay gót,
Trạng liền cuốn một chiếu ngắn ném theo.
Nghe tiếng chiếu rơi phịch cạnh chân mình, Phùng Khắc Khoan càng thêm hiểu ý của Trạng:
“Phải hành động nhanh như cuốn chiếu, chứ đừng chần chờ gì nữa”.

Quả nhiên vào Thanh Hoá, Phùng Khắc Khoan nhanh chóng được trọng dụng và được Thái sư Trịnh Kiểm tin tưởng, việc gì quan trọng cũng hỏi ý kiến.

Khi Lê Trung Tông mất, Trịnh muốn nhân dịp này để nhà Trịnh thay hẳn nhà Lê, vì thực chất nhà vua chỉ là hư vị, mọi công lao trung hưng và quyền bính đều ở trong tay họ Trịnh cả.
Trịnh Kiểm hỏi ý, Phùng Khắc Khoan lúng túng không biết trả lời thế nào, liền bí mật phái sứ giả ra Hải Dương hỏi ý kiến Trạng Trình.

Người được cử đi về kể lại:

- Quan Trạng không bảo ban gì cả. Ngài cũng không có thư hồi đáp.

Phùng Khắc Khoan gặng tới:

- Thế ông được quan Trạng tiếp đãi ra sao? Và những câu quan Trạng nói ông còn nhớ kỹ không?

Người được cử đi lắc đầu:

- Dạ, ngài Trạng tiếp đãi rất chu đáo. Nhưng ngoài những câu giao tế bình thường, ngài chẳng nói gì hết.
Chỉ trong lúc nhấp chén trà với tôi, quan Trạng có bảo người nhà một câu không ăn nhập gì vào câu chuyện cả!

- Là câu gì thế? Phùng Khắc Khoan thắc mắc.

Người đàn ông đáp sau một thoáng ngẫm nghĩ:

- Quan ngài bảo: “Năm nay thóc giống không tốt, chúng bay nên tìm thóc cũ mà gieo mạ”.

Phùng Khắc Khoan mừng rỡ bảo:

- Đó chính là lời Trạng nói với chúng ta đấy. Đâu, ông cố nhớ lại ngài Trạng còn nói gì thêm không?

- Dạ nếu thế thì có chuyện này. Vừa cạn tuần trà xong, ngài Trạng đứng lên, xin ra chùa thắp hương.
Tôi giữ lễ, xin phép đi theo, đến cửa chùa, nhà sư ra đón. Trạng bảo nhà sư: “Giữ chùa, thờ Phật thì được ăn oản”.

Phùng Khắc Khoan gật đầu, rồi vội vàng đội khăn, mặc áo vào gặp Trịnh Kiểm, thuật lại từng lời nói, từng cử chỉ của Trạng Trình.

Kiểm hiểu ngay ý Trạng Trình dặn: Phải tôn Lê thì mới hưởng phúc lâu dài.

Và sau đó, Kiểm cho tìm người cháu của ông Lê Trừ, là anh ruột vua Lê Thái Tổ, tên là Lê Duy Bang ở làng Bố Vệ, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá đem về phò lên ngôi, tức là Lê Anh Tông.

Về sau, con cháu chúa Trịnh cũng đã nhiều lần muốn chiếm ngôi nhà Lê, nhưng cụ Trạng Trình đều khuyên khéo:

"Lê tồn, Trịnh tại; Lê bại, Trịnh vong"

Tuy nhà Lê suy nhược, nhưng Lê còn thì Trịnh mới đứng vững được.

Lời sấm của Trạng Trình không sai, khi vua Lê Chiêu Thống để mất ngai vàng thì dòng Trịnh cũng chẳng còn ai xưng chúa nữa.


....

Giỏi ứng xử thoát cửa tử




Một ngày kia, Trạng Trình được Vua triệu vào để giao cho chức Hình bộ tả thị lang.

Thì ra Trạng đã được Vua tin dùng trong việc thi hành đường lối khoan hậu trong hình ngục.

Vua tỏ ra hết sức phẫn nộ đối với lề thói hà khắc của giới hình quan từ thời Uy Mục đến giờ.

Sự tín nhiệm của Vua đã đem lại cho Trạng Trình những nỗi vui ít buồn nhiều, bởi tất cả dường đã trở thành cái nếp khó di dời hoặc lay chuyển. Phân xử, bắt bớ, tra khảo để hạch sách tiền của, chẳng phép nước luật Vua gì cả.

Điều đáng nói là chính bọn hữu ty và cả viên Thượng thư bộ hình luôn tỏ ra nghi ngại hoặc không tán thành, hoặc né tránh. Họ quan tâm đến cái ghế của họ hơn là quyền lợi của người dân, vô hình trung Trạng đã trở thành người đối đầu với họ.

Chẳng bao lâu, Trạng lại được thăng chức Lại bộ tả thị lang, kiêm Đông các đại học sĩ, được tham gia giảng sách ở toà Kinh Diên cùng dạy học cho Thái tử.

Thái tử Mạc Phúc Hải tuy còn trẻ tuổi nhưng rất thông minh và biết nghe lẽ phải, nhưng bản chất có phần mềm yếu, thiếu quyết đoán, ưa phỉnh nịnh.

Lợi dụng điều ấy, bọn quan lại sâu dân mọt nước đã đưa Thái tử vào quỹ đạo của chúng và họ xem Trạng như là chướng ngại vật cần phải dọn sạch, việc đầu tiên là chúng tìm cách ly gián, gièm pha Thái tử và thầy mình.

Đúng dịp, hôm ấy Trạng phụ trách buổi giảng sách, đề giảng chỉ là một câu trong sách Luận ngữ:

Vị quân nan, vị thần bất dị
(Làm Vua khó, làm tôi không dễ)

Bài giảng liên quan đến đường lối làm Vua của Thái tử, vì vậy đã khêu gợi sự chú ý của bọn nịnh thần, chúng chuẩn bị cả một kế hoạch để Trạng tự chuốc tai vạ cho mình.

Trạng đã đoán trước nên vẫn đặt cho mình ở một tư thế sẵn sàng, điềm tĩnh và tự tin.

Quả nhiên, theo kế hoạch của chúng, Thái tử khơi mào:

- Thế nào là "làm tôi không dễ"?

Trạng Trình từ tốn:

- Tâu điện hạ, nếu chỉ biết nhắm mắt phục tùng để hưởng lợi về mình, dùng mưu mô xiểm nịnh để đưa Vua vào con đường lỗi đạo và muôn dân phải gánh phần tai họa thì không khó.

Còn như nếu hết lòng vì nước mà hiến mưu cao, chước lạ, đem lời trung chính mà can ngăn Vua thì không những nghĩa vụ của mình sẽ được làm tròn mà còn phúc lây đến trăm họ.

Được như thế dễ có mấy người. Làm tôi như vậy thật không dễ.

Những cặp mắt hằn thù đều hướng cả vào Trạng. Thái tử lại đặt tiếp vấn đề:

- Thế còn "làm Vua khó"?

Trạng chậm rãi:

- Tâu điện hạ, thật đúng như thế.

Thái tử ra chiều khó chịu:

- Hoàng tổ ta, hoàng khảo ta đã dầy công xây dựng, biến nguy thành an, đổi loạn làm trị, để lại cho ta một cơ đồ vững chãi như thế này, há phải làm Vua cũng khó ư?

Một nỗi căm phẫn trào lên trong lòng Trạng.
Đây đúng là luận điệu của bọn nịnh thần vừa mới mớm lời cho Thái tử.

Song Trạng đã kịp thời trấn tĩnh, bởi vì, lúc này chỉ cần một cử chỉ, một lời nói vụng về, một hành động thiếu cân nhắc thì ông sẽ rơi vào bẫy của bọn tiểu nhân nham hiểm ngay.

Nghĩ thế nên Trạng nói thật ôn tồn.

- Tâu điện hạ, đúng như lời điện hạ phán.
Ngày nay ân trạch của triều đình đã thấm nhuần đến mọi hang cùng xóm vắng, khiến nơi nơi yên ấm.
Hiện tại chính là lúc ngồi hưởng phúc. Tuy nhiên kẻ ngu thần này vẫn thường nghĩ đến như Nghiêu, Thuấn xưa mà vẫn nơm nớp lo sợ trong nước còn một người dân đói khổ, bị oan khuất.

- Nhà ngươi có vì ta mà hiến kế không?

- Tâu điện hạ, tiếng nhân đức của điện hạ ai ai trên đất nước này mà không biết, kẻ hèn này đâu dám tâu xằng.
Nhân buổi giảng sách hôm nay, thần chỉ dám mạo muội dâng lên điện hạ một câu: "Như bão xích tử, lâm thành cầu chi, tuy bất trúng, bất viễn hỹ. Vị hữu học dưỡng tử nhi hậu giá giả dã".
Hạ thần chỉ mong điện hạ yêu dân như con, như thế thì lẽ nào không hiểu được lòng dân mà đề ra liệu pháp trị nước, cần gì đến kẻ này.

Vậy là nhờ tài ứng xử, biện bác,
Trạng đã thoát khỏi trong đường tơ kẽ tóc, lại còn khiến Thái tử đã chịu nghĩ lại nhiều sau buổi giảng này.

Chẳng những thế, Trạng và một số giảng quan khác còn được Thái tử lưu lại ban trà.



nguồn: www.vanhoaphuongdong.com

lennel
16-03-2011, 15:14
“Văn như Siêu Quát vô Tiền Hán,
Thi đáo Tùng Tuy thất Thịnh Đường”


文如超适無前漢
詩到從綏失盛唐

Hai câu thơ sau đây không biết xuất hiện từ hồi nào và do ai sáng tác

- có thuyết cho là của vua Tự Đức nhằm suy tôn văn tài của bốn nhân vật nổi tiếng một thời ở Huế đã đi vào lịch sử dân tộc cũng như lịch sử văn học:





Cao Bá Quát, cuộc đời và tác phẩm


Cao Bá Quát là một bậc tài tử. Sinh vào khoảng những năm đầu thế kỷ XIX, quán làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh.
Tự Mẫn Hiên, hiệu Chu Thần, tư chất thông minh nhưng tính rất kiêu ngạo. Thường nói: “Thiên hạ có bốn bồ chữ, mình tôi chiếm hai bồ, anh tôi Bá Đạt và bạn tôi Nguyễn Siêu giữ một bồ, còn một bồ phân phát cho các kẻ khác”.

Năm 24 tuổi, họ Cao không may phải táng thê. Ông làm bài văn khóc vợ như sau đáng danh tài tử:


嗚呼
女不幸而為才子婦
男不幸而為紅顏夫
爾今二十有一一朝千古
我今二十有四四海九州
噫紅顏薄分才子無緣
惟我與爾有是夫


Phiên âm:


Ô hô!
Nữ bất hạnh nhi vi tài tử phụ,
Nam bất hạnh nhi vi hồng nhan phu,
Nhĩ kim nhị thập hữu nhất, nhất triêu thiên cổ ;
Ngã kim nhị thập hữu tứ, tứ hải cửu chu.
Y ! Hồng nhan bạc phận, tài tử vô duyên, duy ngã dữ nhĩ hữu thị phù!


Dịch nghĩa:


Than ôí!
Gái không may mới làm vợ kẻ tài tử,
Trai không may mới làm chồng khách hồng nhan.
Mình nay hai mươi mốt, một sớm thình lình thiên cổ,
Ta nay hai mươi bốn, bốn bể trôi nổi chín châu . . .
Hỡi ôi! Hồng nhan bạc phận, tài tử vô duyên, chỉ có mình với ta như vậy ru? (2)



Văn chương tỏ khí phách ngang tàng và không chịu đi vào khuôn sáo.

Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) đậu Á nguyên kỳ thi Hương ở Hà Nội, nhưng sau bị đánh xuống hàng cuối bảng.

Năm sau vào Kinh thi Hội, rớt, rồi rớt liền trong mấy khoa sau.

Cao Bá Quát sinh chán nản, phẩn uất, bỏ khoa cử, đi ngao du rày đây mai đó, lại hay dùng lời thơ trào phúng để mỉa mai những việc dọc đường.


Năm Thiệu Trị thứ nhất (1841), họ Cao được quan tỉnh Bắc Ninh tiến cử, được vời vào Kinh lãnh chức Hành tẩu bộ Lễ.

Trong khi giữ trách nhiệm một vị sơ khảo ở trường thi Thừa Thiên, ông lấy muội đèn sửa giúp mấy quyển thi phạm húy.

Việc phát giác, bị cách chức và phát phối vào Đà Nẵng. Hai năm sau nhân có phái bộ Đào Trí Phú đi công cán sang Tân-Gia-Ba, ông được cho đi theo để chuộc tội.



Lúc về được Triều đình cho phục chức, sau đó được vào làm việc ở Viện Hàn lâm.

Tuy chức nhỏ nhưng nhờ văn tài, nên thời gian này họ Cao được giới quyền quý ở Kinh đô trọng nể. Ông kết thân với những văn nhân nổi tiếng như Nguyễn Hàm Ninh, Đinh Nhật Thận, Miên Thẩm,... nhưng lại thường làm cho nhiều người bất bình vì thái độ cao ngạo.

Một số hành vi của họ Cao đối với vua quan lúc bấy giờ đã trở nên những giai thoại đi vào văn học sử.

Nghe nói rằng vua Tự Đức là một người hiếu học và hay chữ, có câu đối sau đây treo ở điện Cần Chánh :

子能承父業
臣可報君恩

Tử năng thừa phụ nghiệp,
Thần khả báo quân ân.

Vua lấy làm đắc ý mà các quan cũng chịu là hay. Riêng Cao Bá Quát thì tỏ vẻ không phục, than rằng :

好兮好兮父子君臣顚倒

Hảo hề! hảo hề! phụ tử quân thần điên đảo.

Nhà vua nghe nói, mới cho gọi vào phán hỏi duyên do.

Cao Bá Quát liền tâu: “chữ tử đứng trên chữ phụ, ấy là con trên cha; chữ thần đứng trên chữ quân,

ấy là tôi trên vua, xin thưa điên đảo là thế” .
Vua bảo chữa, liền đọc :


君恩臣可報
父業子能承

Quân ân thần khả báo,
Phụ nghiệp tử năng thừa.

Nghe câu chữa lại, nhà vua chắc không vui nhưng cũng phải nhận chữa như thế thì cương thường thuận lẽ mà ý tứ cũng già giặn hơn.(3)

Một lần khác, văn thần Phan Văn Nhã vâng lệnh vua Tự Đức thảo một bài văn Ngọc điệp.

Khi thảo xong, họ Phan đặt một tiệc rượu mời các đồng liêu đến dự, nhân đó để khoe tài.

Không ngờ trong số các quan có người lại chê bài văn có mấy chỗ hỏng. Lời qua tiếng lại, gây nên chuyện đánh nhau.

Sau vua nghe kể lại, biết hôm đó có mặt họ Cao, mới gọi vào hỏi rõ đầu đuôi. Cao Bá Quát liền tâu :


不知意何两相鬬口彼曰狗此曰狗彼此 �狗以至鬬毆臣恐吠臣臣恍臣走

Phiên âm:

“Bất tri ý hà, lưỡng tương đấu khẩu. Bỉ viết cẩu, thử viết cẩu, bỉ thử giai cẩu, dĩ chí đấu ẩu. Thần khủng phệ thần, thần hoảng thần tẩu”

Dịch nghĩa:

(Chẳng biết ý sao, hai bên cãi nhau, bên này bảo chó, bên kia bảo chó, hai bên đều chó, rồi đến đánh nhau. Thần sợ cắn thần, thần hoảng thần chạy).

Tuy Lý, Tùng Thiện không những nổi tiếng là thi bá, thi ông ở đất Thần Kinh, mà còn được văn nhân nước ngoài kính phục,

thế nhưng Mạc Vân Thi Xã của hai ngài vẫn không tránh khỏi lời lẽ chê bai của họ Cao bằng hai câu thơ diễu cợt :


Ngán cho cái mũi vô duyên,
Câu thơ Thi Xã, con thuyền Nghệ An

朱丐𪖫無緣
句書詩社𡥵船乂安


Với họ Cao, thi xã Mạc Vân cũng giống như con thuyền Nghệ An chở nước mắm nên nặng mùi khó ngửí!

Còn khá nhiều giai thoại đại để như thế.

Ở đâu văn tài họ Cao cũng được người ta phục, nhưng thái độ cao kỳ, ngạo mạn của con người tài tử đó lại làm cho người ta ghét.

Năm 1854, Cao Bá Quát được lệnh rời Kinh đi nhậm chức Giáo thụ phủ Quốc Oai tỉnh Sơn Tây.

Hoàn cảnh sinh hoạt của một viên Giáo thụ tỉnh lẻ ở vùng quê xa Kinh đô:

“Nhà trống ba gian, một thầy một cô một chó cái; Học trò dăm đứa, nửa người nửa ngợm nửa đười ươi”

茄𥨨𠀧間沒偨沒姑沒㹥丐
學徒𠄼仃𡛤𠊛𡛤𤼔𡛤𤠂𤠆

dễ làm cho họ Cao vừa chán nản, vừa phẫn uất. Nhiệm chức được mấy tháng, ông cáo bệnh từ chức về quê ở Bắc Ninh ... rồi biệt tích.

Trở lại từ những năm ba mươi, bốn mươi, thế kỷ XIX, phong trào “phiến loạn” ở Bắc kỳ nhiều lần bùng nổ, tuy đã dẹp yên nhưng mồi phản loạn vẫn còn âm ỉ.

Đến năm 1854, vùng Sơn Tây lại hạn nặng, thêm nạn châu chấu, nên mùa màng mất sạch, đời sống dân chúng hết sức khó khăn.

Bấy giờ một nhóm hào mục do Nguyễn Kim Thanh cầm đầu, mượn tiếng phù Lê, tôn Lê Duy Cự làm minh chủ.

Cao Bá Quát liên lạc với nhóm này và tự xưng làm Quốc sư, kêu gọi dân chúng khởi nghĩa. Trên lá cờ của nghĩa quân ở Mỹ Lương có ghi hai dòng chữ lớn :


平陽蒲阪無堯舜
牧野鳴條有武湯

Phiên âm:

“Bình-dương Bồ-bản vô Nghiêu Thuấn,
Mục-dã Minh-điều hữu Võ Thang”(4)

Dịch nghĩa:

(Ở Bình-dương Bồ-bản không có vua tốt như vua Nghiêu vua Thuấn, thì ở Mục-dã Minh-điều phải có người chống lại như vua Võ vua Thang)

Theo Đại Nam Liệt Truyện (Q. 46, mục Nghịch thần) thì nghĩa quân đã đánh phá được một số nơi, nhưng cuối cùng bị quân triều phá tan, họ Cao thua chết tại trận.

Việc đến tai vua, vua truyền đem đầu Bá Quát bêu khắp các tỉnh Bắc kỳ, rồi giã nhỏ ném xuống sông.

Có thuyết bảo họ Cao bị bắt, đưa về giam ở Sơn Tây, rồi giải về nguyên quán Phú Thị để chịu án tử hình.

Dầu sao, chung cục cũng thật thương tâm cho một kiếp tài hoa!

Thi văn Cao Bá Quát cho đến nay góp nhặt lại trên cả nghìn bài, gồm có hai phần: Hán và Nôm.

Phần văn Nôm ít, gồm có một bài phú Tài tử đa cùng, mươi bài hát nói, một số bài thơ ngắn và một số câu đối. Phần chữ Hán nhiều hơn, được tập hợp trong các tập có tên:

Cao Bá Quát Thi Tập (A.210),
Cao Chu Thần Di Cảo (VHv.1431/1-2), Cao Chu Thần Thi Tập (A.299),
Mẫn Hiên Thi Tập (VHv.48).


Các thi văn tập trên đây hiện có tại Thư viện Viện Hán Nôm Hà Nội, tại các Thư viện Hiệp hội châu Á và Học viện Viễn đông Bác cổ Pháp.

Bài văn của họ Cao chúng tôi giới thiệu dưới đây không có trong các thi văn tập nói trên.

olbk
16-03-2011, 21:27
Cám ơn các bạn nha :)

lennel
17-03-2011, 14:39
NHỮNG CÂU ĐỐI ĐẦY KHÍ PHÁCH CỦA VUA DUY TÂN





Những câu đối thể hiện lòng yêu nước và khí phách của vua Duy Tân (từng thất bại trong cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp và bị đày đi biệt xứ) đến nay vẫn còn được truyền tụng qua chuyện kể của dân gian.




Hoàng tử Vĩnh San con vua Thành Thái lên ngôi vua (Duy Tân) lúc mới tám tuổi.

Vốn là một cậu bé thông minh hiếm thấy, lại mang trong mình dòng máu bất khuất của vua cha, trong chín năm ngồi ngai vàng, vua Duy Tân luôn luôn có những biểu hiện khiến toàn quyền Ðông Dương và khâm sứ người Pháp lo ngại.

Càng lớn lên, vua Duy Tân càng bộc lộ thái độ bất hợp tác với nhà nước "bảo hộ".

Năm vua mười bảy tuổi, ngài đã đứng lên lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp.

Do bị phản bội, cuộc khởi nghĩa không thành. Vua bị đi đày biệt xứ. Nhưng trình độ học vấn,

lòng yêu nước và khí phách của ngài, còn truyền tụng mãi, qua những câu chuyện kể dân gian.




Câu đối làm bẽ mặt cố đạo Tây





Một viên cố đạo già người Pháp, rất thông thạo tiếng Việt và tiếng Hán, Nôm.

Trong một lần ngự yến ở tòa khâm cùng vua Duy Tân, viên cố đạo muốn thử tài thông minh của nhà vua trẻ mới mười hai tuổi này,

đồng thời cũng để dò phản ứng của ngài trước việc người Pháp đặt quyền đô hộ và chia Việt Nam làm ba kỳ, bèn ra vế đối, mời nhà vua đối lại:

Rút ruột ông vua, tam phân thiên hạ

Chữ Hán "vương" là "vua", nếu bỏ đi nét dọc (rút ruột...) thì thành chữ "tam" (ba). Vế ra của viên cố đạo quả là hiểm hóc bởi cách chiết tự tài tình và ẩn ý rất xược.

Sau một hồi ngẫm nghĩ, vua Duy Tân thong thả đối lại :

Chặt đầu thằng Tây, tứ hải giai huynh!

Cũng bằng cách chiết tự, vua cắt bỏ phần đầu chữ "tây" (chặt đầu tây) thì thành chữ "tứ" (bốn),
tạo nên câu trả lời rất đỗi thông minh và vô cùng khí phách, đồng thời còn nêu bật quyết tâm bảo toàn sự thống nhất nước nhà, chống lại thủ đoạn "chia để trị" của giặc.
Câu đối lại của vua trẻ làm cả khâm sứ và viên cố đạo đều đau điếng mà đành cười gượng.



Câu đối giãi bày tâm sự


Một lần, vua Duy Tân và thượng thư Nguyễn Hữu Bài cùng ngự thuyền câu cá ở bờ biển Cửa Tùng.

Sóng nước làm cho thuyền ngự chao đảo không yên. Nhân khi lưỡi câu bị mắc, phải lần mò mãi mới gỡ ra được, vua liên hệ với tình cảnh hiện tại của mình, đau xót tự nói với mình:

"Ta tuy ngồi trên ngai vàng trông coi việc nước, mà nào có ngăn được ngoại bang đô hộ nước nhà?
Nhưng đã lỡ nhận trọng trách rồi, thì cũng phải lần gỡ, tìm cách cứu dân cứu nước!...".

Rồi vua cấu tứ những ý nghĩ trên thành một vế đối, vừa để giãi bày tâm sự, vừa để thử lòng quan thượng thư:

Ngồi trên nước, không ngăn được nước. Buông câu ra, đã lỡ phải lần!

Nhưng quan thượng thư vốn là kẻ an phận, hèn yếu, đã trả lời vua:

Sống ở đời, mà ngán cho đời. Nhắm mắt lại, đến đâu hay đến đó.

Vua Duy Tân thêm hiểu, với bọn quần thần như Nguyễn Hữu Bài này, nước nhà không thể trông cậy gì được...!




Câu đối viếng Khải Ðịnh




Năm 1925, được tin vua bù nhìn Khải Ðịnh qua đời, từ nơi bị đày (đảo Rê-uy-ni-ông), vua Duy Tân đã gửi về triều đình Huế, phúng một bức trướng, có câu đối sau:

Ông vội bỏ đi đâu? Bỏ bạc, bỏ tiền, bỏ vợ, bỏ con; bỏ hát bội, thày tu - bỏ hết trần duyên trong một lúc.

Tôi nay còn lại đó! Còn trời, còn đất, còn non, còn nước; còn anh hùng, hào kiệt - còn nhiều vận hội giữa năm châu.

Chỉ bằng hai vế đối, mỗi vế hai mươi nhăm từ, tác giả đã nêu bật không chỉ hai tính cách,
hai phẩm chất của hai ông vua cùng thời; mà còn bộc lộ đầy đủ khí phách quật cường của một con người giàu lòng yêu nước,
tuy bị tù đày xa Tổ quốc... vẫn tuyệt đối tin tưởng ở tương lai đất nước và dân tộc, giữa "vận hội năm châu".



Câu đối của trung thần cứu vua



Sau khi vua Duy Tân khởi nghĩa bị bại lộ, thực dân Pháp định khép vua vào tội "phản bội mẫu quốc".

Khâm sứ Pháp dọa sẽ tử hình đức vua và lệnh cho thượng thư bộ học làm án.

Ðược tin, các ông Thái Phiên, Trần Cao Vân... đang bị Pháp giam giữ, bèn bí mật dùng giấy vấn thuốc lá, viết gửi viên thượng thư nọ đôi câu đối

, ngầm nói với ông này, nếu phải xử tội chết, thì hãy xử họ, là những thần dân đang bị biệt giam, nhưng phải lo bảo toàn tính mệnh cho vua.

Câu đối đó như sau:

Trung là ai? Cân đai võng lọng là ai? Thà để cô thần tử biệt

Trời còn đó! Xã tắc sơn hà còn đó! Mến(*) cho thánh thượng sinh toàn.

Hiểu ý, viên thượng thư đã làm án đổ hết tội cho các nhà lãnh đạo Quang Phục Hội.
Các ông Thái Phiên, Trần Cao Vân đều bị chém đầu. Còn vua Duy Tân đi đày biệt xứ.

TRẦN HUY THUẬN

honnguyen276
22-03-2011, 12:35
Truyện ngắn: Bà cụ bán rau

Ăn rau không chú ơi? Một giọng khàn khàn, run run làm gã giật mình. Trước mắt gã, một bà cụ già yếu, lưng còng cố ngước lên nhìn gã, bên cạnh chỉ có vài mớ rau muống xấu mà có lẽ có cho cũng không ai thèm lấy.

- Ăn hộ tôi mớ rau...!

Giọng bà cụ vẫn khẩn khoản. Bà cụ nhìn gã với ánh mắt gần như mang ơn. Gã cụp mắt, rồi liếc xuống nhìn lại bộ đồ công sở đang khoác trên người, vừa mới buổi sáng sớm. Bần thần một lát rồi gã chợt quay đi, đáp nhanh: Dạ cháu không mua bà ạ! Gã nhấn ga phóng nhanh như kẻ chạy trốn. Gã chợt cảm thấy có lỗi, nhưng rồi cái cảm giác ấy gã quên rất nhanh. "Mình thương người thì ai thương mình" - cái suy nghĩ ích kỷ ấy lại nhen lên trong đầu gã.

- Ăn hộ tôi mớ rau cô ơi! Tiếng bà cụ yếu ớt. - Rau thế này mà bán cho người ăn à? Bà mang về mà cho lợn!

Tiếng chan chát của một cô gái đáp lại lời bà cụ. Gã ngoái lại, một cô gái cũng tầm tuổi gã. Cau mày đợi cô gái đi khuất, gã đi đến nói với bà:

- Rau này bà bán bao nhiêu? - Hai nghìn một mớ - Bà cụ mừng rỡ.

Gã rút tờ mười nghìn đưa cho bà cụ.

- Sao chú mua nhiều thế? - Con mua cho cả bạn con. Bây giờ con phải đi làm, bà cho con gửi đến chiều, con về qua con lấy!

Rồi gã cũng nhấn ga lao vút đi như sợ sệt ai nhìn thấy hành động vừa rồi của gã. Nhưng lần này có khác, gã cảm thấy vui vui.

Chiều hôm ấy mưa to, mưa xối xả. Gã đứng trong phòng làm việc ngắm nhìn những hạt mưa lăn qua ô cửa kính và theo đuổi những suy nghĩ mông lung. Gã thích ngắm mưa, gã thích ngắm những tia chớp xé ngang trời, gã thích thả trí tưởng tượng theo những hình thù kỳ quái ấy. Chợt gã nhìn xuống hàng cây đang oằn mình trong gió, gã nghĩ đến những phận người, gã nghĩ đến bà cụ...

-Nghĩ thế đủ rồi đấy!

Giọng người trưởng phòng làm gián đoạn dòng suy tưởng của gã. Gã ngồi xuống, dán mắt vào màn hình máy tính, gã bắt đầu di chuột và quên hẳn bà cụ.

Mấy tuần liền gã không thấy bà cụ, gã cũng không để ý lắm. Gã đang bận với những bản thiết kế chưa hoàn thiện, gã đang cuống cuồng lo công trình của gã chậm tiến độ. Gã quên hẳn bà cụ.

Chiều chủ nhật gã xách xe máy chạy loanh quanh, gã vẫn thường làm như vậy và có lẽ gã cũng thích thế.

Gã ghé qua quán trà đá ven đường, nơi có mấy bà rỗi việc đang buôn chuyện.

Chưa kịp châm điếu thuốc, gã chợt giật mình bởi giọng oang oang của một bà béo: - Bà bán rau chết rồi. - Bà cụ hay đi qua đây hả chị? - chị bán nước khẽ hỏi. - Tội nghiệp bà cụ! một giọng người đàn bà khác. - Cách đây mấy tuần bà cụ giở chứng cứ ngồi dưới mưa bên mấy mớ rau. Có người thấy thương hỏi mua giúp nhưng nhất quyết không bán, rồi nghe đâu bà cụ bị cảm lạnh.

Nghe đến đây mắt gã chợt nhòa đi, điếu thuốc chợt rơi khỏi môi.

Bên tai gã vẫn ù ù giọng người đàn bà béo kia. Gã không ngờ...!

lennel
29-03-2011, 22:12
Mình phải làm sao đây?


“Ngày xưa có một gia đình nghèo sát đất. Nhà chỉ mỗi một cái chõng tre, nằm chung cho cả hai vợ chồng và đứa con trai lên sáu.
Đứa con bao giờ cũng nằm giữa.

Tuy nghèo vật chất nhưng tình cảm yêu thương gia đình rất đầm ấm. Vào một đêm hè gió mát, đang trong giấc ngủ vùi, chị vợ nghe có tiếng chân người chạy rầm rầm trên mái nhà tranh xiêu vẹo.

Chị căng tai nghe ngóng. Đúng là những tiếng chân đang chạy lung tung trên mái nhà. Chị quyết định lén ra ngoài sân để nhìn xem là ai.

Vừa nhìn lên mái nhà, chị loá mắt vì màu vàng phát ra từ thân thể của một lão già. Lão ta quần xe điếu bó háng, đang chơi trò thả diều ngay trên mái nhà của chị.

Không kìm được sự kỳ lạ vừa thấy, chị buột miệng kêu lên: “Ối trời ơi! Người lão kia bằng vàng”.


http://a8.vietbao.vn/images/vn888/hot/201007/1735241753-1-2091810023-Love_heart.jpeg

Nghe tiếng nói, lão già ngừng thả diều, nhìn xuống, cũng hốt hoảng kêu lên: “Ôi, ta bị lộ rồi!
Vậy ta cho nhà ngươi một ân huệ, hễ tay nhà ngươi chạm vào vật gì đầu tiên, vật ấy sẽ thành vàng ròng”.

Nói xong, lão già cười gớm ghiếc, thòng răng nanh như quỉ sứ và bay vút lên không trung.
Chị vợ hãi hùng thét lên, xoay người ôm chầm đứa con trai nằm cạnh. Lúc này chị vợ đã hoàn toàn thức giấc.
Chị dụi mắt. Chị há hốc mồm khi nhìn thấy đứa con trai của mình cũng toàn một màu vàng rực như lão già kia.
Đứa con trai của chị đã hoá vàng, y như lời phán của lão già thả diều. Chị lật đật gọi chồng dậy.

Cả hai vợ chồng đều há hốc mồm, nhìn sững đứa con lúc này đã phát ánh vàng rực cả căn nhà tồi tàn rách nát.


Thế rồi, ngạc nhiên cũng hết. Căng thẳng cũng qua. Thời gian lại trôi. Đói nghèo lại dằng dặc.
Họ quyết định cắt xẻo những vùng trên cơ thể đứa con để bán mà vẫn không làm chết nó.
Họ xẻo từ từ , lạng mông, cắt tai, xẻo môi... đem bán, vì những thứ ấy toàn bằng vàng.
Bán những thứ ấy vẫn không chết được con họ. Bây giờ thì họ đã rất giàu.

Họ xây nhà, họ ăn sang mặc đẹp. Nhưng lòng tham vô đáy cứ thúc đẩy, họ lại chặt đến tay, chân thằng bé...
để bán lấy tiền mà xây lâu đài, sống xa hoa phung phí.


Rồi đến một ngày nọ, lòng tham vô đáy thống trị hoàn toàn, họ moi lồng ngực thằng bé để lấy cả trái tim đem bán, nhưng tay họ đã dính đầy máu me, vì trái tim không hoá vàng.

Trái tim của đứa con vẫn đỏ hỏn, vẫn thoi thóp đập, vẫn không hoá vàng.

Chị vợ hãi hùng hỏi chồng: “Mình phải làm sao đây?”.

Anh chồng cũng hãi hùng hỏi vợ: “Mình phải làm sao đây?”. Cả hai vợ chồng hãi hùng cùng hỏi: “Mình phải làm sao đây?”.


Chuyện cổ tích của bác nông dân hàng xóm đến đấy là hết.

Nhưng câu hỏi trong chuyện cổ tích cứ chờn vờn mãi trong tôi cho đến tận bây giờ.

Và hôm nay, tôi cũng hãi hùng chuyển câu hỏi đến quý bạn đọc: “Mình phải làm sao đây?”.


suutam

acaxomcui
29-03-2011, 23:11
Chuyện lạ không có thật, nhưng lòng tham thì..còn thật hơn thế nửa!!!Người nay, gả con cho người nước ngoài chỉ vì một ít của cải.!???

Osama Binladen
29-03-2011, 23:38
Người nào chả là người bác Cả, cô gái nào chả thích được gả vào chốn giàu sang?

PS: Truyện của Len hay lắm, nhưng dạo này Len đổi tông roài à?

lennel
31-03-2011, 06:32
nhưng dạo này Len đổi tông roài à?






đổi tông là sao len hông hiểu...


.....

còn 1 truyện phim nầy xem xong cũng đầy trăn trở ..


Đường Sơn Đại Địa Chấn



Nội dung:

Năm 1976, trận động đất kinh hoàng đã vùi lấp hai đứa trẻ sinh đôi Phương Đăng và Phương Đạt.

Là một người mẹ cũng giống như bao người mẹ khác, Lí Nguyên Ni vô cùng đau xót khi phải đứng trước sự lựa chọn phải cứu ai trong hai đứa con của mình?


Cuối cùng bà cũng đi đến quyết định cứu lấy cậu con trai Phương Đạt. Lí Nguyên Ni không biết rằng quyết định của bà đã bị cô con gái Phương Đăng nghe thấy.

Mặc dù bị coi như đã chết và bị bỏ lại, cô bé đã sống sót một cách kì diệu.